Winamp Logo
Tạp chí Việt Nam Cover
Tạp chí Việt Nam Profile

Tạp chí Việt Nam

Vietnamese, National/National politics/National assembly, 1 season, 74 episodes, 12 hours, 39 minutes
About
Những vấn đề, sự kiện đang được dư luận quan tâm ở Việt Nam
Episode Artwork

Đồng bằng sông Cửu Long: Nông dân phải thích ứng với ngập mặn ngày càng trầm trọng

Là vựa lúa của Việt Nam, vùng đồng bằng sông Cửu Long đang bị ngập mặn ngày càng trầm trọng và nông dân trong vùng này nay buộc phải thích ứng với tình trạng đó. Tình trạng khô hạn và ngập mặn ở đồng bằng sông Cửu Long lên đến mức mà tỉnh Tiền Giang  vào ngày 06/04/2024 đã phải công bố "tình huống khẩn cấp" trong khu vực huyện Tân Phú Đông.Trước đó, bên lề hội thảo Bảo vệ, phục hồi và phát triển tài nguyên nước tại Hà Nội ngày 15/3, Viện Khoa học Tài nguyên nước, Bộ Tài nguyên và Môi trường, đã công bố một nghiên cứu mới cho biết là bốn ngành lúa, thủy sản, cây ăn quả, hoa màu của đồng bằng sông Cửu Long mỗi năm bị thiệt hại hơn 70.000 tỷ đồng, tương đương với khoảng 3 tỷ euro, do bị xâm nhập mặn. Báo cáo cũng dự đoán là thiệt hại do xâm nhập mặn sẽ tăng dần theo thời gian, với các kịch bản cho những năm 2030, 2040, 2050. Ông Trần Anh Phương, Viện Khoa học Tài nguyên nước, cho biết sự gia tăng của các dự báo tương ứng với kịch bản nước biển dâng, hoạt động phát triển kinh tế, xã hội cũng như khai thác tài nguyên nước thượng nguồn, đặc biệt là phát triển thủy điện và chuyển nước ra ngoài lưu vực.Đồng bằng sông Cửu Long là phần hạ lưu giáp biển của sông Mekong, có địa hình thấp và khá bằng phẳng với 2 vùng trũng lớn là Đồng Tháp Mười và Tứ Giác Long Xuyên. Cùng với 2 dòng chính là sông Tiền và sông Hậu, đồng bằng sông Cửu Long có hệ thống kênh rạch chằng chịt, cho nên dễ bị xâm nhập mặn do thủy triều đưa nước mặn vào sâu trong sông và nội đồng, đặc biệt trong mùa cạn, khi mà lưu lượng dòng chảy từ thượng nguồn sông Mekong xuống thấp. Trả lời RFI Việt ngữ, giáo sư Võ Tòng Xuân, chuyên gia hàng đầu về nông nghiệp Việt Nam, nhắc lại lịch sử hình thành của đồng bằng sông Cửu Long:“Các nhà địa chất xác định tuổi carbon 14 của đồng bằng là được hình thành từ khoảng 10 ngàn năm trước. Khi đồng bằng sông Cửu Long mới hình thành, bờ biển nằm ở ranh giới Cam Bốt bây giờ. Qua những đợt nước biển lùi vài trăm năm rồi nước biển dâng trở lại vài trăm năm, cứ dâng và lùi như vậy, mỗi lần thay đổi mặt nước biển thì để lại vết tích là những dòng cát. Có hàng trăm dòng cát như vậy nằm song song với bờ biển hiện tại. Nói cách khác, đồng bằng sông Cửu Long không có lạ gì với hiện tượng nước biển dâng và lùi. Nhưng bây giờ các nhà khí tượng học dự đoán là những quy luật trước đây như vào thời “Năm Thìn bão lụt” thì bây giờ không còn như vậy nữa. Bây giờ muốn lụt lúc nào thì lụt, muốn hạn lúc nào thì hạn. Bên kia thì đang lụt, nhưng bên đây thì lại đang cháy rừng.”Thiếu nước ngọt trong mùa nắng nóngTrong hơn một tháng qua, miền Nam Việt Nam phải đối mặt với đợt nắng nóng kéo dài bất thường. Các nhà khí tượng học cảnh báo hiện tượng này có thể tiếp tục kéo dài với hậu quả làm trầm trọng thêm tình trạng xâm nhập của nước biển vào nước ngầm hoặc nước mặt. Hiện tượng, vẫn xảy ra hàng năm vào mùa khô, càng gia tăng do tác động của thời tiết nóng bức và mực nước biển dâng cao, cả hai đều chịu áp lực do biến đổi khí hậu. Độ mặn tăng ảnh hưởng đến cây trồng và khả năng tiếp cận nước sinh hoạt của người dân.Trong số 13 tỉnh thành đồng bằng sông Cửu Long, Cà Mau có mức độ thiệt hại lớn nhất, tiếp đến là Bến Tre. Hãng tin Pháp AFP ngày 20/03/2024 đã có bài phóng sự tại Bến Tre, nơi đang bị một đợt nắng nóng kéo dài và xâm nhập mặn đe dọa nền kinh tế địa phương. Nói với AFP, nông dân Nguyễn Hoài Thương than thở: "Thật lãng phí khi bỏ ruộng lúa vì chúng tôi không có nước ngọt. Thay vào đó tôi phải nuôi bò".Tại Bến Tre, các cánh đồng vốn được trồng lúa nay đã bị nứt nẻ do hạn hán, nắng nóng. Do thiếu mưa, gia đình nông dân Nguyễn Hoài Thương phải mua nước sinh hoạt của hàng xóm với giá gần 500.000 đồng (20 euro) vào tháng 2 vừa qua. Ông Nguyễn Hoài Thương giải thích: “Chúng tôi không có nguồn nước ngọt ngầm và nước mặt thì mặn”. Nông dân Phan Thành Trung, người trồng lúa cùng làng với Nguyễn Hoài Thương, cho biết: “Tôi phải giảm vụ từ ba vụ xuống chỉ còn hai vụ một năm. Nước ở vùng tôi quá mặn nên không thể sử dụng được”. Người hàng xóm Nguyễn Văn Hùng thì đã tận dụng đợt nắng nóng để kiếm thêm thu nhập từ nguồn nước ngọt dồi dào dưới lòng đất. Ông cho biết: “Khi có những đợt hạn hán, xâm nhập mặn, tôi bán nước ngọt cho hàng xóm, nhưng nói thật là tôi cũng không vui. Thời tiết bất lợi thực sự ảnh hưởng nặng nề đến chúng tôi.”Đa dạng hóa nông nghiệp để thích ứngGần đây, các tổ chức quốc tế và các chương trình của chính phủ đã khuyến khích đa dạng hóa nông nghiệp nhằm hướng tới khả năng phục hồi kinh tế và khí hậu tốt hơn. Cụ thể là nông dân nên duy trì các đồng lúa trong mùa mưa, khi sông Mekong có thể cung cấp đủ nước ngọt, sau đó chuyển những cánh đồng đó sang nuôi tôm hoặc nuôi tôm vào mùa khô. Giáo sư Võ Tòng Xuân cũng đưa ra khuyến cáo tương tự:“Những vùng nào mà mình biết đã nhiễm mặn thì đừng ngăn mặn và đem nước ngọt về “ngọt hóa” để trồng lúa làm gì, đã có nhiều lúa lắm rồi. Bây giờ mình làm theo nghị quyết của chính phủ năm 2017, nghị quyết mà tôi đã hết sức đấu tranh để nhà nước chấp nhận thả ra, không còn ép buộc trồng lúa mọi lúc, mọi nơi. Sau nghị quyết 2017, nông dân được hướng dẫn là ở vùng ven biển không trồng lúa trong mùa nắng, trong mùa nước mặn nữa, mà chỉ trồng lúa trong mùa mưa thôi. Sau khi hết mưa rồi, thu hoạch lúa xong thì mình cho nước mặn vào rồi nông dân bắt đầu nuôi tôm, cua biển, hoặc cá kèo. Khi mùa mưa tới nữa thì mình lại trồng lúa.Mình cũng khuyến cáo bà con nông dân rất kỹ: Khi vừa thu hoạch lúa xong, đất ruộng còn ướt, đưa nước mặn vào thì nước mặn chỉ nằm bên trên thôi. Tức là khi đưa nước mặn vào thì đất ruộng phải còn ướt, còn sình lầy, như vậy đất sẽ không bị nhiễm mặn, mùa tới khi mưa trở lại thì có thể trồng lúa như bình thường.Ở vùng giữa ( đồng bằng sông Cửu Long ), bây giờ bà con được khuyến cáo là chỉ trồng một vụ lúa thôi, còn lại thì trồng những loại cây trồng cạn, như cây bắp, cây sorgho, cây mía...Có vùng thì họ lên liếp hết, trồng cây ăn quả ở trên, còn ở dưới mương thì nuôi cá hay dùng giống như hồ chứa nước trong mùa mưa để tưới cho cây trồng trong mùa nắng. Còn nguyên một vùng nằm dọc theo biên giới Cam Bốt, nơi mà sông Cửu Long bắt đầu đến Việt Nam, thì mình lấy nước ở đoạn sông đó để dẫn vào hệ thống thủy lợi dọc theo vùng phía trên Đồng Tháp Mười để phân bổ nước ngọt của sông Hậu Giang cho vùng Tứ Giác Long Xuyên. Diện tích tổng cộng của vùng này là khoảng 1 triệu 500 ngàn hecta, là vùng luôn luôn có nước ngọt, nước mặn không bao giờ lên đến đó. Đây là vùng mà tôi gọi là “sống chung với biến đổi khí hậu”, tức là không bị ảnh hưởng”.Mô hình "không bền vững"?Trong một bài viết trên trang mạng The Diplomat của Nhật Bản ngày 09/02/2024, bà Quinn Goranson, một nhà nghiên cứu về khí hậu và chuyển đổi năng lượng ở Canada, đã cảnh báo về những hậu quả của mô hình nói trên, vì theo bà, người ta ít  chú ý đến các tác động tiêu cực đến môi trường của quá trình chuyển đổi hàng loạt sang nuôi tôm, một hành động mà thật ra theo bà là "không bền vững". Giáo sư Võ Tòng Xuân trấn an về cảnh báo nói trên:“ Đất ruộng để nuôi tôm không bao giờ sử dụng hóa chất, cho nên loại múa ST25 là loại gạo ngon nhất Việt Nam được trồng ở những ruộng tôm này là tốt nhất, vừa đạt tiêu chuẩn quốc tế, vừa an toàn cho người dân ăn. Đó là tại vì người ta biết là xài hóa chất cho lúa thì sẽ ảnh hưởng đến tôm nuôi. Còn khi nuôi tôm thì bây giờ người ta cũng sản xuất tôm giống rất là kỹ. Khi nuôi trong ruộng nếu tôm bệnh thì người ta dùng các loại thuốc vi sinh, tức là probiotique, chứ không phải là antibiotique.”Tuy nhiên, trong bài viết nói trên, nhà nghiên cứu Quinn Goranson lo ngại một cái vòng luẩn quẩn của tác động tiêu cực từ mô hình đó:“Nông dân theo mô hình trồng lúa/nuôi tôm đã bắt đầu nhận thấy tác động lâu dài của các ao nuôi tôm đối với chất lượng đất, vì biến đổi khí hậu hạn chế khả năng xả muối của sông Mê Kông, khiến đất kém màu mỡ. Cuối cùng, khi tình trạng xâm nhập mặn trở nên trầm trọng hơn do mực nước biển dâng cao và sụt lún mặt đất liên tục, độ mặn sẽ vượt quá mức có thể chấp nhận được ngay cả đối với những loài tôm này. Cho nên người ta đã khuyến khích việc khai thác nước ngầm để làm loãng độ mặn của ao nuôi tôm. Sự suy giảm tầng chứa nước đã góp phần gây ra tình trạng sụt lún đất ở đồng bằng sông Cửu Long trong nhiều thập kỷ, đẩy nhanh tốc độ sụt lún chưa từng thấy của đồng bằng ở mức 18 cm trong 25 năm qua.”Tình trạng sụt lún đất cũng chính là một trong những nguyên nhân ban đầu dẫn đến xâm nhập mặn. Cho nên nhà nghiên cứu Quinn Goranson đề nghị cần có những nghiên cứu sâu hơn để hiểu rõ hơn về tác động lên hệ sinh thái đồng bằng sông Cửu Long.
4/8/20249 minutes, 36 seconds
Episode Artwork

Việt Nam - Úc : Mối quan hệ “thực chất” dựa trên “niềm tin chính trị”

Việt Nam và Úc nâng cấp quan hệ lên Đối tác Chiến lược Toàn diện đánh dấu thành công mới trong chiến lược “ngoại giao cây tre” của Hà Nội. Trong thông cáo chung ngày 07/03/2024, hai nước “chia sẻ tầm nhìn chung về một khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương”, “không bị ép buộc, nơi độc lập, chủ quyền và luật pháp quốc tế được tôn trọng”. Dù không nêu đích danh Úc và Việt Nam nhưng Trung Quốc đã cảnh báo về nguy cơ “ưu tiên đối đầu, lập liên kết độc quyền”. Nếu được ký trong năm 2023, đúng kỷ niệm 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao song phương, “niềm vui sẽ được trọn vẹn”, theo nhận định của tiến sĩ Nguyễn Hồng Hải, giảng viên cao cấp về chính trị học và quan hệ quốc tế tại Đại học Vin, Hà Nội. Tuy nhiên, lịch trình đã được dãn ra. Phải chăng để tránh chọc giận Bắc Kinh ? Tháng 09/2023, Việt Nam đón tổng thống Joe Biden và nâng cấp quan hệ với Mỹ lên ngang tầm quan trọng với Trung Quốc vì “đối với Mỹ, thời điểm đó không thể trì hoãn hơn”.Nhưng lùi sang năm 2024 không có nghĩa là làm giảm ý nghĩa chiến lược và lòng tin của hai bên, đặc biệt là Úc là một trong những nước phương Tây đầu tiên thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam, và duy trì “mối quan hệ thân hữu”, theo ca ngợi của thủ tướng Scott Morrison trong chuyến thăm chính thức Việt Nam tháng 08/2019.Trên đây là một trong số những nhận định khi trả lời phỏng vấn RFI Tiếng Việt của tiến sĩ Nguyễn Hồng Hải, giảng viên cao cấp thỉnh giảng về chính trị học tại Đại học Công nghệ Queensland, phó giáo sư thỉnh giảng về chính trị và quan hệ quốc tế tại Đại học Sunshine Coast ở Úc.RFI : Năm 2023, thủ tướng Anthony Albanese, tiếp theo là ngoại trưởng Penny Wong thăm Việt Nam. Từ ngày 04-08/03/2024, thủ tướng Việt Nam Phạm Minh Chính dự thượng đỉnh Úc-ASEAN, sau đó thăm chính thức Úc. Chuyến công du của ông Chính có ý nghĩa như thế nào đối với quan hệ giữa hai nước ? Tiến sĩ Nguyễn Hồng Hải : Tôi cho rằng cả hai nước đều thực sự muốn nâng cấp quan hệ bởi vì cả hai nước đều nhìn thấy được vai trò, vị trí chiến lược của nhau, tầm quan trọng của mỗi nước đối với vấn đề phát triển và an ninh của nhau. Ngay từ khi hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao cách đây 50 năm, phía Úc đã nhìn thấy vị trí, vai trò chiến lược của Việt Nam trong toàn bộ khu vực Đông Nam Á. Chính vì thế, ngay cả khi chiến tranh thời đó chưa kết thúc, Úc cũng sẵn sàng tiến tới thiết lập quan hệ ngoại giao với một nước vốn là cựu thù, với một nước vốn còn chiến tranh với cả một đồng minh của họ, đó chính là Mỹ vào thời điểm đó.Ngược lại, Việt Nam cũng nhìn nhận Úc khác với cả những nước phương Tây khác. Mặc dù Úc cũng đưa quân tham chiến, giống như một số đồng minh khác của Mỹ trong chiến tranh Việt Nam, nhưng cách tiếp cận cũng khá độc lập, khá tiến bộ và khá thân thiện với Việt Nam. Cho nên việc nâng cấp quan hệ lên thành Đối tác Chiến lược Toàn diện, tức là mức quan hệ ngoại giao cao nhất của Việt Nam đối với một đối tác nước ngoài, là điều được cả hai bên rất mong đợi. Tôi chỉ tiếc rằng việc này diễn ra hơi trễ một chút, lẽ ra các bên đều mong đợi nâng cấp từ năm ngoái (2023). Đọc thêm : Việt Nam và Úc tố cáo Trung Quốc quân sự hóa Biển ĐôngViệc nâng cấp quan hệ như vậy sẽ tạo điều kiện cho hai nước thực hiện những bước đi mang tính chiến lược hơn, kể cả từ góc độ kinh tế hay từ góc độ hợp tác quốc phòng-an ninh, cũng như một số lĩnh vực mới nổi khác như chuyển đổi số, kinh tế tuần hoàn, đổi mới-sáng tạo… Đặc biệt là trong việc chống biến đổi khí hậu, cả Úc và Việt Nam đều đặt mục tiêu là đến năm 2050 giảm lượng phát thải về 0. Cả hai nước đều đặt mục tiêu đầy tham vọng như vậy, cho nên thiết lập mối quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện sẽ tạo điều kiện cho cả hai nước hỗ trợ cho nhau được tốt hơn.Đặc biệt như chúng ta thấy thủ tướng Phạm Minh Chính đã tổng kết lại việc nâng cấp quan hệ từ Đối tác Chiến lược lên Đối tác Chiến lược Toàn diện ở 6 “hơn” : tin cậy hơn về mặt chính trị, hợp tác sâu sắc hơn, hợp tác mạnh mẽ hơn, hợp tác thực chất hơn và gắn kết hơn. Tất cả những cái đó cho thấy sẽ đem lại lợi ích cho cả hai bên.Cho tới nay, mặc dù Việt Nam đã thiết lập Đối tác Chiến lược Toàn diện với cả 7 nước, bao gồm cả Úc, nhưng qua nghiên cứu, theo dõi của tôi thì tôi cho rằng mối quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện Việt Nam và Úc sẽ thực chất và toàn diện đúng với nghĩa so với một số mối quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện khác của Việt Nam.RFI : Việt Nam và Úc đều mong đợi nâng cấp từ năm 2023, nhân kỉ niệm 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao. Vậy mối quan hệ song phương được phát triển như thế nào trong suốt nửa thế kỷ qua ?TS Nguyễn Hồng Hải : Như tôi vừa nói, khi chiến tranh Việt Nam còn chưa kết thúc, Úc đã mạnh mẽ và sẵn sàng, dũng cảm - tôi hay dùng là “quyết định một cách dũng cảm” của các nhà chính trị, các nhà ngoại giao của cả hai bên - phải thừa nhận như vậy - tiến tới thiết lập quan hệ ngoại giao vào ngày 26/02/1973.Trong suốt 50 năm, từ cựu thù, theo từng bước, hai nước tiến tới mối quan hệ thực sự tin cậy, chiến lược : từ cựu thù chuyển sang bạn bè, đối tác, đối tác toàn diện, đối tác chiến lược và bây giờ là đối tác chiến lược toàn diện. Không dễ dàng thấy được một mối quan hệ nào lại phát triển nhanh như vậy, và tôi nghĩ rằng không chỉ có ý nghĩa song phương mà còn ảnh hưởng đến cả khu vực. Mối quan hệ đó phát triển theo toàn bộ chiều rộng và chiều sâu, từ kinh tế đến giáo dục, quốc phòng, an ninh, thương mại và đầu tư. Tất cả những mục tiêu mà hai nước đặt ra trong từng giai đoạn của sự phát triển quan hệ ngoại giao đều đạt được cả.Ví dụ trước khi hai nước thiết lập mối quan hệ đối tác chiến lược, hợp tác kinh tế của hai nước cũng đã phát triển nhưng chưa phải là những đối tác hàng đầu với nhau. Tôi nhớ là năm 2017, Việt Nam là đối tác thương mại đứng thứ 15 của Úc. Còn với Úc, Việt Nam là đối tác thương mại đứng thứ 12 hoặc 13. Nhưng khi thiết lập quan hệ đối tác chiến lược năm 2018, cả hai nước đặt mục tiêu sớm trở thành 1 trong 10 đối tác hàng đầu của nhau. Thậm chí là một năm sau đó, Úc đã trở thành đối tác lớn thứ 10 của Việt Nam. Còn Việt Nam đương nhiên chậm hơn một chút. Đến năm 2023, lần đầu tiên hai nước đã trở thành 1 trong 10 đối tác thương mại lớn nhất của nhau : Việt Nam là đối tác lớn thứ 10 của Úc, Úc là đối tác lớn thứ 7 của Việt Nam. Đọc thêm : Những kỳ vọng về quan hệ "Đối tác chiến lược toàn diện" giữa Việt Nam và ÚcHơn nữa, hai nước đã thiết lập những cơ chế hợp tác ở tất cả các lĩnh vực, kể cả trong lĩnh vực ngoại giao, quốc phòng, an ninh, chính trị. Ví dụ hai nước đã thiết lập cơ chế hội nghị bộ trưởng Ngoại Giao thường niên từ năm 2018, hội nghị bộ trưởng Quốc Phòng thường niên, hội nghị đối thoại chiến lược quốc phòng thường niên cấp thứ trưởng. Vừa qua, khi nâng cấp quan hệ lên thành Đối tác Chiến lược Toàn diện, lần đầu tiên hai nước cũng đã tổ chức hội nghị bộ trưởng Thương Mại thường niên lần thứ nhất để thúc đẩy phát triển kinh tế, tăng cường hợp tác kinh tế và đầu tư.Nhìn vào đối ngoại của Việt Nam với các nước phương Tây, khó có một mối quan hệ đối tác nào mà thiết lập các cơ chế toàn diện đến như vậy và có sự tin cậy cao đến như vậy. Ở đây tôi muốn nhấn mạnh đến cụm từ “tin cậy thực sự” : Hai chế độ chính trị khác nhau, hai hệ thống chính trị khác nhau, lại vốn là cựu thù của nhau nhưng hai nước đã vượt qua tất cả những khó khăn của quá khứ, tất cả rào cản kể cả về mặt ý thức hệ để tiến tới mối quan hệ chặt chẽ, cao nhất như vậy. Tôi nghĩ là phải nói đến lòng dũng cảm, lòng tin cậy một cách thực sự đối với nhau. Tôi vẫn luôn nói là ở Việt Nam khó tìm được một đối tác phương Tây nào thân thiện và tốt như là Úc với Việt Nam.RFI :Trong ngày khai mạc thượng đỉnh ASEAN-Úc, ngoại trưởng Penny Wong thông báo tài trợ 64 triệu đô la Úc cho vấn đề an ninh hàng hải ở Biển Đông, cũng như sông Mêkông. Dù không nêu chi tiết nhưng bà ca ngợi nỗ lực “xác định lãnh hải” của bốn nước Việt Nam, Philippines, Malaysia, Indonesia. Vậy Úc có thể hỗ trợ Việt Nam như thế nào trong vấn đề an ninh hàng hải, bảo vệ chủ quyền ở Biển Đông ? TS Nguyễn Hồng Hải : Khoản tài trợ này dành cho chương trình “Sáng kiến đối tác hàng hải Đông Nam Á của Úc” (Australia’s Southest Asia Maritime Partnerships Initiatives). Mục tiêu là nhằm tăng cường sự hỗ trợ của Úc trong việc nâng cao năng lực hàng hải và tăng cường việc bảo vệ hòa bình, ổn định trong khu vực. Chúng ta hiểu rằng khoản tài trợ này không dành riêng cho một đối tác cụ thể nào, tức là các nước trong khu vực đó đều có thể được thụ hưởng và tham gia vào sáng kiến đó. Đương nhiên Việt Nam nằm trong Đông Nam Á, bây giờ có thể coi là một trong những thành viên chủ chốt trong ASEAN, cũng sẽ được hưởng lợi từ sáng kiến này.Chúng ta thấy là còn thiếu thông tin để xác định ưu tiên cụ thể của việc hỗ trợ của Úc đối với sáng kiến này. Ví dụ có thể diễn giải rằng Úc sẽ hỗ trợ việc nâng cao năng lực chấp pháp biển có được không ? Hoặc là hỗ trợ các nước trong việc thăm dò khai thác tài nguyên biển có được không ? Tuy nhiên, bộ trưởng Ngoại Giao Penny Wong thông báo sáng kiến này trong bối cảnh, theo phát biểu của bà, là Úc đang hợp tác với ASEAN để nâng cao khả năng đối kháng. Tôi dùng cụm từ “đối kháng”, ở đây rõ ràng là đối kháng hành động cưỡng ép để đảm bảo các tuyến hàng hải phục vụ lợi ích chung và luôn rộng mở, đi lại dễ dàng.Đồng thời, theo bà, sự hợp tác này sẽ góp phần vào an ninh, thịnh vượng và quản lý hoạt động hàng hải trong khu vực. Đặt trong bối cảnh như thế, rõ ràng là sáng kiến này của Úc sẽ tập trung hỗ trợ cả về vật chất và đào tạo nhằm nâng cao năng lực chấp pháp trên biển, xây dựng và phát triển hệ thống thông tin, chia sẻ thông tin để quản lý hoạt động hàng hải và ứng phó với những thách thức trên biển. Đọc thêm : Hợp tác an ninh hàng hải giữa Úc với Việt Nam sẽ “không phô trương” như với PhilippinesChúng ta biết rằng là Việt Nam và Úc lâu nay cũng có sự hợp tác trong lĩnh vực quốc phòng và an ninh, đặc biệt là hai bên đã có những cơ chế hợp tác ổn định. Nhưng sự hợp tác hàng hải cụ thể là nâng cao năng lực chấp pháp biển thì giữa hai bên chưa có. Nếu đọc tuyên bố chung, chúng ta cũng thấy rằng trong đó nhấn mạnh đến việc tăng cường hợp tác an ninh hàng hải - đây cũng là điều rất mới - tăng cường hợp tác giữa các cơ quan quản lý hàng hải giữa hai nước, bao gồm cả vấn đề về chia sẻ thông tin tình báo và quản lý bền vững tài nguyên biển, chống đánh bắt cá trái phép.Như vậy, có thể thấy rằng Úc có thể sẽ hỗ trợ Việt Nam tăng cường an ninh hàng hải, trong khuôn khổ sáng kiến về hợp tác hàng hải Đông Nam Á nói ở trên và hợp tác cả trong khuôn khổ Đối tác Chiến lược Toàn diện mới được nâng cấp. Tôi cho rằng Việt Nam và Úc đều là hai quốc gia biển, cả hai nước đều đặt mục tiêu là phát triển, mạnh vì biển, nên chắc chắn là hai nước không có lý do gì không phát triển mạnh vì biển và trở thành cường quốc biển.Tôi mong đợi rằng sự hợp tác giữa Việt Nam và Úc trong thời gian tới, đặc biệt là trong khuôn khổ Đối tác Chiến lược Toàn diện mới được nâng cấp này, sẽ mở rộng ra các hoạt động huấn luyện và tuần tra hải quân chung. Hy vọng rằng chúng ta sẽ chứng kiến các tàu hải quân của Việt Nam có thể sẽ viếng thăm Úc và giao lưu với lực lượng hải quân hoàng gia Úc, thậm chí là thường xuyên hơn. Hiện nay chúng ta mới chỉ thấy tàu chiến Úc đến thăm các cảng biển của Việt Nam, chứ chưa có chiều ngược lại. Tôi hy vọng trong thời gian tới có sự hợp tác mạnh mẽ hơn giữa lực lượng hải quân hai nước.RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn tiến sĩ Nguyễn Hồng Hải.
4/1/202411 minutes, 13 seconds
Episode Artwork

Việt Nam : Chủ tịch nước bị cách chức, tổng bí thư bị tiếm quyền ?

Chưa đầy hai năm, Việt Nam lại tìm chủ tịch nước lần thứ ba. Ông Võ Văn Thưởng, người được ông Nguyễn Phú Trọng che chở, không thoát khỏi chiến dịch “đốt lò” dù trước đó ông đã được tổng bí thư “cứu” một lần. Trái với người tiền nhiệm Nguyễn Xuân Phúc, ông Võ Văn Thưởng ra đi với những lời chỉ trích gay gắt của Đảng : Những vi phạm, khuyết điểm của ông “đã gây dư luận xấu, làm ảnh hưởng đến uy tín của Đảng, Nhà nước và cá nhân”. Tại sao lần này ông Thưởng không qua được cửa ải ? Một trong những lý do gián tiếp có lẽ là tình hình sức khỏe của ông Nguyễn Phú Trọng. Tổng bí thư dường như bị những người giúp ông làm trong sạch bộ máy đảng tiếm quyền. Trên đây là một trong những nhận định của giám đốc nghiên cứu Benoît de Tréglodé, Viện Nghiên cứu Chiến lược của Trường Quân sự Pháp (IRSEM) trong buổi phỏng vấn với RFI Tiếng Việt ngày 21/03/2024.RFI : Ông Võ Văn Thưởng là chủ tịch nước thứ hai phải từ chức trong vòng hơn một năm. Đây là chuyện vô cùng hiếm trong lịch sử Việt Nam. Nên hiểu hiện tượng này như thế nào ?Benoît de Tréglodé : Trước hết phải nói rằng đây là một sự kiện có nhiều ý nghĩa. Ông Võ Văn Thưởng, người thân cận và được tổng bí thư đảng Cộng Sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng che chở, đã được vạch cho một sự nghiệp sáng lạn từ năm ngoái (2023). Mọi người đều cho rằng ông sẽ nắm giữ những vị trí quan trọng, kể cả chức tổng bí thư Đảng thay ông Nguyễn Phú Trọng vào thời điểm thích hợp. Ông Thưởng có cả một quá trình công tác, một sự nghiệp hoàn toàn phù hợp với những gì mà ông Trọng trông đợi ở một nhà lãnh đạo cấp cao cho Nhà nước Việt Nam. Vậy mà bỗng dưng ông Thưởng “ngã ngựa”, lại vào lúc chưa đầy hai năm nữa là tới kỳ Đại hội Đảng.Vậy có thể rút ra những bài học gì từ sự kiện này ? Trước mắt, tôi thấy được ba bài học. Thứ nhất, kể cả người được ông Trọng bảo vệ cũng “ngã ngựa”, có nghĩa là ông Trọng không còn mạnh như trước đây, cho nên các đối thủ của ông tự cho phép đánh bật ông Võ Văn Thưởng. Vì vậy, bài học rút ra, đó là chủ tịch nước bị buộc thôi chức cũng đồng nghĩa với việc ông Nguyễn Phú Trọng không còn đủ khả năng ngăn cản việc này. Nên nhớ là cách đây ít lâu, đích thân ông Trọng đã can thiệp vào bộ máy Nhà nước để bảo vệ ông Võ Văn Thưởng vì một vài rắc rối liên quan đến gia đình. Nhìn từ khía cạnh này thì đây là một điểm rất đáng quan tâm.Yếu tố thứ hai, để buộc chủ tịch nước Việt Nam từ chức, người ta lôi lại một vụ tham nhũng từ cách đây 12 năm khi ông Võ Văn Thưởng làm bí thư tỉnh Quảng Ngãi. Hậu quả vụ tham nhũng bất ngờ ập xuống sau 12 năm. Cho nên, có thể thấy đây chỉ là một cái cớ chính trị để hạ gục một người hiện trở thành mối nguy hiểm cho những mục tiêu và tham vọng của một số người khác.Điểm thứ ba, tôi cho là vô cùng quan trọng, đó là những chiến dịch chống tham nhũng đang dần thoát khỏi tầm kiểm soát của ông Nguyễn Phú Trọng trong khi ông vốn là một trong những người đấu tranh mạnh mẽ chống tệ nạn này ngay từ nhiệm kỳ đầu vào năm 2011. Hiện giờ, chiến dịch chống tham nhũng được điều hành trực tiếp từ bộ Công An, dưới trướng ông Tô Lâm và bộ trưởng Công An gần như là chỉ huy chính những chiến dịch này. Trước đây, ông Tô Lâm luôn phải đối phó với ảnh hưởng rất mạnh của ông Nguyễn Phú Trọng.Đây là ba bài học từ việc chủ tịch nước bị lật đổ mà theo tôi, mang đầy tính chính trị và tình thế. Đọc thêm :Thanh trừng chống tham nhũng : Ban lãnh đạo Việt Nam sẽ nghiêng về Trung Quốc nhiều hơn?RFI : Với tư cách là một nhà nghiên cứu, quan sát nước ngoài, ông nhận định như thế nào về việc hai chủ tịch nước bị buộc từ chức chỉ trong hơn một năm ? Benoît de Tréglodé : Trước tiên phải nói là tôi không quá bất ngờ. Đúng là cách đây vài tháng, thậm chí là vài tuần, nhiều nhà quan sát về tình hình chính trị Việt Nam, cũng như nhiều người Việt mà tôi vẫn trao đổi, đều tin vào tương lai sự nghiệp của ông Võ Văn Thưởng. Vậy mà ông bất ngờ bị hạ bệ, một cách khá tàn bạo.Đối với tôi, nếu nhìn vào ba bài học đã đề cập ở trên thì thời thế đã thay đổi và cuộc chiến thừa kế trong Đảng đã bắt đầu. Có thể là một số người trong vòng quyền lực thứ nhất biết được tình hình sức khỏe của ông Nguyễn Phú Trọng và tự cho phép khơi mào cuộc chiến hay còn gọi là cuộc đấu tranh nội bộ để giữ những vị trí cao nhất trong bộ máy Nhà nước Việt Nam. Có nghĩa là cuộc tranh giành kế thừa ông Trọng đã được phát động. Nếu tình trạng sức khỏe của tổng bí thư Đảng không suy yếu như hiện nay thì chuyện lẽ ra phải xảy ra trong năm 2025 thì lại đến sớm hơn, ngay từ bây giờ. Cuộc chiến kế thừa sẽ không chờ đến tháng 01/2026 vào kỳ Đại hội Đảng sắp tới.Một điểm khác cần lưu ý, khi tổng bí thư Đảng nắm giữ chức chủ tịch tiểu ban nhân sự, ông Nguyễn Phú Trọng cho phần còn lại của giới lãnh đạo thấy rằng ông chưa tìm được người kế nhiệm rõ ràng. Ông cho thấy là vẫn muốn có ảnh hưởng đến việc chọn người kế nhiệm. Tuy nhiên, hiện giờ, việc ông Võ Văn Thưởng bị loại cho thấy ông Trọng không còn ảnh hưởng đến việc bổ nhiệm người kế nhiệm tương lai.Tại sao chiến dịch chống tham nhũng, không biết lần thứ bao nhiêu, dường như lại loại bỏ chính người được ông Trọng bảo vệ ? Tại sao lại viện đến cái cớ cũ rích là một vụ tham nhũng ở tỉnh Quảng Ngãi cách đây 12 năm để loại ông Thưởng ? Đối với tôi, rõ ràng sự kiện này cho thấy khởi đầu của một cuộc đấu đá nội bộ giành quyền kế vị giữa các phe phái đang chi phối quyền lực Nhà nước Việt Nam. Đọc thêm :Chủ tịch nước từ chức: Lo ngại bất ổn chính trị ảnh hưởng đến kinh tế Việt NamRFI : Việc thay đổi một vị trí trong "Tứ trụ" trong khoảng thời gian ngắn như vậy sẽ tác động như nào đến hình ảnh của Việt Nam trên trường quốc tế ? Benoît de Tréglodé : Trong số 18 ủy viên Bộ Chính Trị, thực ra, theo tôi hiểu giờ còn 14, nếu căn cứ vào điều lệ Đảng để có thể được bầu vào vị trí tổng bí thư, thì có lẽ chỉ còn 4 ứng cử viên có thể đủ điều kiện. Có thể thấy là có sự thắt chặt và thay đổi khá rõ ràng.Liên quan hình ảnh của Việt Nam trên trường quốc tế, tôi cho là tác động sẽ ở mức vừa phải trong thời gian đầu. Tất cả các nhà quan sát, kể cả thuộc các tổ chức công hay tư đều biết rằng bộ máy chính trị Nhà nước sẽ có biến động trước kỳ Đại hội Đảng tới. Dĩ nhiên, chuyện lại xảy ra sớm hơn dự kiến vì như tôi nói, điều được cho là có thể xảy ra vào năm 2025 lại xảy ra ngay năm 2024. Nhưng giới quan sát đã đoán được chuyện đó.Tuy nhiên, những xáo trộn trong nội bộ không có nghĩa là bộ máy Nhà nước Việt Nam sụp đổ, mà ngược lại, lại được củng cố. Đây chỉ là cuộc tranh giành những vị trí trống và để biết được thực sự rằng liệu nhân vật quyền lực hiện nay - tôi nghĩ chủ yếu đến bộ trưởng Công An - có đạt được mục tiêu của ông trong khuôn khổ tái cơ cấu các vị trí quyền lực đứng đầu Đảng hay không, nếu thực sự là sức khỏe của tổng bí thư tiếp tục suy yếu.Theo tôi, hình ảnh của Việt Nam sẽ bị tác động vừa phải bởi vì điều quan trọng là tăng trưởng của Việt Nam, đúng là thấp hơn một chút so với mong đợi nhưng vẫn ở mức đáng ngạc nhiên. Nền kinh tế Việt Nam được lợi rất nhiều từ các chính sách giảm thiểu rủi ro với Trung Quốc. Tôi tin chắc là các chuyên gia về rủi ro chính trị của những đại tập đoàn, những nhà đầu tư nước ngoài lớn không thấy mầm mống bất ổn trong nước cho nên tác động kinh tế từ những biến cố chính trị sẽ ở mức vừa phải.RFI : Việt Nam luôn ca ngợi và lấy “sự ổn định chính trị” làm lý do thuyết phục các nhà đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên, chuyện hai chủ tịch nước lần lượt phải từ chức có đi ngược lại với khẳng định này không ?Benoît de Tréglodé : Trước tiên, quyết định tước chức vụ chủ tịch nước của ông Thưởng không phải được đưa ra trong hỗn loạn hay bất cẩn. Chúng ta biết là trưởng ban Đối ngoại Trung ương Đảng, ông Lê Hoài Trung, đã thăm Trung Quốc trong hai ngày 18-19/03. Tại tỉnh Cát Lâm, ông hội đàm với ông Lưu Kiến Siêu, trưởng ban Liên lạc Đối ngoại Trung ương đảng Cộng Sản Trung Quốc. Đây là người đối thoại của đảng Cộng Sản Việt Nam trong trường hợp cần trao đổi với nước láng giềng. Có thể hình dung là vấn đề cách chức chủ tịch nước Việt Nam đã được bàn thảo ở Cát Lâm ngay hôm 18/03.Giữa Trung Quốc và các nước láng giềng có một truyền thống chính trị, đó là đề cập, trao đổi các vấn đề chính trị quan trọng. Đây hoàn toàn không phải là chuyện giới hạn chủ quyền. Cuộc gặp hôm thứ Hai (18/03) ở Cát Lâm có ý nghĩa quan trọng, cho thấy là các nhà lãnh đạo Việt Nam biết là họ đi về đâu. Quyết định không được đưa ra trong hoảng loạn mà được tham vấn kỹ càng. Quyết định đó hướng tới một mục tiêu đã xác định, đó là cân nhắc đến việc tổ chức lại các vị trí lãnh đạo, có thể sẽ được thực hiện trước dịp Đại hội Đảng lần tới vào năm 2026.Sự ổn định này là mục tiêu trước tiên của tầng lớp chính trị Việt Nam. Họ biết tăng trưởng kinh tế là mục tiêu đầu tiên của đảng Cộng Sản. Họ biết đất nước giầu mạnh là một dữ liệu căn bản để tạo ra sự ổn định về kinh tế, xã hội của đất nước. Mục tiêu này sẽ không bị ảnh hưởng vì chủ tịch nước đột ngột từ chức. Đọc thêm :Cải tổ chính trị để không bỏ lỡ cơ hội thành nước giàu, Việt Nam có dám ?RFI : Liệu sắp tới chuyện gì có thể xảy ra  ? Benoît de Tréglodé : Chuyện này phức tạp, đó là điều mà giới chuyên gia về vấn đề chính trị ở Việt Nam thường mượn từ “Criminologie”, tức một kiểu “tin đồn, tin nói hớ” để hiểu được chuyện sẽ xảy ra như nào. Tôi là một nhà nghiên cứu về Việt Nam đương đại, tôi không nằm trong nội bộ guồng máy quyền lực Việt Nam nên dĩ nhiên đối với tôi, tất cả những đồn đại này chỉ là các giả thuyết.Một trong những giả thuyết, đó là sẽ chọn ra được một ứng viên thay thế ông Võ Văn Thưởng từ nay đến tháng Năm. Nhưng nhiều nhà quan sát nghi ngờ là liệu quyền chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân có giữ luôn thêm một thời gian chức vụ này hay không.Ngoài ra cũng có giả thuyết là gộp hai chức chủ tịch nước và tổng bí thư, như ông Nguyễn Phú Trọng đã giữ từ 2018 đến 2021, chuyện này cũng có thể xảy ra. Đúng là một số người có thể nghĩ rằng ông Trọng sẽ kiêm nhiệm hai chức vụ nhưng tôi cho rằng một trong những lý do lật ông Võ Văn Thưởng có thể là do sức khỏe của ông Trọng xấu đi, dù chúng ta không có bất kỳ thông tin y tế nào để nắm rõ. Trong trường hợp này, ông Trọng có lẽ không đủ sức khỏe để giữ cả hai vị trí về lâu dài.Trong số những ứng viên được nêu lên, người ta cũng nhắc đến nhân vật quyền lực hiện nay ở Việt Nam là bộ trưởng Công An có thể cũng muốn kiêm nhiệm cả hai chức tổng bí thư và chủ tịch nước. Đừng quên là ông Tô Lâm đã từ chối nếu chỉ giữ một mình chức chủ tịch nước. Nhìn vào ảnh hưởng của ông trong bộ máy Nhà nước, điều quan trọng đầu tiên đối với ông Tô Lâm, có lẽ là phải tìm ra được người kế nhiệm. Đã có một vài tên tuổi và có một người thân cận mà ông muốn giao trọng trách đứng đầu bộ Công An. Vị trí này có tầm quan trọng đối với ông Tô Lâm bởi vì phải để những chiến dịch chống tham nhũng trong tương lai không “động” đến ông ấy. Cho nên ông Tô Lâm thực sự cần đến một trợ thủ đắc lực, sau đó để ông có thể rảnh rang giữ chức vụ mà ông có nhiều khả năng sẽ được giao. Nhưng đó chỉ là những giả thuyết !Điều chắc chắn là ông Tô Lâm hiện là nhân vật trung tâm của công tác bổ nhiệm các lãnh đạo lớn sắp tới của bộ máy Nhà nước Việt Nam nên ông ấy sẽ cân nhắc và tính toán. Và có thể nói chắc chắn chính ông đã khéo léo can thiệp đến chuyện xảy ra hôm nay (21/03) với sự từ chức bất ngờ của chủ tịch nước Võ Văn Thưởng.RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn giám đốc nghiên cứu Benoît de Tréglodé, Viện Nghiên cứu Chiến lược của Trường Quân sự Pháp (IRSEM).
3/25/202410 minutes, 45 seconds
Episode Artwork

Vịnh Bắc Bộ: Trung Quốc muốn vẽ lại ranh giới khi công bố "đường cơ sở" mới?

Trong lúc tình hình tại Biển Đông vẫn chưa lắng dịu, thì một vùng biển khác, Vịnh Bắc Bộ, phải chăng đang có nguy cơ trở thành một điểm nóng thứ hai giữa Việt Nam và Trung Quốc? Ngày 01/03/2024, Trung Quốc đã chính thức công bố đường cơ sở mới nêu rõ yêu sách lãnh thổ của họ ở phía bắc Vịnh Bắc Bộ, khu vực chung với Việt Nam. Thông báo trên trang mạng của Bộ Ngoại Giao Trung Quốc nêu lên 7 điểm cơ bản mà khi được kết nối sẽ tạo thành đường cơ sở cho các yêu sách chủ quyền của Bắc Kinh ở Vịnh Bắc Bộ. Thông báo đó đã làm dấy lên nhiều lo ngại về ý đồ của Bắc Kinh đối với vùng biển mà hai nước đã phân định ranh giới sau rất nhiều đàm phán. Nhiều ngày sau khi đường cơ sở mới được phía Trung Quốc công bố, Việt Nam mới lên tiếng vào ngày 14/03, qua lời phát ngôn viên bộ Ngoại Giao Phạm Thu Hằng. Hà Nội đề nghị Trung Quốc “tôn trọng và tuân thủ hiệp định về phân định lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa giữa hai nước trong Vịnh Bắc Bộ ký năm 2000, cũng như Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển (UNCLOS) 1982".Đường cơ sở là đường ranh giới phía trong của lãnh hải và là ranh giới phía ngoài của nội thủy, do nước ven biển quy định trên cơ sở Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS).Theo Công ước này, các quốc gia ven biển được hưởng lãnh hải 12 hải lý, vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý và thềm lục địa kéo dài tới 350 hải lý. Tuy nhiên, Vịnh Bắc Bộ, một vịnh nửa kín, bao quanh là Trung Hoa lục địa, Việt Nam và đảo Hải Nam của Trung Quốc, có chiều rộng tối đa không quá 180 hải lý. Cho nên có sự chồng chéo hoàn toàn về vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của cả hai quốc gia trong vùng Vịnh, nếu chiếu theo Công ước UNCLOSVào năm 2000, Trung Quốc và Việt Nam đã đạt được thỏa thuận vạch ra ranh giới lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa ở Vịnh Bắc Bộ. Cả hai bên đều coi thỏa thuận này là "công bằng", đánh dấu ranh giới trên biển đầu tiên của Trung Quốc. Nhưng dù đã đạt thỏa thuận này, tranh chấp vẫn tiếp diễn do vẫn văn bản chưa phân định rõ ranh giới hướng ra biển. Trả lời RFI Việt ngữ, nhà nghiên cứu Hoàng Việt ở Sài Gòn nhận định đường cơ sở mới mà Trung Quốc vừa công bố là "chưa thuyết phục": " Về Vịnh Bắc Bộ thì Việt Nam và Trung Quốc đã trải qua rất nhiều cuộc đàm phán và cuối cùng đã ký Hiệp định Phân định Vịnh Bắc Bộ, gọi đầy đủ hơn là "Hiệp định Phân định lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa tại Vịnh Bắc Bộ". Hiệp định được ký kết năm 2000 và có hiệu lực từ năm 2004, nay đã tròn 20 năm. Trước đó thì đương nhiên là Trung Quốc chưa bao giờ công bố đường cơ sở trong khu vực Vịnh Bắc Bộ, vì đây là vùng vốn có tranh chấp giữa Việt Nam với Trung Quốc. Cho nên có thể nói đây là lần đầu tiên Trung Quốc công bố một đường cơ sở trong khu vực Vịnh Bắc Bộ.Trung Quốc sử dụng phương pháp "đường cơ sở thẳng" đối với cả đường cơ sở trong Vịnh Bắc Bộ. Điều này có lẽ là chưa thuyết phục được nhiều người. Thứ nhất, Công ước về Luật Biển có quy định rằng ở những nơi mà vùng biển khúc khuỷu, lồi lỏm thì có thể áp dụng phương pháp "đường cơ sở thẳng". Trong trường hợp này thì khu vực của Trung Quốc ở Vịnh Bắc Bắc Bộ không phải là một khu vực khúc khuỷu lồi lỏm. Cho nên việc Trung Quốc áp dụng "đường cơ sở thẳng" là chưa hẳn thuyết phục. Điểm thứ hai là một số điểm cơ sở của Trung Quốc trong đường cơ sở thẳng này quá xa bờ và điều này làm dấy lên lo ngại là Trung Quốc không tuân thủ đúng Công ước về Luật Biển khi công bố đường cơ sở ở Vịnh Bắc Bộ."Bắc Kinh đã từng nói là những tranh chấp đó sẽ được giải quyết thông qua một quy trình phân định mới, nhưng chưa ai hiểu lý do vì sao Trung Quốc lại công bố đường cơ sở mới vào thời điểm này. Để trấn an Hà Nội, bộ Ngoại giao Trung Quốc khẳng định đường cơ sở mới được vạch ra “sẽ không tác động tiêu cực đến lợi ích của Việt Nam hay của bất kỳ quốc gia nào khác”, mà trái lại, “sẽ thúc đẩy hợp tác hàng hải quốc tế giữa Trung Quốc và các nước liên quan và đóng góp vào sự phát triển chung của hàng hải toàn cầu”.Nhưng trong tuyên bố ngày 14/03, phát ngôn viên bộ Ngoại Giao Việt Nam Phạm Thu Hằng đã chỉ trích việc chính phủ Trung Quốc đưa ra 7 "điểm cơ sở" khi nối với nhau tạo thành một đường cơ sở mới nhằm tuyên bố "lãnh hải" ở Vịnh Bắc Bộ. Theo phát ngôn viên bộ Ngoại Giao, "các điểm này không tồn tại trong 49 điểm cơ sở mà Trung Quốc công bố ngày 15/5/1996 để tính chiều rộng lãnh hải từ Hải Nam tới Thanh Đảo".Bà Hằng cho biết Việt Nam "đã và sẽ tiếp tục trao đổi quan điểm với Trung Quốc về vấn đề này trên tinh thần hữu nghị, hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau".Nhà nghiên cứu Hoàng Việt nhận định về những phản ứng nói trên của Việt Nam: "Đây là tuyên bố thường thấy của Việt Nam. Có lẻ vì thấy dư luận đang thắc mắc và có những ý kiến lo ngại về đường cơ sở mới của Trung Quốc ở Vịnh Bắc Bộ, nên Việt Nam buộc phải lên tiếng. Phát biểu này không có gì mới hơn so với những gì mà Việt Nam và Trung Quốc đã cam kết thực hiện. Việt Nam vẫn luôn kêu gọi Trung Quốc phải tuân thủ Công ước về Luật Biển 1982.Nhưng như đã nói ở trên, đường cơ sở thẳng mà Trung Quốc công bố có lẽ có một số điểm chưa phù hợp với tinh thần Công ước về Luật Biển. So với đường cơ sở thẳng mà Trung Quốc công bố năm 1996, thì đường cơ sở mới bao trọn eo biển Quỳnh Châu, hay còn gọi là eo biển Hải Nam nằm trong nội thủy của Trung Quốc. Cái này cũng không phải là mới, vì trước đây, từ năm 1958, đến năm 1992 và đến khi công bố đường cơ sở năm 1996, Trung Quốc cũng đã từng tuyên bố eo biển Quỳnh Châu nằm trong nội thủy Trung Quốc.Năm 1996, Trung Quốc đã từng tuyên bố đường cơ sở có hai hệ thống, một hệ thống nằm trong thềm lục địa của Trung Quốc và kéo dài đến đảo Hải Nam, hệ thống thứ hai là đường cơ sở thẳng bao quanh quần đảo Hoàng Sa. Năm đó thì Việt Nam đã ra tuyên bố phản đối với hệ thống đường cơ sở thẳng bao quanh Hoàng Sa, vì nó không hoàn toàn phù hợp với Công ước về Luật Biển năm 1982. Tuyên bố của phát ngôn viên bộ Ngoại Giao cũng đã nhắc lại phản đối này."Shashank S. Patel, một nhà phân tích địa chính trị theo dõi sát các hoạt động ở Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương, nhận định với EurAsian Times: “Việc công bố một đường cơ sở mới có vẻ quá đáng trên bản đồ sẽ tác động sâu hơn đến vùng đặc quyền kinh tế và vùng tiếp giáp lãnh hải của Việt Nam, nơi cung cấp các vùng đánh cá chính cho Trung Quốc.”Ông nói: “Việc đơn phương phân định đường cơ sở mới của Trung Quốc là một nỗ lực nhằm hạn chế các yêu sách của Hà Nội đối với vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam và các vùng nước sâu. Khu vực nằm trong đường cơ sở mới của Trung Quốc chiếm hơn 60% diện tích, vi phạm trắng trợn Công ước UNCLOS. Hy vọng Việt Nam không để vấn đề này leo thang lên mức cao nhất, nhưng nếu không làm như vậy sẽ ảnh hưởng đến quyền đánh bắt cá, chuỗi cung ứng và tuyến đường biển của Việt Nam trong thời gian tới”.Nhưng đối với nhà nghiên cứu Hoàng Việt, đường cơ sở mới mà Trung Quốc vừa công bố không làm thay đổi những gì đã được phân định giữa hai nước: "Với câu hỏi nó có tác động gì hay không thì tôi trả lời là không, bởi vì hai bên đã ký kết Hiệp định Phân định Vịnh Bắc Bộ từ năm 2000, có hiệu lực từ 2004, tức là 20 năm rồi. Dù Trung Quốc có vẽ đường cơ sở nào đi chăng nữa thì nó cũng không làm thay đổi sự phân định giữa hai bên theo hiệp định năm 2000. Tôi đã đọc một số ý kiến cho là Trung Quốc có mưu đồ lấn chiếm, nhưng tôi nghĩ Trung Quốc không thể lấn chiếm được khi Vịnh Bắc Bộ đã được phân định rõ ràng rồiHiệp định đã phân định xong rồi. Trung Quốc có quyền tuyên bố một đường cơ sở trong khu vực của họ. Và ngược lại, Việt Nam cũng có quyền tuyên bố một đường cơ sở trong phần của Việt Nam ở Vịnh Bắc Bộ. Hiện nay, ngoài đường cơ sở thẳng mà Việt Nam tuyên bố tháng 11/1982, cũng cần phải tuyên bố thêm, như nhắc nhở của một số người trước đây, vì đường cơ sở thẳng của Việt Nam chưa được khép kín, khi còn bỏ trống một điểm cơ sở ở khu vực trong Vịnh Thái Lan vào khu vực Vịnh Bắc Bộ. Hai nơi này chưa được phân định. Khu vực Vịnh Bắc Bộ đã phân định từ rất lâu mà Việt Nam vẫn chưa công bố một đường cơ sở trong vùng biển này. Nếu hỏi hai bên có thể đàm phán lại được hay không, thì câu trả lời là “không thể”, bởi vì hai bên đã đàm phán xong rồi và đàm phán đã rất là khó khăn, và muốn thay đổi gì thì phải có sự đồng ý của hai bên. Một điều khoản trong Hiệp định Phân định Vịnh Bắc Bộ nói rõ như vậy. Tôi nghĩ rằng khả năng thay đổi rất khó vì Việt Nam không muốn thay đổi, mà Trung Quốc chắc cũng không muốn thay đổi. Điều này cho thấy là Việt Nam cũng phải sớm tuyên bố một đường cơ sở ở Vịnh Bắc Bộ trong khu vực của Việt Nam để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của Việt Nam ở vùng biển này.".Nhưng nhìn vấn đề xa hơn, trên trang mạng EurAsian Times, nhà phân tích Patel nhấn mạnh: "Đường cơ sở mới có thể cản trở quyền tự do hàng hải, nghiên cứu khoa học, lắp đặt cáp và đường ống cũng như các nỗ lực cải tạo đảo". Patel lưu ý: “Nếu Việt Nam, theo đường lối của Philippines, đưa vấn đề ra Tòa Trọng tài Thường trực, Trung Quốc sẽ lại bác bỏ phán quyết, cho rằng phán quyết đó bất hợp pháp và vô hiệu.”   
3/18/20249 minutes, 39 seconds
Episode Artwork

Hợp tác an ninh hàng hải giữa Úc với Việt Nam sẽ “không phô trương” như với Philippines

Việt Nam và Úc nâng cấp quan hệ lên Đối tác Chiến lược toàn diện ngày 07/03/2024 đưa Úc trở thành một trong 7 đối tác quan trọng nhất của Việt Nam. Quốc phòng và an ninh nằm trong số những lĩnh vực được tăng cường hợp tác trong khuôn khổ thỏa thuận mới. Đối với Úc, Việt Nam trở thành cửa ngõ để dấn sâu vào khu vực Đông Nam Á lục địa trong bối cảnh Canberra xoay trục sang ASEAN. Còn Việt Nam có thể đặt « niềm tin », trông cậy vào việc « Úc ủng hộ thượng tôn pháp luật quốc tế ở khu vực và giải quyết tranh chấp tại Biển Đông bằng các biện pháp hòa bình, phù hợp với luật pháp quốc tế, đặc biệt là UNCLOS 1982 », theo phát biểu của thủ tướng Phạm Minh Chính.Tuy nhiên, hợp tác an ninh quốc phòng song phương sẽ « không phô trương » như hợp tác giữa Úc và Philippines, đặc biệt tại Biển Đông. Đây là một trong những nhận định trong buổi phỏng vấn với RFI Tiếng Việt của nghiên cứu sinh Nguyễn Thế Phương, chuyên về an ninh hàng hải và các vấn đề hải quân, Đại học New South Wales, Canberra, Úc.RFI : Việt Nam và Úc tổ chức cuộc họp cấp thứ trưởng về hợp tác an ninh lần thứ 3 vào tháng 02/2023. Mối quan hệ song phương về lĩnh vực này được hình thành và phát triển như thế nào ? Nguyễn Thế Phương : Đặt trong bối cảnh 50 quan hệ song phương, mối quan hệ hợp tác an ninh quốc phòng giữa Việt Nam và Úc chỉ là một mảng rất mới, và nổi bật chắc từ tầm 2019-2020, khi đó Việt Nam bắt đầu chú trọng việc tăng cường quan hệ với các nước trong khu vực, đặc biệt là với các nước trung cường.Cho tới trước khi hai nước nâng cấp lên quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện, điểm nổi bật nhất trong hợp tác an ninh quốc phòng song phương là Úc hỗ trợ Việt Nam trong các vấn đề liên quan tới gìn giữ hòa bình, thông qua hỗ trợ tài chính, huấn luyện, đặc biệt là dạy tiếng Anh cho quân nhân Việt Nam. Ngoài ra, Úc cũng đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc di chuyển quân nhân Việt Nam tới những khu vực mà Việt Nam làm nhiệm vụ gìn giữ hòa bình.Hợp tác quốc phòng giữa hai bên còn có một số điểm nhưng không đến mức nổi bật. Ví dụ, Úc cũng bán lại cho Việt Nam một số vật tư kỹ thuật để Việt Nam có thể kéo dài tuổi thọ của một số loại vũ khí thuộc hệ Mỹ và châu Âu trong biên chế của quân đội Việt Nam, bởi vì từ sau chiến tranh năm 1975, Việt Nam kế thừa rất nhiều vũ khí của Mỹ. Trong hơn 30 năm sử dụng, những vũ khí đó cũ đi và cần phải thay thế, bảo trì. Úc cũng có kinh nghiệm sử dụng vũ khí Mỹ, nên họ hỗ trợ một phần trong việc Việt Nam duy trì và bảo dưỡng một số loại vũ khí, khí tài.Ngoài ra, hai nước có một số hợp tác nhỏ trong an ninh hàng hải, những trao đổi, thăm viếng lẫn nhau… nhưng cũng chỉ dừng lại ở đó. So với những quốc gia khác, như Ấn Độ, mảng hợp tác an ninh quốc giữa Việt Nam và Úc còn nhiều tiềm năng hợp tác trong tương lai, đặc biệt là sau khi hai nước nâng quan hệ lên hàng Đối tác Chiến lược Toàn diện.RFI : Sau khi nâng cấp quan hệ thì trong tương lai, hai nước có thể khai thác quan hệ hợp tác này như thế nào về mặt an ninh quốc phòng ? Nguyễn Thế Phương : An ninh quốc phòng là một trong những mặt hợp tác tiềm năng giữa Việt Nam và Úc trong tương lai và được đặt trên một nền tảng, đó là « niềm tin » về mặt chính trị giữa hai nước đã được thiết lập. Nhìn vào tuyên bố chung thì tăng cường « niềm tin chính trị » rất là quan trọng, bởi vì trong hợp tác an ninh quốc phòng, đặc biệt là giữa Việt Nam và các quốc gia khác, « niềm tin chính trị » đóng vai trò nút thắt rất lớn.Nếu có « niềm tin chính trị » và hai bên sẵn sàng cởi mở với nhau thì sẽ mở khóa những mảng an ninh quốc phòng có chiều sâu và thực chất hơn. Ví dụ, trong tương lai, cả hai bên có thể hợp tác trong công nghiệp quốc phòng. Đây là một trong những lĩnh vực mà quân đội Việt Nam đang chú trọng rất nhiều và đầu tư rất nhiều. Nếu có niềm tin thì hai bên mới có khả năng chia sẻ với nhau về công nghệ, đầu tư và những chia sẻ khác có liên quan tới vũ khí hoặc thông tin tình báo.Thứ hai là mở rộng hơn nữa hợp tác trong an ninh hàng hải, có thể liên quan tới huấn luyện, chia sẻ thông tin tình báo, thăm viếng lẫn nhau. Tần suất và số lượng về mảng hợp tác này giữa Việt Nam và Úc sẽ tăng lên.Thứ ba, Việt Nam và Úc sẽ tăng cường trao đổi quân nhân với nhau. Việt Nam sẽ cử sang học ở Úc, đặc biệt là học trong các Học viện Quốc phòng cũng như trong các trường đại học lớn có những chương trình về an ninh quốc gia có tiếng. Trước đây đã có hoạt động này nhưng sau khi tăng cường mối quan hệ Đối tác Chiến lược toàn diện, Việt-Úc sẽ đẩy mạnh mảng này hơn nữa, không chỉ liên quan đến quân nhân mà cả dân sự nữa.Từ khoảng 2-3 năm nay, Việt Nam đã cử cán bộ cấp trung qua Úc học rất nhiều, thay vì qua Singapore hoặc Trung Quốc như ngày xưa. Đây cũng là một điểm chứng tỏ rằng nếu như có « niềm tin chính trị », thì thông qua niềm tin đó, biên giới những mặt hợp tác sẽ được mở rộng ra và đào sâu hơn rất nhiều so với trước đây khi mà « niềm tin chiến lược » chưa đủ mức độ.RFI : Lần đầu tiên Úc tổ chức tuần tra chung trên biển và trên không với Philippines ở Biển Đông vào tháng 11/2023. Liệu Úc có thể tiến hành tương tự với Việt Nam ? Nguyễn Thế Phương : Hiện tại, khả năng Úc tiến hành hoạt động tuần tra chung với Việt Nam, với quy mô và tính chất tương tự với Philippines, là không có. Bởi vì chính sách của Việt Nam hiện nay vẫn khá dè dặt trong việc tham gia các hoạt động mang tính tuần tra hoặc là tập trận chung với một lực lượng quân sự của một nước khác, ngay cả song phương giữa Việt Nam với các nước ASEAN còn chưa có. Việc Việt Nam tiến hành các hoạt động tương tự thì sẽ rất khó, ít nhất là về mặt ngắn hạn.Hợp tác về an ninh hàng hải và an ninh quốc phòng giữa Việt Nam và Úc nói riêng và với các quốc gia phương Tây nói chung, ngay cả Hàn Quốc và Nhật Bản, sẽ không mang tính phô trương theo kiểu Philippines, hiện tại mà chỉ mang tính « mềm » đằng sau, như huấn luyện, trao đổi thông tin. Ví dụ Úc sẽ hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng, hoặc Việt Nam sẽ tham gia cùng với Úc bên trong một cơ chế mang tính đa phương. Đó là cách thức Việt Nam sẽ tiến hành những hoạt động mang tính an ninh quốc phòng với các quốc gia khác, đặc biệt là với các nước trung cường, chứ không có quy mô và mức độ như những gì mà Úc và Philippines đang làm.RFI : Úc tuyên bố là tương lai của Úc là nằm trong khu vực. Ổn định hàng hải trong khu vực cũng sẽ liên quan đến nước này. Vậy Canberra có thể đóng vai trò như thế nào ? Nguyễn Thế Phương : Việc tăng cường quan hệ lên Đối tác Chiến lược Toàn diện giữa Việt Nam và Úc đến từ nhu cầu nội sinh của cả hai bên. Đặc biệt là với Úc, Đông Nam Á là một khu vực trọng tâm về mặt phát triển kinh tế, cũng như là an ninh quốc phòng, bởi vì hướng đe dọa mà hiện giờ Úc lo ngại nhất vẫn là từ phía Trung Quốc.Ngoài khu vực Đông Nam Á, khu vực truyền thống của Úc từ trước đến nay là khu vực các đảo ở Nam Thái Bình Dương. Nhưng hiện tại, Úc bắt đầu dịch chuyển trọng tâm chiến lược của họ từ các đảo Thái Bình Dương sang khu vực Đông Nam Á. Đó là lý do tại sao mà Úc quan tâm như vậy tới khu vực. Việt Nam là một trong những đối tác quan trọng nhất của Úc ở Đông Nam Á, cả về hợp tác kinh tế lẫn hợp tác về những mảng khác, như giáo dục, văn hóa, con người…Úc cũng mong muốn có một ảnh hưởng nhất định nào đó ở khu vực Đông Nam Á lục địa. Vì từ trước đến nay, họ quan tâm nhiều hơn tới Đông Nam Á hải đảo, ví dụ với Philippines, Malaysia, Singapore, Indonesia, bây giờ họ mong muốn mối quan hệ và sự hiện diện của Úc ở cả khu vực Đông Nam Á lục địa nữa, trong đó Việt Nam được coi là một cửa ngõ, một bản lề để Úc có thể xâm nhập sâu hơn vào Đông Nam Á lục địa. Đó là tầm nhìn tương đối chiến lược của Úc đối với Đông Nam Á, trong đó Việt Nam là một mắt xích quan trọng.Từ việc xem Đông Nam Á như là một trọng tâm chiến lược thứ hai, Úc mong muốn có một khả năng bao quát mang tính phòng thủ với những gì mà Trung Quốc đang làm, đặc biệt là ở khu vực Biển Đông. Những chuyển động gần đây từ AUKUS, từ việc Úc bắt đầu coi Trung Quốc như là một mối đe dọa an ninh lớn, tăng cường quan hệ với các trung cường, như Ấn Độ, Nhật Bản, Hàn Quốc…, cho thấy tư duy của Úc hiện nay ngày càng tương đồng với Mỹ, với các quốc gia đồng minh của Mỹ, xem Trung Quốc làm một mối đe dọa lớn.ASEAN nói chung và Việt Nam nói riêng sẽ đóng một vai trò quan trọng trong cách thức Úc sẽ đối phó với quá trình trỗi dậy của Trung Quốc trong bối cảnh ảnh hưởng của Trung Quốc lan ngày càng gần tới Úc hơn, đe dọa an ninh quốc gia của Úc hơn bao giờ hết từ Đông Nam Á cho tới cả vấn đề nội bộ của Úc, cũng như ảnh hưởng của Trung Quốc ở khu vực các đảo quốc ở Thái Bình Dương. Do đó, vai trò của ASEAN sẽ rất quan trọng.RFI : Song song đó, chúng ta cũng thấy là Canberra đang tìm cách cải thiện quan hệ ngoại giao và thương mại với Trung Quốc, đối tác lớn của Úc. Liệu đây có phải là một điểm hạn chế trong phạm vi hoạt động hợp tác của Úc với các nước ASEAN có tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông với Trung Quốc ?Nguyễn Thế Phương : Việc Úc cố gắng tìm cách cải thiện quan hệ với Trung Quốc sẽ không làm ảnh hưởng mối quan hệ hiện nay với ASEAN và đặc biệt, cũng sẽ không tác động lớn tới việc Úc xích lại gần Mỹ, cũng như với những dự án an ninh của Úc với Mỹ cùng các đồng minh, như AUKUS.Dù gì Trung Quốc cũng là một trong những quốc gia có trọng lượng kinh tế lớn nhất ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Không một quốc gia nào trong khu vực có thể loại bỏ được ảnh hưởng này của Trung Quốc, nhất là trong bối cảnh Úc cũng có một chính sách không hoàn toàn tách ra khỏi Trung Quốc, ví dụ về mặt khai khoáng, hoặc những mặt hàng nông sản của Úc vẫn cần thị trường Trung Quốc.Cho nên việc Úc tìm cách cải thiện quan hệ với Trung Quốc một mặt giúp cho mối quan hệ giữa Úc và Trung Quốc ổn định hơn, từ đó sẽ giúp cho Úc tìm kiếm, định hình lại lợi ích của Úc với Trung Quốc. Việc đó giúp cải thiện một số yếu tố kinh tế cũng như chính trị trong nội bộ Úc. Và đó chỉ là một phần trong quá trình tái định hình chính sách của Úc và sẽ không ảnh hưởng nhiều tới mối quan hệ của Úc với ASEAN, với Việt Nam, cũng như là với các nước khác ngoài khu vực.RFI Tiếng Việt xin trân thành cảm ơn nghiên cứu sinh Nguyễn Thế Phương, Đại học New South Wales, Canberra, Úc.
3/11/202410 minutes, 27 seconds
Episode Artwork

Việt Nam : Đảng “quyết liệt” diệt tham nhũng do tình trạng sức khỏe của tổng bí thư?

Đảng và Nhà nước coi tham nhũng là "giặc nội xâm". "Công cuộc đốt lò" năm 2023 đã buộc "9 cán bộ diện Trung ương quản lý thôi giữ chức vụ, nghỉ công tác, bố trí công tác khác" (1), trong đó có chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc, ba bộ trưởng liên quan đến các vụ Việt Á, “chuyến bay giải cứu” tại Cục lãnh sự, bộ Ngoại Giao. Năm 2023, số vụ phạm tội tham nhũng và chức vụ được phát hiện tăng 51,63%, theo số liệu được bộ trưởng Công An Tô Lâm công bố (2). Năm 2024 được đánh dấu với đại án Trương Mỹ Lan - tập đoàn Vạn Thịnh Phát bị đưa ra xét xử trong hai tháng 3 và 4 liên quan đến nhiều cán bộ Nhà nước. Báo mạng Gavroche-thailande nhận định vụ Vạn Thịnh Phát, với số tiền chiếm đoạt lên tới 304.000 tỷ đồng (12,4 tỷ đô la), có lẽ là vụ tham nhũng lớn nhất trong lịch sử Đông Nam Á, vượt qua cả vụ biển thủ 4,4 tỷ đô la từ quỹ 1MDB ở Malaysia.Tình trạng tham nhũng và chống tham nhũng tại Việt Nam được thể hiện qua hai ý trong câu hỏi được nêu trong hội thảo ngày 18/10/2023 của Ban Nội chính Trung ương ở Hà Nội : "Chúng ta đã quyết liệt xử lý cán bộ, vì sao vẫn xảy ra nhiều vụ án tham nhũng lớn ?". Chủ trương chống tham nhũng trong năm 2024 sẽ "tiếp tục tinh thần của tổng bí thư" là "không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai", với chủ trương 6 "hơn", trong đó có "năm nay phải tốt hơn năm trước". Đọc thêm : Việt Nam: Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc buộc từ chứcTuy nhiên, một số nhà quan sát e rằng chiến dịch chống tham nhũng quyết liệt tác động đến ổn định về kinh tế. Nhiều lãnh đạo địa phương hoặc cán bộ "ngại" ký các hợp đồng đầu tư vào cơ sở hạ tầng do sợ bị cáo buộc tham nhũng. Một số khác, được trang Gavroche trích dẫn, cho rằng các cuộc điều tra tham nhũng trong lĩnh vực tư nhân tác động đáng kể đến lòng tin của các doanh nghiệp ở Việt Nam, dẫn đến tâm lý lo ngại chung về các cuộc điều tra và giám sát của đảng Cộng sản (3).Một hệ quả khác của "công cuộc đốt lò" là hiện giờ, dường như ông Nguyễn Phú Trọng chưa tìm được người thay thế dù đã già yếu và giữ chức tổng bí thư ba nhiệm kỳ liên tiếp. Đây là một trong những nhận định của giám đốc nghiên cứu Benoît de Tréglodé, Viện Nghiên cứu Chiến lược (IRSEM), Trường Quân sự Pháp, khi trả lời phỏng vấn RFI Tiếng Việt.RFI : Trong cuộc họp ngày 01/02/2024, Ban Chỉ đạo Trung ương nhấn mạnh “Phòng, chống tham nhũng, tiêu cực : Năm nay phải tốt hơn năm trước”. Ngay đầu năm đã có hàng loạt đại án tham nhũng. Liệu 2024 sẽ là “năm chống tham nhũng” của Việt Nam ?Benoît de Tréglodé : Trước tiên, việc gia tăng chống tham nhũng ở Việt Nam cho thấy một điều, đó là cuộc chiến kế thừa vị trí của ông Nguyễn Phú Trọng giờ đã được khởi động. Thường thì cuộc đua diễn ra vào năm trước kỳ Đại hội Đảng, giờ còn đến hai năm nữa, nhưng điều này diễn ra trong bối cảnh tình trạng sức khỏe khó lường của tổng bí thư đảng Cộng sản Việt Nam, cũng như những tin đồn về sức khỏe của ông.Năm trước mỗi kỳ Đại hội Đảng, thay đổi thành phần lãnh đạo Nhà nước, là năm đầy những chiến dịch chống tham nhũng. Cũng cần biết là khi chính quyền Việt Nam tung một chiến dịch chống tham nhũng thì ẩn sau những phát biểu tốt đẹp thường còn có ý đồ làm mất uy tín hoặc bỏ tù những nhân vật chủ chốt của phe cạnh tranh chính trị.Đại hội đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ 14 dự kiến tổ chức tháng 01/2026. Hiện có nhiều thắc mắc về tình hình sức khỏe của ông Nguyễn Phú Trọng, cho nên, nếu nhìn từ khía cạnh này thì chiến dịch chống tham nhũng rầm rộ hiện nay là chuyện bình thường. Nhưng để hiểu thực sự về việc tăng cường mạnh mẽ chiến dịch này, câu hỏi đặt ra : Ai là người kế nhiệm ông Nguyễn Phú Trọng ? Đọc thêm : Việt Nam Đại hội XIII: Tận dụng triệt để "thành công" trong năm 2020 để duy trì tính chính đáng của ĐảngChúng ta thấy tại Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương đảng khóa 13 tháng 10/2023, ông Nguyễn Phú Trọng quyết định đứng đầu Tiểu ban Nhân sự (chuẩn bị Đại hội lần thứ 14 Ban Chấp hành Trung ương đảng). Điều vô cùng ngạc nhiên là ông Nguyễn Phú Trọng đứng đầu tiểu ban này. Việc này có thể diễn giải là thứ nhất, sức ảnh hưởng của ông vẫn rất lớn ; thứ hai là ông chưa tìm được những người kế nhiệm rõ ràng tại hội nghị tháng 10/2023.Cuối cùng, tôi cho rằng việc gia tăng chống tham nhũng trong năm 2024 còn cho thấy, vì chưa có người kế nhiệm nên ông Nguyễn Phú Trọng cần khẩn trương tìm ra một lãnh đạo tương lai nếu nhìn vào tình trạng sức khỏe của ông hiện nay. Nói một cách khác, những gì diễn ra trong năm nay (2024) là điều lẽ ra đến năm tới (2025) mới diễn ra.RFI : Trong một hội thảo được Ban Nội chính Trưng ương tổ chức ngày 18/10/2023 tại Hà Nội, một câu hỏi đã được đặt ra : "Chúng ta đã quyết liệt xử lý cán bộ, vì sao vẫn xảy ra nhiều vụ tham nhũng lớn, tiêu cực lớn, gây bức xúc trong dư luận ?" Vậy đâu là nguyên nhân của hiện tượng này ?Benoît de Tréglodé : Tôi không muốn sa vào đánh giá chung hoặc mang tính khiêu khích, nhưng ở Việt Nam là "phải tham nhũng". Để làm chính trị ở Việt Nam thì phải có tiền, phải có sự hậu thuẫn của một doanh nhân, phải có ngân sách lớn để có thể thăng tiến trong môi trường chính trị.Ngược lại, để làm ăn, để kinh doanh ở Việt Nam thì cũng cần sự ủng hộ của một chính trị gia. Nhìn chung, giống như ở Trung Quốc, người ta thường thấy trong guồng máy chính trị hiện tượng mua quan bán chức và phải có tiền. Hiện tượng này làm lưu thông những khối lượng tiền lớn và gây bức bối bên trong hệ thống chính trị. Đọc thêm :Thanh trừng chống tham nhũng : Ban lãnh đạo Việt Nam sẽ nghiêng về Trung Quốc nhiều hơn?Tôi muốn nói đến hệ quả thứ hai của hiện tượng này, đó là những tranh cãi trên thượng tầng Nhà nước cho thấy cạnh tranh về lợi ích kinh tế giữa các cá nhân, giữa các phe phái, các nhóm nhưng không hẳn thể hiện rằng hệ thống bị suy yếu. Không phải vì có những chiến dịch chống tham nhũng, vì có những trường hợp tham nhũng, mà hệ thống kinh tế bị suy yếu. Ngược lại, ở một khía cạnh nào đó và đây cũng là điều nghịch lý, chế độ chính trị lại được củng cố hơn nhờ những vụ tham nhũng này.Công cuộc "hiện đại hóa đất nước" diễn ra thông qua việc tham nhũng đại trà ở mọi tầng lớp trong xã hội. Mức lương vẫn còn thấp trong khu vực hành chính và tư nhân, số người giàu trong xã hội đã tăng lên, cho nên tiền phải đến từ đâu đó.RFI : Chiến dịch chống tham nhũng có quy mô lớn này mang lại những kết quả nào cho Đảng và Nhà nước ? Benoît de Tréglodé : Khi theo dõi đời sống chính trị Việt Nam, người ta nhận thấy có một khái niệm quan trọng, đó là các cuộc khủng hoảng được coi là có lợi cho chính quyền để có thể tiếp tục tồn tại, vững mạnh hơn và trường tồn.Nhìn từ khía cạnh này, trên bình diện quốc tế, từ lâu người ta vẫn nhắc đến những tranh chấp hàng hải ở Biển Đông. Đây là một cuộc khủng hoảng có lợi cho chính quyền Việt Nam, bởi vì những vụ tranh chấp đó làm tăng tính chính đáng của đảng Cộng sản, được coi là người đang bảo vệ đất nước, bảo vệ người dân khỏi những vụ tấn công của nước ngoài.Về chính trường trong nước, các chiến dịch chống tham nhũng thực sự là một cuộc khủng hoảng có lợi cho lãnh đạo Nhà nước, cho tổng bí thư đảng Cộng sản, để thể hiện với nhân dân rằng đảng Cộng sản đang ở đây bảo vệ họ, đảng ở đây để thường xuyên tóm những con cá lớn, bảo vệ lợi ích của những người thấp cổ bé họng, dù đều là ảo tưởng. Rất ít người Việt Nam tin hoàn toàn vào thực tế của những chiến dịch chống tham nhũng trong giới chính trị. Đọc thêm : Chống tham nhũng trên thượng tầng : Việt Nam không để tác động đến lực hút đầu tư nước ngoàiRFI : Tổng bí thư đảng Nguyễn Phú Trọng tại vị cho đến năm 2026. Tương lai của chiến dịch chống tham nhũng sẽ ra sao, trong khi dường như ông hiện là người đấu tranh nhiệt thành duy nhất ?Benoît de Tréglodé : Trước hết, rất khó đưa ra được bất kỳ dự đoán nào trong bầu không khí bí hiểm như hiện nay. Điều gần như chắc chắn hiện nay là ông Nguyễn Phú Trọng sẽ tiếp tục giữ chức tổng bí thư đảng Cộng sản Việt Nam cho đến hơi thở cuối cùng. Khi đứng đầu Tiểu ban Nhân sự ở Đại hội tháng 10/2023, ông đã cho thấy rằng kế nhiệm ông là một vấn đề nhạy cảm và nhân vật đó chưa được chọn.Ông Nguyễn Phú Trọng thực sự muốn đích thân tác động đến việc lựa chọn người lãnh đạo tương lai của Đảng. Như vậy, khi kiểm soát các chiến dịch chống tham nhũng mới, hiện rất mạnh mẽ trong năm 2024, ông còn cho thấy chính ông là người sẽ quyết định tương lai của Việt Nam.Điểm tương đối mới hiện nay, đó là chúng ta chưa thấy những gương mặt nổi trội có tiềm năng kiêm nhiệm cùng lúc 3, 4 chức vụ quan trọng trong bộ máy Đảng và Nhà nước Việt Nam. Thứ nhất, đó là vì ông Nguyễn Phú Trọng vẫn có trọng lượng và ảnh hưởng rất lớn trong đời sống chính trị Việt Nam. Tiếp theo, cũng là vì ngày càng có ít thông tin rò rỉ ở Việt Nam kể từ khi luật an ninh mạng được áp dụng năm 2019. Luật này rất linh hoạt và quản lý rất nghiêm ngặt mọi rò rỉ chính trị về vấn đề nhân sự này.RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn giám đốc nghiên cứu Benoît de Tréglodé, Viện Nghiên cứu Chiến lược (IRSEM), Trường Quân sự Pháp.(1) Báo Điện tử Chính phủ, "Phòng, chống tham nhũng, tiêu cực: Năm nay phải tốt hơn năm trước".(2) Nhân dân, "Số vụ phạm tội về tham nhũng và chức vụ được phát hiện tăng 51,63% trong 12 tháng".(3) Gavroche-thailande.
3/4/20248 minutes, 51 seconds
Episode Artwork

Việt Nam chừng mực - Philippines cứng rắn: Hai cách bảo vệ chủ quyền trước Trung Quốc ở Biển Đông

Việt Nam và Philippines muốn khôi phục niềm tin và giảm thiểu các sự cố có thể xảy ra giữa hai nước khi thông qua hai bản ghi nhớ an ninh ký ngày 30/01/2024 về “ngăn ngừa sự cố ở Biển Đông” và “hợp tác trên biển”. Tuy nhiên, theo một số nhà phân tích, không nên coi sự kiện đó thể hiện lập trường thống nhất giữa Manila và Hà Nội trong việc đẩy lùi các hành động của Trung Quốc ở Biển Đông. Philippines có lập trường cứng rắn hơn, trông cậy vào liên minh với Mỹ nhiều hơn kể từ khi ông Marcos Jr. làm tổng thống. Sự xoay trục này có thể có lợi cho Việt Nam, nhưng Hà Nội không có chung cách tiếp cận với Manila. Việt Nam thận trọng, khẳng định chủ quyền nhưng không rầm rộ phản đối theo cách của Philippines. Đây là một trong những nhận định với RFI Tiếng Việt của giáo sư Alexander Vuving, Trung tâm Nghiên cứu An ninh Đông Nam Á Daniel K. Inouye (DKI APCSS) tại Hawai, Mỹ.RFI : Việt Nam và Philippines ký hai bản ghi nhớ về an ninh về “ngăn ngừa sự cố ở Biển Đông” và “hợp tác trên biển” giữa lực lượng tuần duyên hai nước. Hai văn bản này có lợi ích như nào cho hai nước cũng có tranh chấp chủ quyền đối với một số thực thể ở Biển Đông ? GS. Alexander Vuving : Tôi nghĩ là bất kỳ sự hợp tác nào giữa Việt Nam và Philippines trên biển đều tốt cho cả hai nước bởi vì hai nước có đòi hỏi chủ quyền chồng lấn lên nhau, đặc biệt là ở khu vực quần đảo Trường Sa, một phần lớn khu vực đó nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của Philippines. Khi Việt Nam đòi hỏi chủ quyền trên một số đảo-đá ở đó thì có sự chồng lấn, rất dễ gây ra những sự cố, những tranh chấp. Bất kể một thỏa thuận nào về hợp tác trên biển giữa lực lượng tuần duyên hai nước, ngăn ngừa sự cố đều hết sức có lợi cho hai quốc gia.Đặc biệt hơn, Việt Nam và Philippines là hai nước mà không nước nào lớn hơn hẳn nước kia để có thể “bắt nạt” nước kia. Có nghĩa là khi Việt Nam và Philippines ngồi lại đàm phán với nhau thì đó là một cuộc đàm phán tương đối bình đẳng. Cho nên kết quả cuộc đàm phán nói chung là tương đối công bằng cho cả hai bên. Tôi nghĩ là những bản ghi nhớ vừa ký giữa lực lượng tuần duyên của hai nước, dù không rõ nội dung cụ thể là gì vì họ không công bố, nhưng có thể hiểu rằng thỏa thuận sẽ có lợi cho cả hai nước. Đồng thời có thể nói rằng họ có những thỏa thuận về cách thức để cho hai bên hành xử như thế nào đó để giữ được hợp tác, ngăn ngừa những sự cố thì đó cũng có thể coi là bước đầu tiên tiến tới một bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông.Như chúng ta biết là từ hàng chục năm nay, các nước ASEAN và Trung Quốc đã thương thảo Bộ Quy tắc Ứng xử ở Biển Đông và không đi đến được thỏa thuận nào cụ thể. Tôi nghĩ là bởi vì trong trường hợp này, Trung Quốc đòi hỏi quá xa và gần như vi phạm nguyên tắc cơ bản của Luật Biển Quốc Tế, trong khi một số nước ASEAN, đặc biệt là Việt Nam và Philippines muốn rằng Bộ Quy tắc Ứng xử ở Biển Đông phải đi đúng tinh thần của luật quốc tế, nhất là Luật Biển Quốc Tế. Ở đây, chúng ta có Việt Nam và Philippines cùng đồng ý dựa trên cơ sở luật pháp quốc tế.Tôi hy vọng những thỏa thuận của hai nước là những bước tiến thực chất và tiến bộ trong việc hình thành Bộ Quy tắc Ứng xử ở Biển Đông, trước hết là song phương giữa Việt Nam và Philippines, sau này có thể mở đa phương với một số nước khác ở Đông Nam Á.RFI : Trung Quốc đòi hầu hết chủ quyền đối với Biển Đông, chồng lấn với Việt Nam và Philippines. Nhưng hai nước Đông Nam Á này lại có cách cư xử khác nhau đối với Trung Quốc !Alexander Vuving : Mỗi một nước có cách cư xử khác nhau, kể cả ngay bản thân mỗi nước lại có cách cư xử khác nhau trong từng thời kỳ. Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sự cư xử này. Thứ nhất là hoàn cảnh khác nhau khiến người ta cư xử khác nhau. Thứ hai, ngay trong bản thân nội bộ mỗi nước lại có cách hiểu hoàn cảnh khác nhau khi lãnh đạo thay đổi một chút.Một điểm quan trọng nữa là mỗi nước có kinh nghiệm lịch sử khác nhau. Việt Nam có kinh nghiệm lịch sử với Trung Quốc rất khác với Philippines. Cho nên cách ứng xử trên cơ sở kinh nghiệm lịch sử cũng rất khác nhau. Thêm nữa, ngay bản thân mỗi nước, tuy họ chung một kinh nghiệm lịch sử nhưng mỗi một cá nhân, một nhóm lãnh đạo lại rút ra những bài học khác nhau từ cùng một kinh nghiệm lịch sử cho nên họ có cách cư xử khác nhau.RFI : Philippines thể hiện cứng rắn hơn trong hành động và lời nói, lên án những hành động hăm dọa của tầu thuyền Trung Quốc trong những vùng biển Manila đòi chủ quyền, đặc biệt trong thời gian gần đây. Tuần duyên Philippines hiện giờ cố tỏ ra minh bạch hơn, cập nhận thông tin thường xuyên hơn với báo chí về hoạt động của tầu Trung Quốc. Nhưng dường như Việt Nam không theo chủ trương này ?Alexander Vuving : Hành xử của Philippines đối với Trung Quốc hiện nay, đặc biệt là ở trong khu vực Bãi Cỏ Mây (Second Thomas Shoal), phải nói thẳng là khác hẳn với chính cách cư xử của Philippines trong thời kỳ tổng thống Duterte bởi những lý do tôi nói ở trên về cách hiểu của lãnh đạo, cách lãnh đạo rút ra bài học từ cùng một kinh nghiệm lịch sử.Tuy nhiên, cách cư xử hiện nay của Philippines ở Bãi Cỏ Mây lại tương đối giống cách hành xử của Việt Nam cách đây khoảng 10 năm vào thời kỳ giàn khoan Hải Dương 981. Theo tôi hiểu, lãnh đạo hiện nay của Philippines, đặc biệt là tổng thống Marcos Jr., đã học được những bài học lịch sử từ những cách ứng xử của Philippines, kể cả của Việt Nam với Trung Quốc trong một, hai thập niên qua. Đặc biệt tôi nghĩ rằng họ cũng đã học được bài học từ chính cách hành xử của Việt Nam đối với Trung Quốc trong thời kỳ giàn khoan Hải Dương 981.Chính thời đó, Việt Nam, cũng tương tự Philippines hiện nay, giữ thế của mình, không để Trung Quốc lấn lướt, tìm cách minh bạch. Thậm chí, Việt Nam còn đưa phóng viên quốc tế trên tầu cảnh sát biển Việt Nam ra tận nơi để chứng kiến, thu hình, nghi âm và viết bài, đưa thành một vấn đề quan trọng, nóng hổi trong thời sự quốc tế. Philippines hiện nay cũng tương tự như vậy, có những chuyến tầu đưa phóng viên quốc tế ra tận nơi để ghi lại những sự kiện đó, họ minh bạch thông tin.Thế nhưng hiện nay, Việt Nam không hành xử kiểu như vậy nữa. Cách hành xử của Việt Nam gần như đi ngược lại cách ứng xử thời kỳ giàn khoan 981. Tức là suốt từ khoảng năm 2017 trở lại đây, Trung Quốc liên tục đưa tầu tầu hải cảnh, tầu dân quân biển vào sách nhiễu hoạt động kinh tế ở trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, trong những vùng khoan dầu khí của Việt Nam, thậm chí có những lúc khiến Việt Nam hủy bỏ hợp đồng, tốn kém đến cả tỉ đô la bồi thường cho các công ty. Thiệt hại rất lớn cho Việt Nam nhưng chính phủ không hề đưa thông tin ra ngoài như thời giàn khoan 981. Công luận Việt Nam gần như không động đậy gì. Đó là sự khác biệt rất lớn. Chúng ta không biết cụ thể tại sao. Tuy nhiên, có thể có một vài giải thích như sau.Thứ nhất, Việt Nam học được bài học. Tức là từ cùng một sự kiện giàn khoan 981, có người rút ra bài học : Muốn giữ được chủ quyền với Trung Quốc thì phải kiên quyết đối với họ, không được lùi bước, phải giữ những gì mình có quyền chiểu theo Luật Biển quốc tế, đồng thời phải hết sức minh bạch, đưa các nhà báo quốc tế, đưa công luận quốc tế vào để cho thế giới trông thấy sự thật. Đó là một bài học mà có thể một số người ở Việt Nam và ở Philippines đã rút ra và họ áp dụng hiện nay ở Bãi Cỏ Mây.Ngoài ra, người ta cũng có thể rút ra một bài học khác nữa. Bởi vì trong thời kỳ giàn khoan đó, ở Việt Nam đã xảy ra những sự kiện, biểu tình dẫn đến việc sát hại một số công nhân Trung Quốc, ví dụ làm việc ở khu vực Hà Tĩnh, rồi hàng loạt vụ phá hoại những công xưởng có chữ Hoa. Hồi đó đại đa số những công xưởng bị đập phá là của Đài Loan, chứ không phải Trung Quốc. Điều đó gây ra những bất ổn rất ghê gớm, gây rất nhiều thiệt hại về tài sản cho các công ty nước ngoài ở Việt Nam.Từ đó, có thể có một số người rút ra bài học : Nếu căng thẳng với Trung Quốc mà thông tin được đưa ra thì nhân dân sẽ bị lợi dụng và có thể dẫn đến những phản ứng quá khích, gây hậu quả xấu ảnh hưởng đến môi trường kinh doanh ở Việt Nam, thậm chí ảnh hưởng đến quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc… Bài học rút ra : Từ giờ, nếu có chuyện gì xảy ra ở Biển Đông, trừ trường hợp Trung Quốc đi quá vạch đỏ, như đặt một giàn khoan, còn nếu họ chỉ sách nhiễu, đưa tàu bè vào quấy nhiều thì thôi, cố gắng im lặng để tránh gây ra những sự kiện như thế.Còn một vấn đề nữa được gọi là “những ưu tiên chiến lược của lãnh đạo”. Như đã nói ở trên, Philippines thời tổng thống Duterte có những ưu tiên chiến lược khác với tổng thống Marcos Jr. hiện nay. Ông Duterte rất là nhũn với Trung Quốc. Khi Trung Quốc gây hấn thì ông không làm mạnh vì sợ gây ra chiến tranh bởi vì ưu tiên chiến lược của ông Duterte, về mặt quốc nội là chống ma túy, về đối ngoại là hướng tới thế ngoại giao cân bằng hơn. Ông Duterte không tin tưởng vào Hiệp ước Phòng thủ chung giữa Philippines và Mỹ, ông nghĩ đó chỉ là tờ giấy lộn và Mỹ không thực sự cam kết với thỏa thuận đó.Đây cũng là một kinh nghiệm lịch sử của ông Duterte đối với những gì mà tổng thống Mỹ Obama hành xử với Philippines năm 2012 khi có tranh chấp giữa Philippines và Trung Quốc ở khu vực bãi cạn Scarboroug. Khi đó Mỹ, thay vì đứng ra bảo vệ Philippines, lại đề xuất làm trung gian hòa giải. Chính vì thế Philippines mất Scarborough về tay Trung Quốc. Nhưng hiện nay, tổng thống Marcos Jr. lại có suy nghĩ khác và nhận thấy Mỹ đã có những cam kết mạnh mẽ hơn đối với Hiệp ước phòng thủ song phương cho nên ông ấy đã thể hiện cứng rắn hơn ở trong khu vực Bãi Cỏ Mây.Phải nói là ưu tiên chiến lược của mỗi lãnh đạo khác nhau. Rất có thể lãnh đạo Việt Nam bây giờ có những ưu tiên chiến lược khác so với thời kỳ năm 2014. Tuy cùng một tổng bí thư nhưng thủ tướng khác, rồi hoàn cảnh điều kiện khác.RFI : Việt Nam hiểu rằng tranh chấp ở Biển Đông sẽ kéo dài và tìm cách tránh xung đột quân sự. Vậy Việt Nam có chiến lược cụ thể như nào để có thể bảo vệ đòi hỏi chủ quyền ở Biển Đông ?Alexander Vuving : Về mặt chính thức, Việt Nam có mấy “K”, tức là “kiên quyết”, “kiên trì”… Còn cụ thể, chiến lược của Việt Nam ở Biển Đông, tôi tạm gọi là “mỗi thứ một chút”. Tức là Việt Nam sử dụng hầu như các công cụ từ quyền lực cứng đến quyền lực mềm để ứng xử với Trung Quốc ở Biển Đông.Quyền lực cứng như là tìm cách tăng cường lực lượng quân sự, đặc biệt trong chiến lược quân sự của Việt Nam có vấn đề hiện đại hóa quân đội, nhất là các binh chủng Hải quân và Không quân - những lực lượng sử dụng nhiều ở Biển Đông - thì đi trước một bước, tức là mua sắm nhiều trang thiết bị, tăng cường khả năng phòng thủ. Ngoài ra còn trang bị thêm cho những lực lượng bán quân sự như hải cảnh, dù không được bằng Trung Quốc nhưng dùng phương pháp “chiến tranh nhân dân” trên biển. Ngoài những biện pháp quân sự như vậy, Việt Nam còn thông qua những biện pháp phi quân sự, như giữ vững chủ quyền ở khu vực đặc quyền kinh tế bằng những hoạt động kinh tế, đặc biệt là khai thác dầu khí. Việt Nam cũng rất chú trọng đến hợp tác với các công ty dầu khí nước ngoài, của những nước lớn đứng sau, chẳng hạn của Nga, Mỹ, Ấn Độ, Nhật Bản để giữ chủ quyền ở Biển Đông. Có thể nói đây là một hình thức phần nào “quốc tế hóa”, dùng lực lượng phi quân sự từ bên ngoài răn đe Trung Quốc ở Biển Đông.Tiếp theo, trên các diễn đàn quốc tế, Việt Nam rất chịu khó đưa vấn đề Biển Đông ra cho các nước bàn thảo và để lôi kéo về phía mình, đặc biệt là giương cao ngọn cờ luật pháp quốc tế. Chẳng hạn Việt Nam lập ra một nhóm bạn bè ủng hộ Công ước Quốc tế về Luật Biển ở Liên Hiệp Quốc. Lúc đầu có khoảng hơn 10 nước, trong đó Việt Nam và Đức đồng chủ trì, hiện nay đã có 110-120 nước, có cả Nga và Trung Quốc.Ngoài ra, mỗi khi có tuyên bố chung giữa lãnh đạo Việt Nam với các nước, đều có câu nói về vấn đề Biển Đông. Việt Nam tìm mọi cách, phương pháp ngoại giao để lôi kéo các nước ủng hộ lập trường của mình ở Biển Đông rằng tuân thủ luật pháp quốc tế, hợp tác về kinh tế để đưa các nước vào nhằm tạo sự đan xen lợi ích của nước ngoài với mình, kể cả với Trung Quốc để làm cho họ bớt hung hăng, bớt chèn ép. Đó cũng là một phương pháp. Có hiệu quả hay không lại là một chuyện khác. Việt Nam cũng dùng cả tình đoàn kết anh em giữa hai đảng Cộng sản, một hình thức “quyền lực mềm” để làm Trung Quốc bớt hung hăng.Tóm lại, Việt Nam tìm mọi cách, mỗi thứ một chút, từ cứng cho đến mềm. Tuy nhiên, có thể hiểu là chiến lược của Việt Nam có rất nhiều mũi tên theo rất nhiều hướng. Nhưng mũi tên đó lúc dài lúc ngắn tùy theo thời kỳ. Về hiệu quả, cũng có lúc hiệu quả hơn, cũng có lúc kém hiệu quả.RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn giáo sư Alexander Vuving, Trung tâm Nghiên cứu An ninh Đông Nam Á tại Hawai, Hoa Kỳ.
2/26/202412 minutes, 31 seconds
Episode Artwork

François Bibonne và bản giao hưởng bóng đá Việt Nam

Sau bộ phim đầu tay “Once upon a bridge in Vietnam“ ( Ngày xưa có một nhịp cầu ở Việt Nam ), từng đoạt giải Phim tài liệu ngắn tại Los Angeles (Mỹ), đạo diễn trẻ mang hai dòng máu Pháp Việt François Bibonne vào tháng 11 vừa qua đã trở lại Việt Nam với dự án phim tiếp theo cũng về sự giao thoa giữa Pháp và Việt Nam, nhưng lần này nói về bóng đá, môn thể thao mà dân Việt Nam rất mê. Đó là bộ phim “The Symphony Wins” ( Bản giao hưởng chiến thắng ).  Trả lời RFI Việt ngữ, đạo diễn Francois Bibonne trước hết giải thích vì sao anh chọn đề tài bóng đá cho bộ phim tài liệu thứ hai của mình: “Tôi đã từng nghe nói về bóng đá Việt Nam, đầu tiên là về đội tuyển bóng đá nữ, mà ngay cả báo chí Pháp cũng đã nói đến khi họ lọt vào vòng chung kết Cúp thế giới. Tiếp đến, ông Philippe Troussier, trước đây là huấn luyện viên đội tuyển bóng đá quốc gia của Nhật Bản, đã được chọn để dẫn dắt đội tuyển nam của Việt Nam. Có rất nhiều yếu tố thúc đẩy tôi tìm hiểu về vai trò của môn bóng đá ở Việt Nam. Tôi muốn tiếp tục khám phá văn hóa Việt Nam, nhưng lần này là không phải là qua âm nhạc, mà là qua bộ môn bóng đá. Đúng là có rất nhiều điều thú vị.Đây quả là môn thể thao được ưa chuộng nhất ở Việt Nam, gây rất nhiều phản ứng cuồng nhiệt. Khắp nơi đều có các đội bóng đá, không chỉ ở thành phố mà ở thôn quê người ta cũng chơi bóng đá. Người dân tộc thiểu số cũng chơi môn này. Tóm lại cả nước chơi bóng đá! Họ còn nắm rất rành về bóng đá quốc tế, hơn cả tôi. Họ theo dõi sát các trận của giải bóng đá Anh Premier League, thuộc tên từng cầu thủ trong đội PSG… Nói chung là dân Việt Nam rất “trung thành” với bóng đá. Tôi cũng thấy là ở có nhiều trường dạy bóng đá và có nhiều cầu thủ từ các nước khác đến đá trong các câu lạc bộ của Việt Nam ở Hà Nội hay ở Sài Gòn,  nhờ vậy trình độ của bóng đá Việt Nam cũng được nâng cao. Tôi thấy Việt Nam là một quốc gia gia rất đoàn kết, một quốc gia còn rất trẻ và có thể nói bóng đá là một trong những cột trụ chính của đất nước. Bộ phim đầu tiên của tôi là nói về âm nhạc với yếu tố căn bản là dàn nhạc, còn lần này chính là đội tuyển bóng đá. Ở Pháp, khi đội tuyển quốc gia thi đấu chúng tôi rất hứng khởi, nhưng ở Việt Nam sự hứng khởi có lẽ lớn hơn nhiều, vì người dân rất ủng hộ đội tuyển quốc gia, ngay cả ở các vùng nông thôn và các vùng sắc tộc thiểu số.” Chính nhờ đã được biết đến nhiều ở Việt Nam qua bộ phim đầu tay “ Once upon the bridge in Vietnam”, cho nên François Bibonne đã được sự trợ giúp của giới báo chí trong nước để tiếp cận được huấn luyện viên đội tuyển Việt Nam Philippe Troussier: “Tôi đã tiếp xúc với Philippe Troussier bằng cách nhắn tin trên mạng Facebook nhờ người tìm dùm. Khi đọc được tin nhắn này, một số nhà báo Việt Nam đã liên lạc ngay với tôi và qua trao đổi thông tin, tôi đã có được địa chỉ email của Philippe Troussier, rồi có được số điện thoại của ông ấy. Sau mấy lần trao đổi với ông ấy, tôi đã có thể đến Liên đoàn Bóng đá Việt Nam để làm việc cho bộ phim. Tôi cũng được cấp thẻ phóng viên cùng với người bạn Louis, đi cùng với tôi trong chuyến quay phim đầu tiên, nên cả hai chúng tôi đã được phép vào xem các buổi tập luyện, quay phim và phỏng vấn, rồi từ đó tiếp cận được những người khác. Philippe Troussier là một huấn luyện viên khác hẳn những người tiền nhiệm. Ông nhậm chức vào thời điểm khó khăn đối với ông, bởi vì đội tuyển Việt Nam vừa giành chiến thắng trong giải SEA Games dưới sự dẫn dắt của huấn luyện viên người Hàn Quốc Park Hang Seo. Kế thừa một đội tuyển như vậy không đơn giản chút nào. Ông đã cải tổ lại cơ cấu đội tuyển, thay đổi rất nhiều tuyển thủ, điều mà không phải ai cũng hài lòng. Ông đã dám làm như thế vì ông không sợ làm những thay đổi lớn trong đội tuyển Việt Nam, như ông đã làm đối với đội tuyển Nhật Bản. Ông đã gặt hái nhiều thành công ở Nhật và rất tin tưởng đi theo cùng con đường đó.Không chỉ là huấn luyện viên, Troussier còn là một người rất trí   thức, có thể nói về nhiều chủ đề và chính ông đã khiến tôi mong muốn đem vào phim một tầm mức nghệ thuật. Tôi đã phỏng vấn ông ấy về âm nhạc, thậm chí hỏi ông ấy có tự xem mình là như một nhạc trưởng mà các nhạc sĩ chính là các cầu thủ hay không? Tôi rất thích sự so sánh đó. Ông không chỉ là một huấn luyện viên bóng đá, mà là một nhân vật độc đáo.” Như tên gọi của dự án phim tài liệu thứ hai, “The Symphony Wins”, trong phim, François Bibonne lồng vào đó rất nhiều giai điệu, đặc biệt là những làn điệu nhạc dân tộc thiểu số vùng Tây Nguyên:“Điều thấy rõ nhất, đó là khi xem các trận đấu bao giờ cũng có tiếng nhạc kèm theo, có những cổ động viên khua trống, có các đội kèn đồng, có những người hát quốc ca. Nhưng ngoài những điều đó, tôi muốn làm một cái gì đó mang tính nghệ thuật, dùng hình ảnh để gắn liền âm nhạc dân tộc Việt Nam với thể thao, mà ở đây là bóng đá. Tôi đặc biệt muốn nêu bật các nhịp điệu qua những nhạc cụ gõ như cồng chiêng của dân tộc thiểu số, như dân tộc Ba Na. Tôi đã quay người dân tộc Ba Na đánh cồng chiêng. Ta có thể ghép tiếng cồng chiêng với âm thanh khi cầu thủ chạm quả bóng. Nhưng không chỉ có tiếng chân cầu thủ chạm vào quả bóng, mà còn có nhảy cao, chạy nhanh, tung hứng như những nghệ sĩ xiếc, nhảy múa, …Ngoài bóng đá ở Việt Nam, tôi muốn nói đến bóng đá nói chung, để cho thấy cái đẹp của nó, không chỉ là một môn thể thao rất được ưa chuộng.”Cũng chính là qua một tháng ở Việt Nam để thực hiện bộ phim mà chàng trai mang hai dòng máu Pháp Việt đã một lần nữa được trở về nguồn và nhất là được khám phá văn hóa của các sắc tộc thiểu số: “Tôi đã bắt đầu ở Hà Nội, rồi sau đó đã đến Kon Tum và Pleiku. Tôi đến Pleiku vì ở đó có trường dạy bóng đá nổi tiếng với một phương pháp khá đặc biệt. Cũng nhân dịp này tôi tìm hiểu về các sắc tộc thiểu số ở vùng này. Gặp gỡ người dân sắc tộc Ba Na gây ấn tượng mạnh cho tôi, vì họ là những người rất gắn bó với văn hóa Pháp, thậm chí đã yểm trợ quân đội Pháp trong thời gian Chiến tranh Đông Dương. Họ là những người rất cởi mở, tôi đã ăn uống với họ, trải qua những buổi tối với họ, tôi thậm chí đã đi dự lễ với họ lúc 4 giờ 30 sáng để quay thánh lễ, thu âm những bài hát bằng tiếng Ba Na thật hay, cũng như thu âm tiếng cồng chiêng. Một lần nữa tôi giống như đang một lần nữa trở về nguồn gốc của mình, hiểu thêm về văn hóa Việt Nam. Cũng nhờ chuyến đi này mà phim của tôi có thêm một chút gì đó mang tính phiêu lưu, không chỉ đến các sân bóng đá, mà còn đi sâu vào các vùng quê để biết thêm về văn hóa địa phương. Dĩ nhiên là thực hiện một bộ phim tài liệu đòi hỏi rất nhiều thời gian, một tháng ở Việt Nam hoàn toàn không đủ để François Bibonne hoàn tất những gì đã dự kiến. Hơn nữa, theo anh, đề tài bóng đá khó hơn là âm nhạc:“Khó khăn đầu tiên của tôi là về thời gian, vì tôi đã chỉ có một tháng, cả tháng 11, trong khi lúc tôi làm bộ phim đầu tiên, do bị kẹt vì đại dịch Covid, tôi đã ở Việt Nam đến 15 tháng. Lần này tôi đã dự trù một tháng, nhưng thời gian đã không đủ để tôi làm tất cả những gì tôi muốn. Nhưng cũng chính điều đó đã thôi thúc tôi phải thực hiện bộ phim nhanh nhất có thể được. Một khó khăn khác là về thời điểm, vì các tuyển thủ có những trận đấu vào những ngày cố định và không phải lúc nào cũng có thể tiếp cận được các tuyển thủ, họ phải được sự cho phép của đội thì mới trả lời phỏng vấn được.Nói chung là việc thực hiện phức tạp hơn rất nhiều so với bộ phim đầu tiên. Đề tài bóng đá khó hơn là âm nhạc. Cho nên tôi sẽ phải quay lại Việt Nam để tiếp tục quay phim, phỏng vấn và tìm hiểu thêm về bóng đá Việt Nam. Làm phim tài liệu đòi hỏi nhiều thời gian, không thể làm hết mọi việc trong một lần. Nhưng nói chung, tôi gặp nhiều thuận lợi hơn là trở ngại trong đợt quay phim đầu tiên.”Thật ra thì khó khăn lớn nhất đối với François Bibonne chính là vấn đề tài chính, vì anh chưa được một công ty nào bảo trợ, hay đúng hơn là anh quá hào hứng với dự án của mình nên đã không chờ đến khi có bảo trợ rồi mới làm. Nhưng François Bibonne cho biết, trước khi thực hiện tiếp dự án phim, anh sẽ kêu gọi đóng góp tài chính, có thể là qua hình thức crowdfunding ( huy động vốn cộng đồng ), tức là mọi người có thể đóng góp tài chính trên trang mạng của anh www.studiothikoan.com để giúp cho dự án được hoàn thành và “gặt hái được thành công lớn hơn bộ phim đầu”Bộ phim tài liệu đầu tay của François Bibonne "Once upon a bridge in Vietnam" chính là dự án đầu tiên được thực hiện bởi studio Thi Koan mà François Bibonne lập ra và đặt theo tên của bà nội Nguyễn Thị Khoan. Nhà đạo diễn trẻ đã ở Việt Nam trong suốt 15 tháng giữa đại dịch Covid-19, đến dự những buổi hòa nhạc, biểu diễn âm nhạc truyền thống, những buổi tập luyện của các nghệ sĩ, hay đến thăm làng làm kèn đồng ở Nam Định, làng vĩ cầm ở Bắc Giang, tìm hiểu về việc duy trì dân ca quan họ ở Bắc Ninh, về ca trù tại Hà Nội…Thành công đã vượt quá sự mong đợi của nhà đạo diễn trẻ. Không chỉ đoạt giải Phim tài liệu ngắn hay nhất tại Liên hoan Phim Los Angeles, "Once upon a bridge in Vietnam" còn đã được trình chiếu ở rất nhiều nơi tại Việt Nam, Pháp và Hoa Kỳ. Nhân dịp Tết Nguyên đán, vào ngày 22/02/2024, bộ phim của François Bibonne cũng sẽ được chiếu tại tòa thị chính quận 13 Paris, vào lúc 19 giờ.
2/19/20249 minutes, 38 seconds
Episode Artwork

Việt Nam - Vatican : Ba thập niên nỗ lực cải thiện quan hệ

Tổng giám mục Ba Lan Marek Zalewski, đại diện thường trú đầu tiên của Vatican tại Việt Nam, nhậm chức ngay đầu năm 2024. Đây là sự kiện mang tính bước ngoặt, cho thấy những nỗ lực không ngừng của Tòa Thánh và Việt Nam trong suốt ba thập niên. Kết quả của quá trình cải thiện quan hệ song phương còn được thể hiện qua chuyến công du Vatican của chủ tịch nước Võ Văn Thưởng tháng 07/2023, tiếp theo là phái đoàn của đảng Cộng sản Việt Nam tháng 01/2024. Sắp tới, Việt Nam dự kiến lần lượt đón ngoại trưởng Tòa Thánh - tổng giám mục Paul Richard Gallagher và hồng y quốc vụ khanh Pietro Parolin.Trả lời RFI Tiếng Việt ngày 25/01/2024, giảng viên Trần Thị Liên Claire, chuyên về lịch sử tôn giáo ở Việt Nam, Đại học Paris Cité, nhấn mạnh đến vai trò, sự kiên nhẫn bền bỉ của ba nhân tố : Vatican, chính phủ Việt Nam và Giáo hội Việt Nam trong suốt hơn ba thập niên cải thiện quan hệ song phương.RFI : Vatican bổ nhiệm một đại diện thường trú ở Việt Nam. Hai bên đã trải qua một chặng đường như thế nào để đi đến được quyết định này ?Trần Thị Liên Claire : Quyết định này là kết quả của một quá trình khá dài, bắt đầu từ năm 1989 trong thời kỳ Đổi mới, lần đầu tiên một đại diện của giáo hoàng Gioan Phaolô II lúc đó là hồng y Etchegaray đã đến thăm Việt Nam. Kể từ đó, Hà Nội luôn duy trì mối quan hệ, trao đổi với đại diện của Tòa Thánh. Kinh tế lúc đó khó khăn và Việt Nam muốn mở cửa. Đến năm 1998, tổng thống Mỹ Bill Clinton đã đặt điều kiện hỗ trợ và mở cửa kinh tế với tự do tôn giáo. Cho nên có thể nói vì lý do kinh tế, Việt Nam đã cố gắng cởi mở về tôn giáo.  Đọc thêm : Hồng y Roger Etchegaray qua đờiTừ năm 2009, một tổ công tác hỗn hợp thường xuyên gặp nhau lúc ở Hà Nội, lúc ở Roma để tìm cách tái lập quan hệ ngoại giao. Năm 2011, tổng giám mục Girelli được bổ nhiệm làm đại diện Tòa Thánh không thường trú tại Việt Nam. Năm 2023 đánh dấu một chặng mới. Tổng giám mục Zalewski, sứ thần Tòa Thánh ở Singapore kiêm đại diện Tòa Thánh không thường trú tại Việt Nam, đã được bổ nhiệm làm đại diện thường trú của Tòa Thánh ở Hà Nội. Và đây là sự kiện đầu tiên kể từ năm 1976 sau khi khâm sứ Tòa Thánh cuối cùng bị trục xuất khỏi Việt Nam.Trong số những nước Cộng sản còn lại trên thế giới, chỉ có Cuba là có một đại diện như vậy, từ khá sớm, năm 1975 và ba giáo hoàng đã đến Cuba. Việt Nam là nước Cộng sản duy nhất ở châu Á có một đại diện thường trú của Tòa Thánh. Theo tôi, sự kiện này rất đặc biệt và quan trọng đối với cả châu Á, chứ không chỉ riêng Việt Nam.RFI : Có thể thấy là quá trình đàm phán kéo dài vài chục năm. Vậy đâu là những trở ngại để đến bây giờ mối quan hệ được cải thiện ?Trần Thị Liên Claire : Tôi nghĩ các cuộc đàm phán kéo dài trước tiên là vì hai phía có một quá khứ khó khăn và nhiều bất đồng. Nhưng quan trọng hơn cả là hai bên muốn đối thoại nên cần thời gian để lắng nghe, thấu hiểu nhau.Theo tôi, có rất nhiều trở ngại bởi vì kể từ năm 1975, mối quan hệ giữa Giáo hội và chính phủ Việt Nam rất căng thẳng. Ban Tôn giáo kiểm soát chặt chẽ mọi hoạt động tôn giáo, không đến mức đóng hết chủng viện, nhưng đi lại rất khó khăn, nhiều linh mục bị bắt, như linh mục Thuận, cháu của ông Ngô Đình Diệm, bị bắt ngay sau năm 1975. Đến năm 1989 thì mở cửa. Do bị khủng hoảng kinh tế trầm trọng nên Việt Nam phải thoát khỏi thế cô lập, nhất là sau khi quân đội Việt Nam tham chiến ở Cam Bốt, phải tái nhập vào cộng đồng quốc tế, gia nhập Tổ Chức Thương Mại Quốc Tế (OMC), trong khi Mỹ lại là nước quyết định. Do đó, đạo luật International Religious Freedom Act - IRFA của tổng thống Bill Clinton năm 1998 đã buộc Việt Nam phải cải thiện, phải tỏ thiện chí. Điều này cũng giải thích cho việc Hoa Kỳ công bố báo cáo thường niên về tự do tôn giáo ở Việt Nam.  Đọc thêm : Vatican được bổ nhiệm đại diện thường trú ở Việt Nam, một bước tiến quan trọng giữa hai nướcTôi nghĩ mối quan hệ được cải thiện là kết quả của ba yếu tố. Thứ nhất, ngoài lý do kinh tế, Việt Nam muốn thể hiện rằng khi trở lại trường quốc tế, họ cởi mở và sẵn sàng trao đổi với tất cả các bên. Đó chính là mong muốn tái hội nhập vào cộng đồng quốc tế, chứ không phải là muốn thể hiện khác với Trung Quốc. Nhưng phải nói rằng khả năng đối thoại của Hà Nội với Vatican cao hơn hẳn so với Bắc Kinh.  Yếu tố thứ hai là từ thời giáo hoàng Phaolô VI trong thập niên 1960, Vatican có chính sách hòa dịu với khối Cộng sản Đông Âu “Ostpolitik”. Theo đó, ưu tiên đối với Vatican là giáo dân, chiếm thiểu số ở những nước này nên phải sẵn sàng đối thoại với đảng Cộng sản. Giáo hoàng Phaolô VI kêu gọi chấm dứt chiến tranh Việt Nam và phải đối thoại với chính phủ Việt Nam. Có thể thấy ông khá dấn thân trong bối cảnh chiến tranh lạnh. Vì vậy, giám mục Parolin, hiện là quốc vụ khanh Vatican, đã đóng vai trò rất lớn trong tất cả các cuộc đàm phán. Ông là người đầu tiên đến Việt Nam năm 2004, cách đây 20 năm, và hiểu rất rõ Việt Nam do theo dõi các cuộc đàm phán trong suốt thời gian qua. Phía Việt Nam cũng biết ông rất rõ. Tôi cho rằng chính sự kiên nhẫn và khả năng trao đổi của ngoại trưởng và đặc biệt là của hồng y Parolin - người cũng theo dõi mối quan hệ với Trung Quốc - đã mang lại kết quả.Yếu tố cuối cùng là vai trò của Giáo hội Việt Nam, đã quen đối thoại với đảng Cộng sản từ năm 1975 để Cộng đoàn có thể tiếp tục thể hiện đức tin. Sau thời gian dài khó khăn đến năm 1989, nhiều linh mục đã có khả năng đàm phán và mang lại kết quả. Ví dụ năm 2008, hội Caritas của Giáo hội chuyên về các vấn đề xã hội, bị đóng cửa sau năm 1975, đã được mở cửa trở lại. Nhờ đó Giáo hội tham gia nhiều hơn vào hoạt động xã hội, như chăm sóc người mắc sida, người tàn tật, người nghiện hoặc trong suốt đại dịch Covid-19. Do đó, có thể thấy ba nhân tố chính giúp đạt được kết quả này : chính phủ Việt Nam, Vatican và Giáo hội Việt Nam.RFI : Việc bổ nhiệm một đại diện thường trú của Tòa Thánh tại Việt Nam có ý nghĩa như thế nào đối với Hà Nội, cũng như với Vatican ? Trần Thị Liên Claire : Đối với Việt Nam, đó là kết quả cho thấy rằng Việt Nam có thể tiến lên trong quan hệ ngoại giao, khác với trường hợp của Trung Quốc, hiện vẫn rất phức tạp. Thậm chí người ta nói rằng hồng y Parolin muốn dùng mô hình Việt Nam để thử cải thiện mối quan hệ giữa Vatican và Trung Quốc, ví dụ trong tiến trình bổ nhiệm giám mục. Trước đây ở Việt Nam cũng không dễ dàng gì nhưng theo tiến trình hiện nay, Vatican đề xuất 3 tên và chính phủ Việt Nam đưa ra ý kiến. Chỉ khi nào có đồng thuận thì giám mục mới được bổ nhiệm. Có thể thấy Bắc Kinh và Vatican không có khả năng đối thoại như vậy, bởi vì Trung Quốc có Hội Công giáo Yêu nước, được thành lập năm 1957, độc lập với Tòa Thánh.Đây cũng là điểm đặc biệt của Việt Nam, có nghĩa là chưa bao giờ có Giáo hội ly khai. Có lẽ là đảng Cộng sản Việt Nam cũng muốn nhưng không thành. Điểm khác biệt lớn so với Trung Quốc mang lại cho Việt Nam hình ảnh một đất nước cởi mở, có khả năng đàm phán với một Nhà nước tôn giáo, cũng như liên kết với Cộng đoàn, và cho thấy rằng chính phủ đối thoại với Vatican, đặc biệt là lời mời giáo hoàng tông du Việt Nam của chủ tịch nước Võ Văn Thưởng hôm 14/12/2023. Đây cũng là cách để giáo dân đánh giá cao quyết định này. Lần tiên sẽ có một giáo hoàng đến thăm một nước Cộng sản châu Á. Đọc thêm : Việt Nam và Vatican đồng thuận mở văn phòng đại diện thường trực của Tòa Thánh tại Hà NộiRFI : Trong thư gửi đến Giáo hội Việt Nam tháng 09/2023, giáo hoàng Phanxicô kêu gọi các tín hữu sống đúng tinh thần của “tín hữu tốt và công dân tốt”, nói một cách khác là hài hòa với chính sách của Nhà nước. Đây có phải là chủ ý của giáo hoàng ?Trần Thị Liên Claire : Tôi nghĩ đó là một chiến lược có từ rất lâu của Vatican. Vào khoảng thế kỷ 18 và 19, một giáo hoàng cử các nhà truyền đạo luôn nhắc nhở rằng “các vị không phải là đại diện cho một nước, các vị đến đó để truyền đạo và các vị phải tuân thủ chính quyền sở tại”. Điều này không có gì là mới.Theo suy luận của tôi, lịch sử Công giáo Việt Nam cho thấy giáo dân bị coi là đồng minh với thực dân Pháp, sau đó là với Mỹ. Cho nên ngay năm 1975, cha Bình, tổng giám mục Sài Gòn lúc đó, nói là sẽ hợp lực tái thiết quốc gia sau cuộc chiến kéo dài. Giáo hội Việt Nam chiếm số ít, chỉ 7% và muốn cho thấy là tuân thủ chính quyền. Ở Pháp cũng vậy, Giáo hội và mọi tôn giáo khác đều phải tôn trọng nước Cộng Hòa. Cho nên tôi không ngạc nhiên về yêu cầu của Vatican.Điều giáo hoàng muốn truyền tải là giáo dân tham gia vào đời sống xã hội, đồng thời cũng muốn nói là Vatican không đưa ra thông điệp chính trị. Tôi nghĩ rằng đây cũng là cách giải thích của Vatican đến giáo dân Việt Nam rằng giáo dân chúng ta là công dân của một đất nước và Giáo hội không kêu gọi phản đối chính phủ này. Điều này không chỉ đúng với mỗi Việt Nam mà còn với nhiều nước khác, nơi có những thiểu số tôn giáo khác. Đó là cách giáo hoàng muốn trấn an chính phủ Việt Nam rằng Giáo hội là một lực lượng năng động góp phần vào hài hòa xã hội. RFI : Trong tương lai, Việt Nam và Vatican có thể tiếp tục thảo luận về những chủ đề nào ? Trần Thị Liên Claire : Giáo dục là một vấn đề rất nhạy cảm vì người Công giáo không được thành lập trường học. Cho đến năm 1975, ở miền nam Việt Nam có rất nhiều trường học do nhà thờ quản lý nhưng sau đó bị đóng hết. Một trong hai thách thức trong những năm tới, đó là có thể mở được trường học không, trước tiên là tiểu học, rồi trung học cơ sở. Năm 2016, chính phủ Việt Nam đã chấp nhận thành lập Học Viện Công giáo, nhưng đó không phải là trường đại học như ở Paris, nơi dạy tất cả các môn. Dù vẫn chưa thực sự phát triển mạnh nhưng cho thấy là ý tưởng đã được thực hiện. Chúng ta chờ xem. Còn hiện giờ, giáo dục vẫn là lĩnh vực độc quyền của đảng Cộng sản.Chủ đề thứ hai cần được thảo luận là tài sản của Giáo hội, tương tự vấn đề tài sản với những tôn giáo khác. Đây là chủ đề rất phức tạp và sẽ phải được giải quyết theo từng trường hợp, chứ không chung chung. Tôi lấy một ví dụ về việc tịch thu tài sản của nhà thờ. Cuộc Cách mạng Pháp cũng đã tịch thu rất nhiều tài sản của Giáo Hội trong vài chục năm. Rất nhiều tài sản chưa bao giờ được trả lại cho Giáo hội. Do đó vấn đề không chỉ giới hạn ở Việt Nam, mà ở Pháp cũng vậy. Một ví dụ khác là tất cả các nhà thờ ở Pháp thuộc sở hữu của nhà nước và nếu một nhà thờ bị hỏng, nhà nước phải trùng tu. Đọc thêm : Quan hệ Việt Nam - Vatican còn nhiều trở ngạiTheo tôi, Vatican thực dụng và sẽ không đòi lại hết. Vatican, Giáo hội Việt Nam và chính phủ Việt Nam có thể trao đổi về từng trường hợp để có những tiến bộ từng bước. Việc có một đại diện thường trú của Vatican chắc chắn sẽ hỗ trợ Giáo hội Việt Nam thảo luận với chính quyền. Chúng ta chờ xem diễn biến tiếp theo khi tổng giám mục Zalewski đến Hà Nội : Sự kiện đó sẽ thay đổi mối quan hệ song phương, cũng như cách giải quyết các vấn đề như thế nào ? Và đặc biệt là chuyến viếng thăm của giáo hoàng.RFI : Liệu chuyến thăm của giáo hoàng có thể sớm diễn ra ? Trần Thị Liên Claire : Tôi nghĩ là có thể. Cách đây không lâu tôi đến Roma theo lời mời phỏng vấn của đài phát thanh Radio Vatican. Giáo hoàng bị ốm, không chắc là sức khỏe của ngài cho phép ngài tông du Việt Nam ngay. Nhưng điều chắc chắn là Việt Nam đã mời. Đó là lời mời đầu tiên mà Vatican đề nghị từ rất lâu. Giáo hoàng đã đến nhiều nước châu Á, nhưng lại chưa đến Việt Nam, nước đông giáo dân nhất, dĩ nhiên là trừ trường hợp Philippines. Việt Nam có 7% dân theo Công giáo, Hàn Quốc là 11% nhưng dân số Việt Nam đông hơn. Trong mỗi chuyến tông du của giáo hoàng ở những nước có rất ít giáo dân như Thái Lan, Mông Cổ, Miến Điện, luôn có một phái đoàn Việt Nam tham dự.Ngoài ra, tôi muốn nhấn mạnh đến thông báo mời giáo hoàng, được đưa ra ngày 14/12, ngay sau khi chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình rời Hà Nội. Tôi tin là chuyến thăm sẽ diễn ra. Nếu không phải là giáo hoàng Phanxicô thì sẽ là người kế nhiệm, nhất là từ giờ còn có một đại diện trường trú của Tòa Thánh ở Hà Nội. Chuyến tông du sẽ là một sự kiện rất quan trọng cho những giáo dân trông đợi từ rất lâu, cũng như cho đảng Cộng sản. Chuyến tông du sẽ mang lại lợi ích về mặt chính trị, cho thấy sự cởi mở của chính phủ vì chúng ta biết là hiện còn rất nhiều tồn đọng ở Việt Nam. Theo tôi, có thể là vào năm 2024, cùng lắm là 2025 nếu mọi chuyện tốt đẹp. Như tôi nói ở trên, Vatican muốn áp dụng mô hình Việt Nam cho mối quan hệ với Trung Quốc.RFI : Vậy chính phủ Việt Nam đánh dấu khác biệt với Trung Quốc trong cách xử lý vấn đề Công giáo và quan hệ với Vatican như thế nào ? Trần Thị Liên Claire : Tôi là nhà sử học nên tôi ngược dòng thời gian một chút để nhắc lại rằng trong văn hóa Nho giáo và trước thời kỳ thực dân, nước Đại Việt có Bộ Lễ quản lý vấn đề tôn giáo. Như vậy trong truyền thống xa xưa, chính quyền cũng quản lý các tôn giáo và điều này hoàn toàn phù hợp với Nho giáo. Tương tự tại Pháp, cũng có bộ Nội Vụ kiểm soát xem các tôn giáo hoạt động có phù hợp với nền Cộng hòa không. Điểm khác nhau, như tôi nói ở trên, là chỉ có 1% dân Trung Quốc theo Công giáo, còn Việt Nam là 7% và họ rất năng động.Đối với Việt Nam, lịch sử cho thấy rằng vấn đề Thiên Chúa giáo quan trọng hơn. Để chống quân Hán, rồi Pháp và Mỹ, Việt Nam luôn thúc đẩy đoàn kết dân tộc và đoàn kết dân tộc chính là tất cả mọi người, kể cả giáo dân. Trung Quốc không cần điều này. Tôi cho rằng Việt Nam khác hẳn với Trung Quốc về điểm này.  Điểm khác biệt thứ hai là Trung Quốc có Giáo hội Yêu nước từ năm 1957, không có liên hệ chính chức với Vatican. Còn Việt Nam, dù trải qua một giai đoạn khó khăn từ năm 1975 đến 1989, nhưng chưa bao giờ cắt đứt quan hệ với Vatican. Và điểm này làm thay đổi rất nhiều trong đối thoại.Điểm thứ ba là Nhà nước do đảng Cộng sản lãnh đạo kiểm soát mọi hoạt động tôn giáo ở Trung Quốc cũng như ở Việt Nam. Nhưng như đề cập ở trên, truyền thống đoàn kết dân tộc ở Việt Nam cho rằng người theo đạo cũng có một vị trí, tích cực tham gia các hoạt động xã hội... Một điểm khác biệt nữa, đó là từ năm 1989, Việt Nam cho phép chủng sinh, linh mục ra nước ngoài học tập, như ở Roma, Pháp, Philippines, Hoa Kỳ. Họ được đào tạo bài bản, kết nối hơn với thế giới và theo những chương trình đào tạo trình độ cao về thần học và còn giảng đạo tại giáo xứ ở nhiều nước khác. Trung Quốc thì ngược lại. Chủng sinh, linh mục không được phép tu nghiệp ở nước ngoài, phải ở lại Trung Quốc và khá bị hạn chế về trình độ. Đó chính là sự khác biệt về tinh hoa tôn giáo.RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn bà Trần Thị Liên Claire, giảng viên Đại học Paris Cité.
2/5/202415 minutes, 50 seconds
Episode Artwork

Biển Đông: Việt Nam dè dặt với các sáng kiến của Philippines

Tổng thống Philippines Ferdinand Marcos Jr. ngày 29/01/2024 bắt đầu chuyến viếng thăm cấp Nhà nước Việt Nam đến ngày 30/01. Riêng về vấn đề Biển Đông, nhân chuyến đi này, Marcos Jr. có lẽ sẽ cố thuyết phục Việt Nam ủng hộ đề xuất của ông về một bộ quy tắc ứng xử riêng giữa Philippines với Việt Nam và Malaysia. Nhưng nói chung Hà Nội vẫn dè dặt với những sáng kiến của Manila về vùng biển tranh chấp với Trung Quốc. Ngay trước khi kết thúc chức chủ tịch Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á ASEAN năm 2023, Indonesia đã huy động các ngoại trưởng của khối này đưa ra tuyên bố riêng về Biển Đông ngày 30/12 trong bối cảnh căng thẳng leo thang, đặc biệt là giữa Philippines và Trung Quốc. Bày tỏ “mối quan ngại”, tuyên bố của các ngoại trưởng ASEAN kêu gọi các quốc gia tranh chấp ở Biển Đông “ tự kiềm chế” và “tránh những hành động có thể làm phức tạp thêm tình hình”. Đặc biệt ASEAN đã đề cập đến “khu vực hàng hải của chúng ta” và tái khẳng định “sự thống nhất và đoàn kết” giữa các thành viên, trong đó có Philippines, một quốc gia sáng lập ASEAN đã có nhiều xung đột với Trung Quốc xung quanh khu vực Bãi Cỏ Mây ( Second Thomas Shoal ) trong vài tháng qua.Tuy nhiên, ASEAN đã không chỉ trích đích danh Trung Quốc, một đối tác thương mại lớn của khối và cũng không đưa ra bất kỳ trợ giúp cụ thể nào cho Philippines, ngoài việc nhắc lại cam kết về các cuộc đàm phán dường như không bao giờ kết thúc với Trung Quốc về Bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông COC. Một số nhà lãnh đạo ASEAN còn gián tiếp chỉ trích lập trường cứng rắn hơn của Philippines trong vùng biển tranh chấp với Trung Quốc. Vì thấy không thể trông chờ vào sự hỗ trợ của ASEAN, Philippines dường như đang muốn dựa vào liên minh chiến lược với các nước láng giềng có cùng chí hướng, đặc biệt là Việt Nam.Vào ngày 20/11/2023, ông Marcos Jr. tuyên bố Philippines đã tiếp cận các nước láng giềng như Việt Nam và Malaysia để xây dựng một “Bộ quy tắc ứng xử” (COC) ở Biển Đông riêng giữa ba nước, trong khi chờ bộ quy tắc ứng xử giữa ASEAN với Trung Quốc mà tiến trình đàm phán vẫn diễn ra quá chậm.  Đây không phải là lần đầu tiên tổng thống Marcos Jr. kêu gọi thúc đẩy các cuộc đàm phán COC riêng với các nước láng giềng của Philippines, vì ông muốn tận dụng ảnh hưởng tập thể để phản đối các điều khoản có lợi cho Trung Quốc trong bộ quy tắc ứng xử đang đàm phán với ASEAN. Đồng thời thông qua việc đe dọa đưa ra một COC riêng, tổng thống Philippines cố gây áp lực buộc Trung Quốc phải nhượng bộ trong hồ sơ này.Trả lời RFI Việt ngữ ngày 17/01/2024, nhà nghiên cứu Biển Đông Hoàng Việt nhận định về sáng kiến của tổng thống Marcos Jr.:“Philippines là một quốc gia nổi tiếng xưa nay có rất nhiều sáng kiến. Ngay cả sáng kiến đầu tiên về bộ quy tắc ứng xử COC từ những năm 1990 là bắt đầu từ phía Philippines. Chính vì vậy Philippines đã rất năng nổ trong việc tìm kiếm một bộ quy tắc ứng xử trên Biển Đông. Nhưng Philippines là một nền dân chủ, một tổng thống chỉ nắm quyền một nhiệm kỳ tối đa là 6 năm và chính sách có thể thay đổi rất nhiều, cho nên lập trường của Philippines về vấn đề này luôn luôn thay đổi. Dưới thời tổng thống Aquino III, Philippines đã khởi kiện Trung Quốc ra Tòa Trọng tài Thường trực. Nhưng đến 2016, khi Duterte trở thành tổng thống thì Manila lại xoay trục về phía Trung Quốc, hoàn toàn muốn thúc đẩy quan hệ với Trung Quốc. Đến thời tổng thống Marcos Jr. thì lại có thay đổi.Có lẽ đây là một sáng kiến tốt của Philippines? nhưng thành công của nó thì chúng ta còn phải cân nhắc và chờ xem. Chưa kể là từ 2012, các nước ASEAN đã thống nhất với nhau một bộ quy tắc ứng xử trên Biển Đông, gọi là bản dự thảo bộ quy tắc ứng xử số 0, do Indonesia khởi thảo. Tức là trước đó, do sự rất chậm trễ của tiến trình đàm phán về bộ quy tắc ứng xử, đã có những ý kiến rằng nên chăng các nước ASEAN tự mình đưa ra một bộ quy tắc ứng xử trên Biển Đông, rồi sau đó mới đưa Trung Quốc vào? Toàn bộ các nước ASEAN đã đồng ý với bản dự thảo của Indonesia. Sau đó, ASEAN đã mời Trung Quốc tham gia, nhưng Trung Quốc từ chối. Bản dự thảo bộ quy tắc ứng xử trên Biển Đông đó đã bị vứt vào sọt rác. ASEAN và Trung Quốc phải làm lại từ đầu trong tiến trình đàm phán về bộ quy tắc ứng xử trên Biển Đông, tại vì trong bộ quy tắc ứng xử này, Trung Quốc là bên tham gia cực kỳ quan trọng, bởi Trung Quốc hiện là cường quốc lớn nhất khu vực, cả về kinh tế và về quân sự. Nếu không có sự đồng ý của Trung Quốc thì rất khó. Mười quốc gia ASEAN đã đồng ý một bản dự thảo bộ quy tắc ứng xử trên Biển Đông thế mà vẫn chưa thể buộc Trung Quốc tham gia, thì liệu 3 quốc gia như Việt Nam, Malaysia, Philippines có thể khiến Trung Quốc chấp nhận ngồi vào bàn để đàm phán các điều khoản đó hay không? Tôi nghĩ là không chỉ Việt Nam, mà cả Malaysia đều phải cân nhắc kỹ vấn đề này.” Ngay sau tuyên bố của tổng thống  Marcos Jr. về việc soạn thảo một bộ quy tắc ứng xử riêng, phát ngôn viên bộ Ngoại Giao Trung Quốc Mao Ninh đã cảnh báo rằng “bất kỳ hành động nào rời xa khuôn khổ và tinh thần của Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông DOC đều sẽ vô hiệu”. Tuyên bố này không chỉ cho thấy Trung Quốc chống lại đề xuất của Marcos Jr., mà còn thể hiện quyết tâm của Bắc Kinh ngăn chặn Philippines gây rối loạn tiến trình đàm phán COC giữa ASEAN với Trung Quốc. Ngoài việc thuyết phục hai nước ủng hộ bộ quy tắc ứng xử riêng, Philippines còn đặt mục tiêu lôi kéo Việt Nam và Malaysia vào cuộc chiến chống lại Trung Quốc ở Biển Đông để củng cố vị thế thương lượng của mình. Thông qua hợp tác với các bên tranh chấp khác, Philippines cũng có ý định ngăn chặn Trung Quốc có những hành động gây hấn ở Biển Đông. Nhưng trong một bài viết đăng trên trang EastAsiaForum ( Diễn đàn Đông Á ) ngày 02/01/2024, ông Nian Peng, giám đốc Trung tâm Nghiên cứu châu Á Hồng Kông (RCAS), Hồng Kông, cho rằng Việt Nam và Malaysia khó có thể làm theo đề xuất của Marcos về việc xây dựng một COC riêng. Theo nhà nghiên cứu này, khác với Philippines, Việt Nam không có ý định khiêu khích Trung Quốc ở Biển Đông. Thay vào đó, Hà Nội chủ trương dùng biện pháp ngoại giao để quản lý một cách thận trọng các tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc mà không gây tổn hại quan hệ song phương. Việt Nam khó có thể tham gia phe chống Trung Quốc của Philippines.Đây phần nào cũng là ý kiến của nhà nghiên cứu Hoàng Việt: “Về mặt lý thuyết, rõ ràng Việt Nam luôn ủng hộ những sáng kiến nào khiến cho bộ quy tắc ứng xử trên Biển Đông sớm được ra đời và có hiệu lực, mà phải có tính pháp lý cao và phải dựa trên Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển năm 1982. Nhưng trên thực tế thì Việt Nam rất dè dặt với sáng kiến này của Philippines, bởi vì, như đã trao đổi ở trên, Philippines rất năng động đưa ra các sáng kiến, nhưng họ lại làm không chắc chắn, cho nên nhiều lúc Việt Nam lo rằng Philippines có những hoạt động mang tính “phiêu lưu” và điều này thì hoàn toàn Việt Nam không muốn, đặc biệt trong bối cảnh mà Việt Nam mới đưa mối quan hệ với Trung Quốc lên tầm cao hơn, sau chuyến đi của chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình sang Việt Nam vào tháng 12 năm ngoái.Nói cho cùng Việt Nam rất muốn ủng hộ Philippines hoặc là muốn Bộ Quy tắc ứng xử trên Biển Đông sớm ra đời, nhưng Việt Nam lo ngại, một là sự phiêu lưu trong các quyết định của Philippines, hai là sự chia rẽ vẫn còn rất lớn trong nội bộ ASEAN, ba là sức mạnh của Trung Quốc. Trung Quốc vẫn muốn sử dụng ASEAN và sử dụng Bộ Quy tắc ứng xử trên Biển Đông như là một công cụ để loại các quốc gia khác như Hoa Kỳ khỏi việc đàm phán này. Philippines là một đồng minh của Mỹ, nên dựa hẵn vào Mỹ, luôn viện dẫn Hiệp định hổ tương quân sự ký với Mỹ 1951. Trong khi đó, Việt Nam chọn cách khác, đó là dựa vào sức mình. Trong lúc Việt Nam đang "đu dây", gọi một cách chính thống hơn là "cân bằng quan hệ" với Mỹ và với Trung Quốc. Đương nhiên Việt Nam "cân bằng" không có nghĩa là sẽ nhượng bộ Trung Quốc trên vấn đề Biển Đông, một trong những vấn đề gay góc nhất trong mối quan hệ. Nhưng Việt Nam hiểu rằng tranh chấp Biển Đông sẽ kéo rất dài và trước mắt Việt Nam phải làm sao duy trì được môi trường hòa bình để tránh xung đột quân sự và để Việt Nam có không gian để phát triển được. Tức là phải vừa giữ được chủ quyền biển đảo của đất nước, nhưng phải duy trì được sự phát triển kinh tế và từ phát triển kinh tế mới tăng cường được sức mạnh quốc phòng của mình. Bản thân nhiều học giả Philippines bạn của tôi cũng đặt vấn đề là liệu Mỹ có thực tâm giúp Philippines hay không? Nghi ngại của họ không phải là không có lý: Vào năm 2012, Trung Quốc đã chiếm đoạt bãi cạn Scaborough của Philippines mà phía Mỹ chỉ đưa ra vài lời phản đối thôi, không đủ để khiến Trung Quốc dừng tay.”Còn Malaysia từ lâu đã duy trì cách tiếp cận không đối đầu trong các tranh chấp ở Biển Đông. Bất chấp căng thẳng ở Biển Đông, chính phủ Malaysia luôn nhấn mạnh đến giải pháp ngoại giao. Kể từ khi thủ tướng Anwar Ibrahim nhậm chức vào tháng 11/2022, quan hệ giữa Malaysia với Trung Quốc thậm chí còn chặt chẽ hơn. Ưu tiên hàng đầu của chính quyền Anwar là tăng trưởng kinh tế thay vì gây bất ổn ở Biển Đông. Indonesia cũng đã có những sáng kiến để quy tụ một số nước ASEAN đối đầu với Trung Quốc, nhưng vẫn không có kết quả mong muốn, như ghi nhận của nhà nghiên cứu Hoàng Việt: "Bốn quốc gia mà Trung Quốc luôn cho tàu xâm phạm liên tục vào vùng đặc quyền kinh tế là Việt Nam, Philippines, Malaysia và Indonesia. Năm trước, Indonesia đã có sáng kiến là thành lập liên minh cảnh sát biển giữa 4 quốc gia này hoặc cùng với các nước ASEAN. Nhưng cho tới nay, các bước tiến hành khá là chậm chạp.Indonesia cũng đã có sáng kiến là tổ chức các cuộc tập trận chung của các nước ASEAN. Năm vừa qua cũng đã có thực hiện nhưng không có nhiều nước tham gia, trong đó có Philippines."Dầu sao, vì là hai nước đều có tranh chấp chủ quyền với Trung Quốc ở Biển Đông và thường xuyên bị Trung Quốc sách nhiễu, uy hiếp ở vùng biển này, Việt Nam và Philippines buộc phải tăng cường hợp tác chiến lược để đối đầu với địch thủ chung. Cụ thể, theo báo chí Philippines, nhân chuyến viếng thăm Việt Nam của tổng thống Marcos Jr., Manila và Hà Nội sẽ ký kết Bản ghi nhớ (MOU) về hợp tác giữa lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam và Tuần duyên Philippines. Về kinh tế, tổng thống Marcos Jr. hy vọng trong chuyến đi lần này Manila sẽ ký được với Hà Nội một hiệp định mua gạo của Việt Nam để bảo đảm an ninh lương thực cho Philippines.
1/29/20249 minutes, 19 seconds
Episode Artwork

Hồi sinh một biệt thự Pháp : Mô hình bảo tồn công trình cổ ở Hà Nội

Nằm ở khu đất vàng Hà Nội và bị bỏ hoang từ nhiều năm, căn biệt thự Pháp cổ ở số 49 Trần Hưng Đạo - 46 Hàng Bài, dự kiến đón khách tham quan dịp Tết Nguyên đán sau hơn một năm trùng tu. Thêm một địa điểm ở Hà Nội để công chúng có thể tìm hiểu sự giao thoa văn hóa, kiến trúc và lối sống tại khu phố Pháp đầu thế kỷ XX. Đây cũng là kết quả hợp tác giữa UBND quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội và đơn vị cố vấn là vùng Ile-de-France và Cơ quan hỗ trợ Hợp tác Quốc tế vùng Ile-de-France tại Việt Nam (PRX).Biệt thự có hai lối vào, nhưng lối chính nằm ở 49 Trần Hưng Đạo, theo giải thích của ông Emmanuel Cerise, giám đốc PRX, hỗ trợ chuyên môn cho dự án :“Khi chúng tôi bắt đầu trùng tu ngôi nhà, gian phòng chính ở tầng trệt nhìn ra phố Hàng Bài đã được mở thêm một cửa kính lớn để làm cửa hàng. Nhìn như vậy, ta có cảm giác là lối vào chính nằm ở phố Hàng Bài. Nhưng nhìn vào bố cục và lịch sử của ngôi nhà thì lại khác.Vì đây là một tư dinh nên không có nhiều tài liệu lưu trữ, khác với các công trình công được xây dựng lúc đó. Tuy nhiên, người ta có thể thấy ngôi nhà này xuất hiện trên rất nhiều bản đồ quy hoạch đô thị hoặc quân sự của thành phố Hà Nội. Ví dụ ngôi nhà này không có trên một bản đồ năm 1893, nhưng xuất hiện trên một bản đồ năm 1895, 1898. Như vậy có thể áng chừng thời gian xây dựng biệt thự này trùng thời điểm mở đại lộ Gambetta (phố Trần Hưng Đạo hiện nay), nằm trong số bốn trục lộ lớn của khu phố Pháp. Đây là phố cuối cùng ở phía nam Hà Nội.Biệt thự được xây xong cùng lúc đại lộ Gambetta hoàn tất. Lúc đó, phố Hàng Bài (hiện giờ rộng như phố Trần Hưng Đạo) chỉ là một đường mòn để ra khỏi thành phố. Cho nên có thể hình dung rằng lối vào chính là từ phố Trần Hưng Đạo, lúc đó là đại lộ mới mở. Phía Hàng Bài có lẽ là một khu vườn rất rộng, gấp đôi diện tích vườn hiện nay và là khu riêng tư của biệt thự. Căn cứ vào bố cục biệt thự, từ phía Trần Hưng Đạo, chúng ta bước vào một gian dẫn đến phòng khách, phòng ăn, khu vực cầu thang lên tầng. Bố cục này hoàn toàn phù hợp với “lối vào” theo kiểu Pháp”.Kiến trúc Pháp thích ứng với điều kiện tự nhiên Việt NamKhu sân nhỏ dẫn đến bậc tam cấp lên nhà. Ngay bên trái cầu thang là tấm kính che một phần nền cũ của ngôi nhà, thấp hơn nền sân hiện tại, được phát hiện trong quá trình trùng tu.“Khi đào móng làm lại cầu thang đã bị phá, chúng tôi phát hiện ra nền móng cũ của biệt thự, thấp hơn 45 cm so với nền hiện nay. Phần hiên được lát gạch, tiếp theo là rãnh nước cách tường nhà khoảng 1 mét, tất cả chạy vòng quanh ngôi nhà để nước không trôi vào làm hỏng nhà. Rãnh này cũng làm ranh giới giữa phần hiên gạch và vườn ở phía bên kia. Chúng tôi giữ lại một phần hiên và rãnh gần lối vào chính và lắp kính ở trên, bởi vì khu vực mở này còn cho phép thấy được “khu bán hầm vệ sinh”. Thực ra đây là phần trống nhằm tách nền nhà khỏi mặt đất để tránh hơi ẩm, vì chúng ta biết là ở Việt Nam mưa nhiều, Hà Nội nằm ở đồng bằng nên các mạch nước ngầm rất gần. Nhờ cách làm này, ngôi nhà đã gần 130 tuổi vẫn là một công trình còn khá sạch vì không bị ẩm.Đó là những chi tiết nhỏ mà chúng tôi muốn giữ lại để cho thấy những phần không còn. Ngôi nhà có hai hệ thống chống ẩm hiệu quả : rãnh thoát nước để tránh tù đọng và tầng bán hầm vệ sinh làm vùng đệm giữa tường, nền nhà và mặt đất. Xây nhà trên tầng bán hầm như này thường tốn kém hơn, nhưng rất hiệu quả để chống ẩm. Thường thì trong những ngôi nhà không được xây theo hệ thống này, ẩm mốc sẽ lan khắp nhà”.Sau cánh cửa chính là gian phòng dẫn đến nhiều phòng khác và khu cầu thang, được ông Emmanuel Cerise nói ở trên. Trần nhà trơ khung thép, tường cầu thang cũng không được trát. Nhưng đây là chủ ý trong dự án nhằm “giải thích một số kỹ thuật Pháp được thích ứng ở Việt Nam”.“Trần ở đây được làm từ các cột thép, gọi là xà dọc, thêm một lớp rầm, sau đó là sàn của tầng trên. Đây không phải là kỹ thuật truyền thống Việt Nam. Ở Pháp, trần nhà thường được trát thạch cao. Nhưng ở nhà này không có, vì quá ẩm. Có thể vào đầu thời Pháp, người ta cũng dùng thạch cao, nhưng không được lâu vì không chịu được không khí quá ẩm ở Việt Nam, nên họ sử dụng hỗn hợp vôi rơm. Chúng tôi thấy chúng dính trên kèo nhà và trên đinh. Đó là kỹ thuật truyền thống được sử dụng ở những nước nóng ẩm châu Á. Chúng tôi áp dụng kỹ thuật đó trong những căn phòng khác, trừ gian này để cho thấy khung trần nhà ban đầu. Mái ở tầng trên cũng được để như vậy.Ở khu vực cầu thang lên tầng, chúng tôi cũng không trát một số chỗ, để lộ gạch gốc trên tường. Mục đích là nhằm giải thích một chút về kiểu kỹ thuật khá đặc biệt này ở cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX”.Tương tự trên nền nhà, một vài viên gạch bị thiếu vẫn để trống.“Nền nhà tầng trệt (tầng 1) vẫn giữ được gạch lát gốc hình lục lăng. Chúng tôi đã cậy 1, 2 viên để xem và thấy tên một công ty ở tỉnh Var (miền nam Pháp), giờ không còn, được in trên đó. Những viên gạch này mang đặc trưng của tỉnh Var. Chúng tôi không rõ ngói ở biệt thự này có điểm đặc biệt gì, không nhưng ở nhiều ngôi nhà khác ở Việt Nam, rất nhiều ngói cũ được in tên từ Marseille (miền nam Pháp) bởi vì đó cũng là một hải cảng, nơi xuất phát mọi hàng hóa. Cho nên gạch lát đến từ Var và ngói đến từ Marseille là chuyện bình thường”.Đi hết cầu thang xoắn ốc, được làm lại hoàn toàn bằng thép và gỗ vì cầu thang cũ không còn, là đến tầng hai, chủ yếu gồm các phòng ngủ, phòng làm việc, đầy ánh sáng từ cửa sổ được lắp khắp nơi.“Khung kèo mái được làm bằng kim loại. Khi được giao trùng tu, biệt thự chỉ còn khung kèo, không còn lợp. Khung kèo mái được làm theo đúng kỹ thuật truyền thống cuối thế kỷ XIX ở Pháp, có nghĩa là làm bằng thép. Xây dựng bằng kim loại phát triển rất mạnh tại Pháp vào thời kỳ đó, như chúng ta thấy tháp Eiffel, rất nhiều cây cầu bằng thép. Vì thế, thép được sản xuất rất nhiều. Nhưng ở Việt Nam lại không có, vì chính quyền thuộc địa không phát triển ngành luyện kim tại đây, cho nên họ đã nhập xà thép từ Pháp để làm khung kèo, lắp thêm xà gồ để giữ ngói. Ngói cũng không có ở Việt Nam. Thực ra là không rõ lắm ! Nhưng chắc chắn là chúng tôi không tìm thấy ngói trong những ngôi nhà khác nên những viên ngói đầu tiên cũng được nhập từ Pháp”.Nguyên nét đặc trưng biệt thự Pháp cổCác gian trong biệt thự được phân bổ theo đúng kiến trúc Pháp thời đó. Lối vào, phòng khách, phòng ăn nằm ở tầng 1, trên tầng là các phòng ngủ, một nhà tắm, một nhà vệ sinh. Nhưng điều ngạc nhiên, được kiến trúc sư Emmanuel Cerise nhắc đến, là trong nhà không có vết tích của bếp.“Thực ra, vào thời đó, các biệt thự Pháp đều có một nhà phụ nơi những người giúp việc (được gọi là “boys”) là người Việt sinh sống và cũng làm nhà bếp. Khi đào sâu thêm dưới đất, chúng tôi thấy móng của một nhà phụ đó nhưng bị phá hoàn toàn nên không thể biết thêm được gì.Vì vậy, chúng tôi quyết định xây thêm một khu phụ, trong đó có nhà vệ sinh để không phải xây thêm nhà vệ sinh trong biệt thự chính, có nghĩa là sẽ không phải đấu nước và sẽ tránh được nguy cơ rò rỉ nước mà chúng ta vẫn biết hệ thống nước thải hiện vẫn khá phức tạp ở Việt Nam. Ngoài ra, trong ngôi nhà phụ đó còn có một gian lớn mà chúng tôi muốn mở một hàng cà phê để khách tham quan có thể lên trần, nhâm nhi cà phê ngắm biệt thự từ trên cao”.Gạch, ngói thay thế được sản xuất tại Việt Nam. Biệt thực được quét vôi màu vàng và đỏ đậm. Khi mới quét xong, mầu vôi mới bị chê là “chưa thuận mắt” nhiều người. Ông Emmanuel Cerise giải thích cách tìm ra màu gốc.“Vì biệt thự bị bỏ hoang từ lâu và được sơn đi sơn lại nhiều lần. Chúng tôi cạo hết các lớp trát sau này và phát hiện ra lớp sơn cũ. Ở Pháp rất dễ làm lại được loại sơn cũ, chỉ cần gửi mẫu tới một phòng thí nghiệm để phân tích thành phần hóa học màu gốc, cũng như vật liệu gốc đã được sử dụng. Khi bắt đầu cải tạo ngôi nhà này, chúng tôi cũng lấy mẫu. Tôi đề xuất gửi sang Pháp phân tích, vì ở Việt Nam hiện chưa có cơ quan nào có thể phân tích kiểu này, nhưng phía đối tác Việt Nam cho rằng không thực sự cần thiết. Đó có thể là một trong những hạn chế, tương tự với gạch lát, lẽ ra cũng nên nhập từ Pháp. Nhưng có lẽ hơi phức tạp cho phía Việt Nam”.Công trình thí điểm cho gần 100 biệt thự cổ ở Hà NộiBiệt thự số 49 Trần Hưng Đạo - 46 Hàng Bài là công trình biệt thự đầy tiên của Hà Nội được làm một cách bài bản và có kinh phí lên gần 15 tỷ đồng.“Tại sao lại chọn biệt thự này ? Vì người ta nghĩ là ngôi nhà bị ma ám. Tôi không biết hết chuyện, nhưng hình như là ai đó đã chết thảm thương trong nhà. Người Việt khá mê tín nên không muốn sống trong ngôi nhà bị ma ám. Dù ngôi nhà nằm giữa trung tâm thành phố, được coi là khu đất vàng, nhưng chẳng ai quan tâm đầu tư vào ngôi nhà.Trước đó, trong khu đất của biệt thự này có 25 hộ gia đình sinh sống, nhưng không ai sống trong ngôi nhà rộng 100 m2, cao hai tầng, có nghĩa là khoảng 200 m2, trên toàn bộ diện tích đất 900 m2. Ngôi nhà bị bỏ hoang, còn người dân sống trong những căn nhà tạm trong vườn. Quá trình bồi thường, tái định cư cũng kéo dài. Phía đối tác Việt Nam của chúng tôi tốn rất nhiều thời gian để giải tỏa khu đất”.Là dự án thí điểm để trùng tu khoảng 100 biệt thự Pháp trong kế hoạch của thành phố Hà Nội, biệt thự 49 Trần Hưng Đạo sẽ trở thành Trung tâm Thông tin Phố cũ (theo mô hình Centre d’interprétation du Patrimoine - Trung tâm giải thích di sản của Pháp) nhằm giới thiệu : Cuộc sống của một gia đình Pháp vào thời kỳ đó ra sao ? Sự giao thoa văn hóa Pháp-Việt diễn ra như nào ?
1/22/202410 minutes, 30 seconds
Episode Artwork

Pháp khó “chen chân” vào thị trường vũ khí Việt Nam

Năm 2023, Việt Nam và Pháp đánh dấu kỉ niệm 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao và 10 năm quan hệ Đối tác chiến lược. Pháp là đối tác thương mại châu Âu lớn thứ hai của Việt Nam, hỗ trợ Việt Nam trong rất nhiều lĩnh vực từ khoa học công nghệ đến văn hóa. Về quốc phòng, hai nước đã ký Tuyên bố Tầm nhìn chung về hợp tác quốc phòng giai đoạn 2018-2028 và Hiệp định khung về hợp tác quốc phòng. Tuy nhiên, hợp tác quốc phòng giữa hai nước hiện chỉ dừng ở “phần mềm”. Hoạt động song phương gần đây nhất là Đối thoại hợp tác và chiến lược quốc phòng Việt - Pháp lần thứ ba tại Paris ngày 18/12/2023. Theo trang Vietnam News ngày 20/12, hai bên nhất trí trong thời gian tới, “tiếp tục thúc đẩy hợp tác quốc phòng thiết thực, hiệu quả […] nghiên cứu ký kết Bản ghi nhớ về hợp tác, huấn luyện, tăng cường hợp tác quân y, hợp tác về an ninh biển, an ninh mạng, chống khủng bố và khắc phục hậu quả sau chiến tranh”.Dù Việt Nam đang tìm cách đa dạng hóa nguồn cung vũ khí, Pháp vẫn không thể “chen chân” với các đối tác khác của Hà Nội. Lý do tại sao ? RFI Tiếng Việt đặt câu hỏi với nghiên cứu sinh Nguyễn Thế Phương, chuyên về an ninh hàng hải và các vấn đề hải quân, Đại học New South Wales, tại Canberra, Úc.RFI : Một số nhà sản xuất vũ khí, trang thiết bị quốc phòng Pháp tham gia Triển lãm Quốc phòng Quốc tế 2022 và cho biết sẵn sàng hợp tác với các đối tác Việt Nam. Hiện giờ Pháp hợp tác với Việt Nam trong những mảng nào ?Nguyễn Thế Phương : Hiện nay, quan hệ quốc phòng Việt-Pháp có nhiều mảng khác nhau, có cả mua bán vũ khí, nhưng phần lớn liên quan đến những lĩnh vực hợp tác mang yếu tố ngoại giao quốc phòng. Ví dụ Pháp hỗ trợ Việt Nam mảng gìn giữ hòa bình. Pháp đào tạo cho các sĩ quan Việt Nam một số mảng như quân y, tình báo, công nghiệp quốc phòng. Hai bên phối hợp tăng cường thấu hiểu lẫn nhau, như trao đổi quan điểm trong các tổ chức đa phương.Mối hợp tác như vậy nổi trội hơn hẳn so với “phần cứng”, ví dụ mua bán vũ khí. Hiện nay, chỉ có Airbus là có hợp tác quốc phòng “sâu rộng” với Việt Nam. Nhưng phải nói Airbus không phải là của Pháp mà là của châu Âu. Mua bán ở đây chủ yếu là máy bay trực thăng. Việt Nam hiện có tầm 12-15 máy bay trực thăng mua từ Airbus. Mối quan hệ giữa quân đội Việt Nam với Airbus cũng tương đối ổn khi mà danh mục mua sắm vũ khí của Việt Nam đang quan tâm tới rất nhiều loại máy bay. Mục đích chủ yếu hiện nay mới là tìm hiểu và xem sắp tới Việt Nam có thể hợp tác nhiều hơn với Pháp hay không, đặc biệt là thông qua Airbus.Ngoài lĩnh vực hàng không còn phải nói đến lĩnh vực vũ trụ khi mà Pháp hỗ trợ Việt Nam trong vấn đề chế tạo một số loại vệ tinh nhỏ, ví dụ VNREDSat. Đó là một loại vệ tinh mà Việt Nam và Airbus hợp tác với nhau liên quan tới hàng không vũ trụ. Còn những vấn đề mua bán vũ khí không được nổi trội lắm.Hiện tại, hợp tác quốc phòng Việt-Pháp không nổi bật lắm khi so với hợp tác quốc phòng giữa Việt Nam với các nước khác, ví dụ với Israel hay với Ấn Độ.RFI : Vũ khí, khí tài của Pháp - một trong những cường quốc quân sự hàng đầu thế giới - vắng bóng trong kho của Việt Nam. Đâu là lý do giải thích cho hiện tượng này ?Nguyễn Thế Phương : Có khá nhiều lý do. Hợp tác quốc phòng Việt-Pháp thực ra đã được khởi động từ những năm 1990 khi Việt Nam bắt đầu bình thường hóa với các nước phương Tây, cũng như tìm cách hội nhập với thế giới. Một trong những nước đầu tiên mà Việt Nam tiếp cận liên quan đến vấn đề hiện đại hóa, chính là Pháp. Điển hình là hợp đồng Việt Nam muốn mua khoảng 12 máy bay Mirage-2000 của Pháp trong những năm 1995-1996. Hợp đồng đó bị đổ bể bởi vì trong giai đoạn đó Việt Nam vẫn bị cấm vận vũ khí. Mỹ là nước ngăn cản thương vụ đó.Từ giai đoạn đó cho tới gần đây, rõ ràng là vũ khí Pháp, đặc biệt là các vũ khí mang tính “nóng”, tức là đánh nhau được và các vũ khí phức tạp, hoàn toàn không thể chen chân vào thị trường vũ khí Việt Nam được.Thứ nhất là do vấn đề chính trị, cấm vận vũ khí tới tận 2016 Mỹ mới dỡ bỏ. Thứ hai là vấn đề tích hợp. Điểm này cũng giống với tất cả các loại vũ khí phương Tây khác khi mà Việt Nam đã sử dụng vũ khí hệ Nga-Liên Xô quá lâu. Có nghĩa là toàn bộ chi phí vận hành, bảo dưỡng, huấn luyện, mua sắm liên quan đến hệ vũ khí Nga-Liên Xô nên khi chuyển đổi một hệ vũ khí khác thì sẽ rất tốn kém. Nhưng đó chỉ là một phần. Điểm tiếp theo là giá của vũ khí, đặc biệt là các loại như máy bay, tầu chiến, có nghĩa là các loại vũ khí lớn của Pháp quá mắc. Điều này dẫn tới Việt Nam khá e ngại mua các loại vũ khí của Pháp nói riêng. Vì ngoài Airbus, Pháp còn có nhiều nhà thầu lớn như Dassault, nhưng những loại vũ khí đó so với nhu cầu của Việt Nam hiện tại thì giá thành mắc. Cho nên Việt Nam phải có những lựa chọn khác, rẻ hơn nhưng phù hợp với chi phí vận hành, bảo dưỡng, huấn luyện mà Việt Nam hiện có. Đó cũng là một trong những ba lý do chính.Ngoài ra còn có những lý do đằng sau, ví dụ liên quan đến tham nhũng. Ví dụ hợp đồng Việt Nam mua ba máy bay vận tải tầm trung của Airbus. Mặc dù không liên quan đến Pháp lắm nhưng có vấn đề liên quan đến cách hai bên mua sắm vũ khí. Quá trình mua sắm vũ khí gặp phải một số bất trắc dẫn tới là hai bên nhiều khi không tìm được tiếng nói chung để có thể đi tới hoàn tất hợp đồng đó. Tham nhũng là một phần. Đây là một yếu tố phụ.Do đó, vũ khí Pháp, cho tới thời điểm hiện tại, hầu như vắng bóng trong toàn bộ quá trình thảo luận liên quan đến hiện đại hóa, cả trong quá khứ lẫn hiện tại.RFI : Chúng ta thấy Pháp bán vũ khí cho Indonesia, Malaysia. Ngoài những lý do như vừa nêu về giá, khả năng tích hợp, cấm vận cho đến năm 2016, liệu còn có trở ngại nào khác không, ví dụ vấn đề địa-chính trị, điểm nóng Biển Đông có liên quan đến Trung Quốc ?Nguyễn Thế Phương : Vấn đề ở đây không phải là từ phía Pháp mà là nhu cầu, cũng như sự lựa chọn của Việt Nam như thế nào. Vấn đề chính từ phía Việt Nam cũng không hẳn là vấn đề lo ngại Trung Quốc hay điều gì khác. Bởi vì nếu lo ngại với Trung Quốc thì Việt Nam đã không hợp tác sâu hơn với Mỹ về vấn đề quốc phòng. Tức là Việt Nam đã hợp tác với Mỹ rồi thì không có cớ gì mà không hợp tác với Pháp được cả. Phải nhấn mạnh như vậy !Cái chính vẫn là liên quan tới vấn đề giá cả, cũng như lợi ích của loại vũ khí. Bởi vì hiện nay, so với các loại vũ khí Pháp, đặc biệt là những loại vũ khí lớn như máy bay chiến đấu, tầu chiến, thì lựa chọn thay thế của Việt Nam rất là nhiều. Mặc cho cuộc chiến của Nga ở Ukraina, quan hệ hợp tác quốc phòng Việt-Nga hiện nay vẫn tốt. Ngoài ra còn có rất nhiều quốc gia khác có thể cung cấp vũ khí tương tự với giá rẻ hơn, ví dụ trong tương lai là Hàn Quốc hoặc các quốc gia Đông Âu như CH Séc và đặc biệt là Mỹ, khi mà quan hệ Việt-Mỹ giờ đã lên mức “đối tác chiến lược toàn diện” thì khả năng trong tương lai ngắn, tầm 5 năm nữa, Mỹ chuyển giao cho Việt Nam một số loại vũ khí “bự”, chẳng hạn máy bay, có tin đồn Mỹ có thể cung cấp F-16 cho Việt Nam.Điều này dẫn tới khả năng cạnh tranh của các loại vũ khí Pháp nói riêng và Tây Âu nói chung ở thị trường Việt Nam hiện nay tương đối là yếu và khả năng có được một hợp đồng lớn nào đó giữa Việt Nam và Pháp hiện nay khá là thấp.Ngoài những vũ khí mà Tây Âu có thế mạnh, như trực thăng, cũng như những loại máy bay vận tải tầm trung, thì còn có khả năng nhưng thị trường đó hiện cũng bị cạnh tranh rất gay gắt, trong đó phải kể đến những nước có thể cạnh tranh nhất, ví dụ Nga - thị trường truyền thống của Việt Nam, tiếp theo là Hàn Quốc khi họ bắt đầu vươn lên thành một quốc gia xuất khẩu vũ khí đứng hàng thứ 4, thứ 5 trên thế giới. Do đó, khả năng cạnh tranh của vũ khí Pháp hiện nay ở thị trường Việt Nam cũng xuống đi rất nhiều.Nói tóm lại vẫn là yếu tố khả năng cạnh tranh của vũ khí Pháp và nhu cầu của Việt Nam thông qua đánh giá về giá cả cũng như lợi ích mà vũ khí đó mang lại cho Việt Nam cũng như với chiến lược quốc phòng tổng thể của Việt Nam. Còn vấn đề liên quan đến địa-chính trị cũng có nhưng không quan trọng trong cân nhắc của Việt Nam, đặc biệt là liên quan đến mua bán vũ khí hoặc tiềm năng hợp tác quốc phòng với Pháp.RFI : Vậy trong tương lai, Pháp và Việt có thể tiếp tục hợp tác trên khía cạnh nào ?Nguyễn Thế Phương : Vấn đề có thể được đẩy mạnh trong tương lai là hai bên tăng cường hợp tác công nghiệp quốc phòng. Ví dụ Pháp và Việt Nam có một số chương trình hợp tác chung để phát triển chung một loại vũ khí nào đó hoặc phát triển được một công nghệ vũ khí nào đó cho Việt Nam. Điều này có thể có khả năng xảy ra, thậm chí là còn cao hơn rất nhiều so với việc Việt Nam mua một loại vũ khí nào đó của Pháp. Bởi vì chính sách hiện nay của Việt Nam cũng là ưu tiên tăng cường kết nối giữa Việt Nam và các nước tiên tiến và giúp đỡ Việt Nam phát triển công nghiệp quốc phòng thay vì mua sắm vũ khí của nước ngoài.Ưu tiên này cũng dẫn tới khả năng trong tương lai ngắn sẽ không có một hợp đồng lớn nào liên quan đến kiểu mua máy bay, tầu ngầm, tầu chiến mà chỉ là những “phần mềm” đằng sau : hợp tác về gìn giữ hòa bình, huấn luyện cũng như là liên quan tới công nghiệp quốc phòng là chủ yếu. RFI Tiếng Việt xin trân thành cảm ơn nghiên cứu sinh Nguyễn Thế Phương, Đại học New South Wales, Canberra, Úc.
1/15/20249 minutes, 33 seconds
Episode Artwork

Gạo xuất khẩu Việt Nam hưởng lợi nhờ nhu cầu thế giới tăng

Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), tính đến ngày 1/11, so với nhóm quốc gia xuất khẩu gạo lớn trên thế giới, giá gạo Việt Nam đang có mức cao nhất. Cụ thể, giá gạo tấm 5% của Việt Nam đã lên tới 653 đôla/tấn, cao hơn nhiều so với giá gạo Thái Lan ( 560 đôla/tấn ).  Theo Báo Điện tử Chính phủ, Bộ Công Thương uớc 10 tháng đầu năm 2023, Việt Nam xuất khẩu khoảng 7,1 triệu tấn gạo, trị giá gần 4 tỷ đôla, tăng 17% về lượng và tăng 35% về giá trị so với cùng kỳ năm 2022. Kim ngạch 4 tỷ đôla chỉ trong 10 tháng năm 2023 được coi là con số cao nhất sau 34 năm gạo Việt tham gia vào thị trường thế giới. Theo số liệu mới nhất của Tổng cục Thống kê, trong cả năm 2023, Việt Nam đã xuất khẩu được 8,2 triệu tấn gạo.Nguyên nhân chủ yếu khiến giá gạo Việt Nam tăng cao, theo các chuyên gia, thứ nhất là do nhu cầu của thị trường thế giới hiện rất lớn mà nguồn cung lại đang giảm đi và thứ hai là chất lượng gạo Việt Nam ngày càng cao.Biến đổi khí hậu khiến nguồn cung gạo trên toàn cầu suy giảm, nhiều quốc gia phải tìm mua lượng gạo lớn để tăng nguồn dự trữ lương thực. Những nước như Indonesia, Trung Quốc, Philippines, Thổ Nhĩ Kỳ hay Chilê đều tăng nhập khẩu gạo.Trong khi đó, một số nước vì lo ngại cho an ninh lương thực quốc gia nên đã cấm xuất khẩu gạo. Chẳng hạn như Ấn Độ vào tháng 7 năm nay đã ra lệnh cấm xuất khẩu gạo không phải là gạo basmati. Gạo không phải là basmati là gạo rẻ tiền, vốn chiếm đến một phần ba tổng khối lượng gạo xuất khẩu của Ấn Độ, hiện là quốc gia xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới. Ấn Độ đã dự kiến gỡ lệnh cấm xuất khẩu gạo trong tháng 10, nhưng đến nay vẫn chưa bỏ lệnh này, cho nên thế giới vẫn thiếu hụt nguồn cung từ nước này. Trong khi đó, với sản lượng trên 43 triệu tấn lúa, ngoài việc dành cho tiêu thụ nội địa, chế biến, dự trữ, Việt Nam có thể đảm bảo xuất khẩu 7,5 - 8 triệu tấn gạo.Như vậy gạo của Việt Nam hiện đang có những lợi thế gì, trả lời RFI Việt ngữ, giáo sư Võ Tòng Xuân, hiệu trưởng danh dự Đại học Nam Cần Thơ, cho biết“ Việt Nam có kỹ thuật trồng lúa của đồng bằng sông Cửu Long, chọn giống lúa ngắn ngày, tức là ngắn hơn 100 ngày. Trong quá trình gần 40 năm nay, chất lượng của gạo Việt Nam đã được cải tiến rất nhiều, đặc biệt là vào năm 2019, hai loại gạo ngắn ngày của Việt Nam được quốc tế vinh danh tại hội nghị về gạo ở Philippines là hai loại gạo ngon nhất thế giới, vừa dẻo, ngon cơm, đồng thời có mùi thơm gần giống như gạo thơm của Thái Lan. Giống lúa Việt Nam chọn ra là giống lúa ngắn ngày, đó là lợi thế thứ nhất. Thứ hai, vùng được chọn là vùng an ninh lương thực là vùng dọc theo biên giới Cam Bốt, khi sông Cửu Long vừa vào tới Việt Nam. Chúng ta sử dụng nước sông ở khu vực này đưa sang sông Tiền, nối với một con kênh gọi là "kênh trung ương" đưa nước sang tới tận Long An. Dọc theo con kênh này có rất nhiều kênh sườn để đưa nước xuống phía dưới vùng cao sản này.Phía bên tay trái là sông Hậu thì chúng ta lấy nước từ Tân Châu qua kênh Vĩnh Tế ra gần tới Hà Tiên. Dọc theo con kênh này người ta cũng đã đào rất nhiều con kênh sườn. Vùng là khoảng 1 triệu 500 hectare đất rất là tốt, với nước ngọt luôn có sẵn. Nước mặn ở biển lên thì chưa tới chỗ đó.”Cũng theo giáo sư Võ Tòng Xuân, một thế mạnh nữa đó là dọc theo vùng ven biển, mặc dù có nước mặn, nhưng trong mùa mưa, chúng ta có thể sản xuất một vụ lúa cao sản cũng với chất lượng rất cao. Đồng thời nước mặn không ảnh hưởng trong mùa mưa. Sau khi nông dân thu hoạch lúa thì hết mưa và nước mặn tràn vào, thì họ thả tôm giống để nuôi tôm, làm tăng thêm lợi tức. Còn vùng ở giữa từ Đồng Tháp qua đến Tiền Giang, Vĩnh Long là vùng trước đây trồng 3 vụ lúa nhưng không có chất lượng cao, nên bây giờ nông dân chuyển sang trồng cây ăn quả ( xoài, sầu riêng, mít, sa pô chê… ).Theo đánh giá của giáo sư Võ Tòng Xuân, có thể nói là toàn bộ vùng đồng bằng sông Cửu Long đã thích nghi được biến đổi khí hậu, nhất là trong những năm vừa qua. Trong những năm tới, với cách quy hoạch, bố trí như thế này, các vụ lúa vẫn có thể hưởng được thiên nhiên của sông Cửu Long, cũng như thời tiết mùa mưa của vùng đồng bằng này, và như vậy Việt Nam luôn có dư lượng gạo để xuất khẩu.Theo cách phân loại của Thái Lan thì có hai loại: gạo thơm thì chỉ trồng được một vụ/năm, còn gạo trắng, tức là gạo từ lúa cao sản, thì có thể trồng 2 vụ/năm. Gạo thơm, ngon cơm của Việt Nam được xếp vào loại gạo trắng Thái Lan, được bán với giá gần 900 đôla/tấn, trong khi đó gạo trắng của Thái Lan chỉ được bán với giá trên 500 đôla. Theo giáo sư Võ Tòng Xuân, đây là cơ hội để gạo Việt Nam vượt qua gạo Thái Lan, và luôn có đủ để cung cấp cho các nước xung quanh, cho một phần Trung Đông và một phần châu Phi.Với lợi thế như hiện nay, làm sao để đẩy mạnh quảng bá trên thị trường quốc tế để gạo Việt Nam duy trì uy tín một cách lâu dài? Giáo sư Võ Tòng Xuân đề xuất:“Theo thông tin tôi nắm được, các siêu thị Á Châu, nhất là siêu thị của người Việt Nam mình ở châu Âu, đã nhập gạo thơm của Việt Nam. Tuy nhiên, bây giờ chúng ta phải làm kỹ hơn nữa để giữ vững uy tín của gạo Việt Nam. Thứ nhất là phải đặc biệt làm việc với tất cả bà con nông dân để thực hiện quy trình sản xuất “sạch”. Tôi không dám nói là sản xuất gạo hữu cơ, bởi vì gạo hữu cơ thì năng suất không cao. Nhưng khi ta làm theo quy trình “sạch” thì cũng gần như là hữu cơ, nhưng có châm thêm một ít phân hóa học để giúp cây lúa phát triển nhanh hơn và có năng suất cao hơn. Với cách làm này, chúng ta sẽ thay đổi phương pháp bón phân hóa học, trước hết là giảm phân hóa học ít nhất là 50%, rồi phải bón phân lót để giảm thiếu khí nhà kính, vì nếu chúng ta bón phân lót thì khí đạm không bị ôxy hóa, làm cho chất đạm hoàn toàn còn ở trong đất để cung cấp cho cây lúa. Trong khi đó bà con nông dân chúng ta bón thêm phân hữu cơ và vi sinh, để thêm các chất vi lượng và các chất khác cho cây lúa, đồng thời cung cấp các loại vi sinh cho cây lúa hấp thụ lên trên thân cây. Từ đó cây lúa không bị bệnh và nông dân giảm bớt sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trên đồng ruộng của mình. Theo hướng này thì các doanh nghiệp chế biến gạo để xuất khẩu luôn có một nguyên liệu rất tốt, vừa sạch, vừa có chất lượng ngon cơm. Tôi hy vọng là với cách làm này, chúng ta có thể giữ được uy tín của gạo Việt Nam. Đồng thời tôi rất mong là tới đây, các doanh nghiệp Việt Nam cũng sẽ rất năng nổ, đi các nơi để giới thiệu gạo ngon của mình với giá tương đối thấp hơn, nhưng đồng thời luôn có đủ để cung cấp cho các khách hàng. Như thế này thì gạo Việt Nam có thể vươn xa và đạt kết quả tốt, trong khi đó bà con nông dân hưởng được một lợi thế là luôn luôn có đầu ra để tiêu thụ sản phẩm của họ.”Thật ra thì về lâu dài, Việt Nam sẽ không tiếp tục xuất khẩu gạo với khối lượng như hiện nay. Chiến lược phát triển thị trường xuất khẩu gạo của Việt Nam đến năm 2030, được chính phủ phê duyệt vào tháng 5/2023, dự trù giảm khối lượng xuất khẩu đến năm 2030 xuống còn khoảng 4 triệu tấn/năm và như vậy là kim ngạch xuất khẩu gạo sẽ giảm xuống còn khoảng 2,60 tỷ đôla so với 3,45 tỷ đôla năm 2022. Mục tiêu chính là nhằm "thúc đẩy xuất khẩu gạo chất lượng cao, bảo đảm an ninh lương thực trong nước, bảo vệ môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu".
1/8/20248 minutes, 58 seconds
Episode Artwork

2024 : Kỳ vọng ngành du lịch Việt Nam "bùng nổ"

Khoảng 7 giờ tối, phố Bùi Viện ở thành phố Hồ Chí Minh lên đèn, nhiều quán bar bắt đầu mở nhạc hết công suất để thu hút du khách nước ngoài đến khám phá khu phố « Tây » về đêm. Khách du lịch nước ngoài đã trở lại Việt Nam đông hơn nhưng vẫn chưa được như trước đại dịch Covid-19. Tương tự, ở trung tâm thủ đô Hà Nội, có thể thấy du khách trở lại đông hơn, len lỏi theo dòng xe tấp nập trong những khu phố cổ. Thêm nhiều thị trường khách mớiNăm 2023, Việt Nam đã đón hơn 12,6 triệu lượt khách quốc tế, đạt mục tiêu đề ra. Tuy nhiên, con số này mới chỉ tương đương với khoảng 69% so với năm 2019. Hàn Quốc, Đài Loan, Mỹ, Nhật Bản là những thị trường gửi khách đến Việt Nam lớn nhất. Nhưng ngày càng có thêm nhiều khách đến từ những quốc gia mới, theo quan sát chị Kim Ngân, chủ cửa hàng Gourmet Gift phố Hàng Đào, Hà Nội :« Lượng khách đến Việt Nam thay đổi khá nhiều về quốc tịch so với ngày trước. Trước dịch Covid-19, khoảng 70% khách đến Việt Nam là khách châu Âu. Hiện giờ, Việt Nam đang là điểm đến, nhờ vào việc chính phủ, cũng như Tổng cục Du lịch đưa ra rất nhiều ưu đãi « kích cầu » về du lịch. Ví dụ đối với khách Ấn Độ, có những chuyến bay thẳng, được miễn thị thực. Hoặc đối với khách trong khu vực Đông Nam Á, họ được hưởng lợi từ những chuyến bay giá rẻ hơn. Do đó, về quốc tịch, có thể thấy hiện giờ rất đa dạng. Khách châu Phi cũng có rất nhiều, rồi châu Âu, châu Á, kể cả những đất nước rất xa xôi mà ngày xưa mình không bao giờ nghĩ họ sẽ đến Việt Nam, như Israel hoặc những nước ở vùng Bắc Âu như Đan Mạch, Phần Lan… mà trước đây gần như là không có. Nói chung bây giờ khách Ấn Độ rất nhiều, khách Philippines, Singapore, khách Trung Quốc thì ở đâu cũng có, khách Mông Cổ cũng rất nhiều ».Theo trang web Skift ngày 18/12, Việt Nam là điểm đến được người Ấn Độ tìm kiếm nhiều nhất trên Google trong năm 2023 (tiếp theo là Goa, Bali, Sri Lanka, Thái Lan...). Đối với nhiều người Ấn Độ, Việt Nam vẫn là một điểm chưa được khám phá trong khi chi phí du lịch Việt Nam thấp hơn từ 10-15% so với nhiều nước Đông Nam Á khác. Điểm này đặc biệt hấp dẫn giới trẻ Ấn Độ từ 25-35 tuổi vì cùng với ngân sách như vậy, họ nhận được dịch vụ tốt hơn ở Việt Nam. Rất nhiều bloggeur Ấn Độ quảng bá cho du lịch Việt Nam là điểm đến thân thiện với chi phí phải chăng. Du khách cao tuổi Ấn Độ thì bị thu hút bởi các di tích lịch sử, đền chùa ở Việt Nam.Đây là một trong những thành công của hàng loạt biện pháp cải cách đối với ngành du lịch trong năm 2023, từ thúc đẩy quảng bá du lịch Việt Nam ở nước ngoài đến các thỏa thuận về du lịch với các tổ chức du lịch quốc tế tại một số thị trường trọng điểm và đặc biệt là chính sách thị thực mới, thị thực điện tử, linh hoạt hơn, kéo dài thời gian lưu trú cho công dân một số nước mà Việt Nam đơn phương miễn thị thực để thu hút thêm nhiều du khách.Cần đa dạng hóa dịch vụ và sản phẩm du lịchTrên nhiều trang Facebook cộng đồng Pháp ngữ trao đổi về du lịch Việt Nam, rất nhiều người rất ấn tượng về phong cảnh đa dạng của Việt Nam. Các tỉnh miền núi phía bắc thu hút sự chú ý đặc biệt của khách phương Tây vì có sở thích khám phá, đi bộ đường dài (trekking). Các chuyến « phượt » bằng xe máy cũng thu hút du khách trẻ nước ngoài, đặc biệt là nhờ hệ thống đường xá ngày càng được mở rộng, thuận tiện hơn.Đến Hà Giang, du khách không ngừng đi hết từ trầm trồ này sang trầm trồ khác, từ cảnh quan hùng vĩ đến những ruộng lúa bậc thang trổ vàng tháng 09, tháng 10 hàng năm hoặc đặc sản thịt lợn khô gác bếp, cũng như những đặc trưng văn hóa của mỗi dân tộc ở « Miền đá nở hoa ». Ví dụ thôn Nặm Đăm nổi tiếng là « làng homestay » với những ngôi nhà trình tường độc đáo, theo giải thích của một chủ homestay hoạt động từ năm 2018 :« Ban đầu chính quyền vận động làm. Lúc đó có ba nhà làm mô hình trước. Sau 3, 4 năm, dần dần chính quyền cho phát triển lên thành một làng. Giờ cả làng làm du lịch, khách cũng đông. Lúc đầu mình tự bỏ tiền ra hết, làm xong, đạt được tiêu chuẩn đón khách thì Nhà nước cho 60 triệu để trả nợ, chứ không hỗ trợ ngay lúc đầu.Về cách làm nhà, mình có một cái khuôn giống kiểu đóng gạch, nhưng khuôn này bằng gỗ, to và dài hơn 1 mét, rộng 40-50 cm. Mình cứ lấy đất ở xung quanh, đào xuống sâu tới chỗ có đất vàng, dạng đất sét, sau đó băm cho nhỏ, rồi mang về đổ vào khuôn. Tiếp theo lấy chày giã như giã gạo cho chặt, được một vòng lại tháo ra, rồi giã tiếp, không cần nước. Chỉ nguyên đất, không trộn một cái gì khác, không trộn nước, không bê tông. Đất này càng để lâu càng bền. Nếu không bị nước ngập thì có thể giữ được hơn 100 năm. Kiểu nhà này ấm về mùa đông, mát về mùa hè ».Trở lại Hà Nội, du khách nước ngoài quay lại đã giúp hồi sinh hàng quán, cửa hàng quà tặng ở trung tâm thành phố sau khi phải đóng cửa suốt thời gian dịch Covid-19. Đặc sản của Việt Nam (cà phê, tiêu, hạt macca, hạt điều…) được đóng gói bắt mắt hơn, chất lượng bảo đảm hơn. Chị Kim Ngân, chủ cửa hàng Gourmet Gift, giải thích tại sao cà phê nằm trong « check list » làm quà của khách du lịch :« Lý do là Việt Nam là nước xuất khẩu cà phê thứ hai thế giới, sau Brazil, nhưng là nước số 1 về cà phê robusta. Đối với sản phẩm cà phê, ở Việt Nam có khoảng 15 loại khác nhau. Ngoài cà phê Việt Nam và cà phê chồn ra, còn có nhiều loại khác như cà phê sôcôla, bởi vì Việt Nam cũng rất nổi tiếng về cacao. Tiếp theo là một số loại cà phê có phong cách giống cà phê của Ý, cà phê arabica hoặc cà phê mật ong có hậu vị ngon hơn. Ở Việt Nam, một trong những sản phẩm cà phê được khách du lịch nước ngoài ưa chuộng nhất, có hai dòng : cà phê chồn và cà phê truyền thống. Cà phê chồn ngày trước có giá rất đắt. Nhưng đến hiện tại, khi cà phê chồn được biết nhiều hơn trên thế giới và người ta muốn giá thành của cà phê chồn hợp lý hơn, thì ở Việt Nam, người ta nuôi chồn trong trang trại và cho con chồn ăn cà phê, nên sản lượng sẽ nhiều hơn và đồng thời là giá thành sẽ thấp hơn. Nên hiện giờ, cà phê chồn nuôi chỉ rơi vào khoảng 2 triệu/kg, còn cà phê chồn tự nhiên vẫn giữ giá khoảng 25 triệu đồng/kg.Loại cà phê thứ hai là cà phê truyền thống của Việt Nam. Mỗi cửa hàng có một công thức trộn riêng bởi vì đó là loại cà phê phối trộn. Có nghĩa là cùng là cà phê Việt Nam, mỗi cửa hàng sẽ có một đặc trưng và có một công thức riêng ».Biến ngành công nghiệp không khói thêm “xanh” hơnDù hoạt động du lịch đang dần được khôi phục nhưng nhìn chung, ngành du lịch Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế. Tại Hội nghị phát triển du lịch Việt Nam ngày 15/11, thủ tướng Phạm Minh Chính nhắc đến tình trạng « mạnh ai nấy làm » thiếu liên kết chặt chẽ giữa các ngành, sản phẩm du lịch thiếu sáng tạo, đặc sắc, thường bị sao chép, chắp vá giữa các địa phương hay doanh nghiệp, thiếu sự kiện văn hóa, thể thao, du lịch được tổ chức chuyên nghiệp…Nhiều thành phố, đặc biệt là Hà Nội, đã tập trung nâng cao giá trị kiến trúc, văn hóa địa phương khi cho trùng tu những công trình kiến trúc cổ và thời Pháp thuộc, tạo điểm nhấn bất ngờ. Nhiều tour du lịch đêm cũng được tổ chức (tour Hoàng Thành Thăng Long, di tích Hỏa Lò...). Đến năm 2025, các thành phố lớn sẽ phấn đấu có ít nhất một mô hình phát triển sản phẩm du lịch đêm. Điều đáng tiếc là văn hóa bảo tàng vẫn chưa được phát triển ở Việt Nam trong khi hầu hết các tòa nhà bảo tàng đều là những công trình kiến trúc có giá trị cao. Một số bảo tàng, như bảo tàng Mỹ Thuật thành phố Hồ Chí Minh, thiếu chuyên nghiệp trong cách tổ chức, sơ sài, không nâng được giá trị của các tác phẩm được trưng bày.Việc bảo vệ môi trường cũng là một vấn đề được du khách nước ngoài đề cao và đòi hỏi ngành du lịch Việt Nam thích ứng. Trang web Vietnamplus ngày 19/10/2023 trích dẫn một nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch, thuộc Tổng cục Du lịch, theo đó 76% du khách quốc tế sẵn sàng giảm rác thải trong thời gian đi nghỉ ; 62% sẵn sàng tiêu dùng sản phẩm địa phương ; 45% sẵn sàng sử dụng các phương tiện giao thông ít tác động đến môi trường… Xu thế này ngày càng được các nhà kinh doanh sản phẩm du lịch áp dụng để thuyết phục khách hàng, như giải thích của chị Kim Ngân :« Trước đây, ở Việt Nam thì cà phê được đựng vào túi ni lông. Nhưng giờ có thể nhìn thấy là tất cả sản phẩm, đồ trang trí trong cửa hàng đều là những sản phẩm thân thiện với môi trường, làm từ mây tre đan. Ngay bản thân túi đóng gói này cũng có thể phân hủy được và làm từ giấy carton, chứ không làm từ bao bì ni lông. Hiện giờ Việt Nam cũng rất theo kịp thời đại. Mình có một số loại cà phê bảo vệ môi trường, ví dụ cà phê phin giấy, giấy đó sẽ dùng một lần, sau đó vất đi và cũng là sản phẩm tự phân hủy ».Nâng cao trình độ chuyên môn của người làm du lịchNgành du lịch đặt mục tiêu đón 17-18 triệu lượt khách quốc tế năm 2024, tăng thêm 5-6 triệu khách so với năm 2023. Để thu hút thêm du khách, bộ trưởng Văn Hóa, Thể Thao và Du Lịch đề xuất chính phủ miễn thị thực ngắn hạn cho khách từ thị trường lớn, tiềm năng như Trung Quốc, Ấn Độ, mở rộng diện miễn thị thực đơn phương cho khách từ các nước có trình độ phát triển cao hơn Việt Nam, chi tiêu nhiều như Úc, Canada, Mỹ, các nước còn lại trong Liên Hiệp Châu Âu - đây cũng là kiến nghị của Phòng Thương Mại Châu Âu. Ngoài ra, cấp thị thực từ 3-5 năm cũng được đề nghị thí điểm để thu hút khách phân khúc cao cấp hoặc đã nghỉ hưu.Nhưng để phục vụ được lượng khách như vậy, ngành du lịch Việt Nam cần cải thiện chất lượng nguồn nhân lực, hiện « thiếu trình độ chuyên môn, thiếu tay nghề đạt tiêu chuẩn quốc tế », theo nhận định của phó tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch Quốc Gia Nguyễn Lê Phúc, được trang web Lao Động trích dẫn ngày 22/12. So với các nước trong khu vực, lao động du lịch Việt Nam còn hạn chế về kỹ năng mềm, khả năng ngoại ngữ, kinh nghiệm, năng suất lao động và tính chuyên nghiệp. Trong khi đó, việc đào tạo chỉ tập trung một số ngành nghề, dẫn đến phát triển thiếu bền vững.Ngành du lịch Việt Nam, cũng như thế giới, vẫn chưa hồi phục hoàn toàn sau những năm bị hạn chế vì đại dịch Covid-19. Tuy nhiên, với tinh thần điều chỉnh thiếu sót, cũng như những tham vọng và kế hoạch liên tục được đưa ra, có thể kỳ vọng du lịch Việt Nam bứt phá trong năm 2024. Đây cũng là mong mỏi của những người làm trong ngành du lịch như chị Kim Ngân : « Hy vọng là những chính sách kích cầu du lịch như này thì năm tới (2024), Việt Nam sẽ là một điểm tới bùng nổ bởi vì Việt Nam có quá nhiều thứ để xem. Thế nên hy vọng là sẽ ổn ! ».
1/1/202410 minutes, 57 seconds
Episode Artwork

Cộng đồng Công Giáo Việt Nam nóng lòng chờ đón giáo hoàng Phanxicô

Khi đến thăm Tòa Tổng Giám Mục Huế ngày 14/12/2023, chủ tịch nước Võ Văn Thưởng đã thông báo với Tổng Giám mục Tổng giám phận Huế Giuse Nguyễn Chí Linh là ông vừa ký Thư mời giáo hoàng Phanxicô sang thăm Việt Nam để “chứng kiến sự phát triển về kinh tế-xã hội và đời sống tôn giáo ở Việt Nam.” Đối với Giáo hội Công Giáo và giáo dân Việt Nam, đây quả là một tin vui giữa mùa Giáng Sinh 2023, vì từ rất lâu họ vẫn ước ao được đón tiếp một vị giáo hoàng đến thăm một quốc gia tuy chỉ có khoảng 8% theo Công Giáo ( 7,2 triệu giáo dân ), nhưng đây là một cộng đồng mà đức tin được thể hiện rất mạnh mẽ và Giáo hội vẫn rất tuân phục Tòa Thánh.Ngày giờ chuyến viếng thăm của giáo hoàng Phanxicô chưa được xác định, nhưng trong chuyến thăm Tòa Tổng Giám Mục Huế, chủ tịch nước Võ Văn Thưởng đã bày tỏ mong muốn cộng đồng Công giáo Việt Nam cùng phối hợp với các cơ quan nhà nước để sớm có cơ hội được đón giáo hoàng tới thăm Việt Nam “trong một ngày không xa.”Trong lịch sử, thật ra quan hệ ngoại giao giữa Tòa Thánh Vatican với Việt Nam chưa bao giờ được thiết lập. Cho tới hiện nay, cấp bậc cao nhất trong mối quan hệ giữa Tòa Thánh và Việt Nam mới chỉ là Khâm sứ Tòa Thánh, nhưng sau năm 1975, Vatican không còn Khâm sứ nào ở Việt Nam.Sau nhiều thăng trầm, quan hệ giữa hai bên đã đạt được một bước tiến lớn với việc thông qua “Thỏa thuận Quy chế hoạt động của Đại diện thường trú và Văn phòng Đại diện thường trú Tòa thánh tại Việt Nam”, khi ông Võ Văn Thưởng thăm Tòa Thánh và gặp giáo hoàng Phanxicô vào tháng 7 vừa qua. Đến ngày 23/12 vừa qua, Tòa thánh Vatican đã chính thức công bố việc Tổng Giám mục Marek Zalewski được giáo hoàng Phanxicô bổ nhiệm làm Đại diện thường trú đầu tiên của Tòa thánh tại Việt Nam. Tổng Giám mục Marek Zalewski nguyên là Sứ thần Tòa thánh tại Singapore và đã kiêm nhiệm Đặc phái viên không Thường trú của Tòa thánh tại Việt Nam từ năm 2018.Tuy vậy, hãy còn quá sớm để nêu lên khả năng Hà Nội và Tòa Thánh bình thường hóa bang giao. Nhân ngày Lễ Giáng Sinh hôm nay, chúng tôi xin mời quý vị nghe tâm tình của Đức cha Phaolô Nguyễn Thái Hợp, nguyên Giám mục Giáo phận Vinh và Giáo phận Hà Tĩnh và cũng đã từng là Chủ tịch Ủy ban Công Lý và Hòa bình của Hội đồng Giám mục Việt Nam. Bài phỏng vấn qua điện thoại được thực hiện ngày 20/12/2023.RFI: Thưa Đức Cha Nguyễn Thái Hợp, sau khi nghe tin chủ tịch nước Võ Văn Thưởng đã chính thức ký thơ mời giáo hoàng sang thăm Việt Nam, tâm trạng của Đức cha nói riêng và của Giáo hội Công Giáo Việt Nam nói chung là như thế nào?Giám mục Nguyễn Thái Hợp: Đó là một niềm vui rất lớn đối với các vị lãnh đạo Giáo hội và tất cả giáo dân Việt Nam, vì nhiều lần chúng tôi đã nói là giáo dân Việt Nam rất gắn bó và yêu mến các Đức Thánh Cha, đặc biệt là những vị lãnh đạo Giáo hội trong thời gian gần đây. Chúng tôi nhiều khi rất buồn khi thấy Đức Thánh Cha có thể đi thăm khắp nơi, kể cả sang Mông Cổ, nơi mà số giáo dân chỉ hơn 1.000 người. Trong khi đó, có lẽ ít có nơi nào có một thành phần giáo dân tận tụy với đạo Chúa và hy sinh nhiều cho đạo Chúa như là ở Việt Nam. Thế mà ước nguyện được đón Đức Thánh Cha bao nhiêu năm rồi vẫn chưa được thành tựu. Thành thử chúng tôi rất vui, với tư cách là người Công Giáo Việt Nam, khi chủ tịch nước thông báo chính phủ Việt Nam chấp nhận Đức Thánh Cha sẽ được sang thăm Việt Nam. Tiến trình chuẩn bị chắc là phải chờ lâu và đến khi đó thì hai bên mới xác định năm nào, ngày nào và những nơi nào Đức Thánh Cha sẽ ghé thăm, thì lúc đó mới có sự chuẩn bị.RFI: Thưa Đức cha, trước mắt, trong quan hệ giữa Việt Nam với Vatican đã có một bước tiến đáng kể, đó là Việt Nam chấp nhận cho Tòa Thánh bổ nhiệm một đại diện thường trú ở Việt Nam. Việc thành lập chức vụ đó hiện đang được tiến hành đến đâu, thưa Đức cha?Giám mục Nguyễn Thái Hợp: Cho đến nay, thật sự thì Việt Nam có đại diện không thường trú của Vatican. Đó là đẳng cấp thấp nhất trong lĩnh vực ngoại giao. Bây giờ mới thực hiện đẳng cấp cuối cùng của ngành ngoại giao. Đó là một niềm vui. Chính vì vậy chúng tôi cũng hy vọng là trong tương lai thì quan hệ giữa Việt Nam với nhà nước Vatican sẽ được bình thường hơn. Đó cũng là để có thể cải chính điều mà dư luận ở ngoại quốc vẫn nói là Việt Nam luôn luôn hành động theo Trung Quốc, Trung Quốc làm gì thì lúc đó Việt Nam mới làm vậy. Phải chăng bây giờ nên có một dấu hiệu để chứng tỏ rằng trong quan hệ với Vatican, Việt Nam cũng  làm khác hơn Trung Quốc. Với tư cách là một người Việt Nam, một người Công Giáo Việt Nam, chúng tôi rất vui mừng, hoan hỉ trước thông tin đó. Còn có rất nhiều chuyện trong thực tế lúc đó thì mới giải quyết. Đây mới là trên nguyên tắc. Chắc chắn là lúc đó phải tạo cơ hội để Tòa Thánh có một trụ sở. Trước đây Tòa Thánh không có trụ sở ở Hà Nội hay Sài Gòn. Trong tương lai thì thế nào cũng phải có văn phòng của vị đại diện. Chắc chắn rằng trên thực tế phải có thời gian để giải quyết : văn phòng đặt ở nơi nào và có diện tích như thế nào. Đó sẽ là những đàm phán cụ thể giữa hai bên, bây giờ chưa thể nói được. RFI: Thưa Đức cha, từ việc bổ nhiệm đại diện thường trú cho đến việc bình thường hóa bang giao giữa Hà Nội với Vatican thì còn những cản ngại nào? Cho tới nay vẫn có một vấn đề gây rắc rối trong quan hệ giữa Việt Nam với Vatican, đó là bổ nhiệm các giám mục. Hiện nay vấn đề có đã được khai thông so với trước đây chưa?Giám mục Nguyễn Thái Hợp: Tôi cũng không rõ. Đó là vấn đề nguyên tắc giữa Tòa Thánh với nhà nước. Trước đây nói rằng nhà nước chủ động trong vấn đề bổ nhiệm các giám mục thì cũng không đúng. Nguyên tắc tới đây thì bổ nhiệm là do Tòa Thánh quyết định, rồi sau đó thì thông báo lại cho nhà nước. Đức Khâm sứ hiện tại cũng đã một lần nói một cách công khai là cho đến thời gian cách đây vài năm, nhà nước Việt Nam chỉ có veto ( phủ quyết ) trong một trường hợp. Như vậy là đa số các trường hợp mà Giáo hội đề nghị thì nhà nước đã chấp nhận, nếu đúng theo tuyên bố của vị đại diện Tòa Thánh cách đây không lâu.RFI: Theo quan sát của Đức cha, thì Giáo hội Công Giáo nói và các giáo xứ năm nay đón mừng Lễ Giáng Sinh trong bầu không khí như thế nào?Giám mục Nguyễn Thái Hợp: Cho đến hôm nay, mặc dù Lễ Giáng Sinh không phải là một ngày nghỉ lễ, tuy nhiên, chúng tôi vẫn hãnh diện và vui mừng rằng có lẽ trong cả năm, ở Việt Nam không có ngày lễ nào nhộn nhịp và vui tươi như Lễ Giáng Sinh. Đó là một đêm của ánh sáng, một mùa mà mọi người đều cảm nhận bầu không khí Giáng Sinh, dù là người Công Giáo hay người không Công Giáo. Khi đến Lễ Giáng Sinh thì những làng xóm, những khu phố luôn có ánh sao, có đèn. Trong vài năm trở lại đây thì ngay cả chương trình phát thanh, truyền hình của nhà nước vẫn có những bài hát thánh ca. Trong dân gian thì có thể nói, trong cả một năm Dương lịch và Âm lịch, không có lễ nào lớn hay vui tươi, với bầu không khí đặc biệt như Lễ Giáng Sinh. Chúng tôi thấy càng ngày, ngay cả những giới ngoài Công Giáo cũng cảm thấy có một cái gì đó đặc biệt trong ngày Lễ Giáng Sinh. Năm nay, với những thông tin mà chủ tịch nước vừa thông báo, thì chắc chắn niềm vui đó, đêm Giáng Sinh và ánh sáng Giáng Sinh sẽ ngày càng lan tỏa. RFI: Với tư cách cựu chủ tịch Ủy ban Công lý và Hòa bình, Đức cha có một thông điệp nào nhắn gởi đến thính giả của RFI?Giám mục Nguyễn Thái Hợp: Với tư cách một giám mục đã về hưu, đã nghỉ những chức vụ mà Hội đồng Giám mục giao phó, tôi không thể phát biểu với tư cách chủ tịch Ủy ban Công lý và Hòa bình thuộc Hội đồng Giám mục Việt Nam. Nhưng với tính cách một người Công Giáo, một cựu giám mục, tôi vẫn ước mong đêm Giáng Sinh là một đêm ánh sáng. Ánh sáng đó không chỉ là ánh sáng bên ngoài, của đèn, nến, mà là ánh sáng của tâm hồn. Ước mong là với tin vui mà chủ tịch nước gởi đến cựu chủ tịch Hội đồng Giám mục, người Công Giáo chúng tôi biểu hiện tin vui đó không chỉ bằng niềm vui tâm hồn, mà còn phải làm sao cuộc đời của chúng tôi cũng trở thành ánh sáng của niềm vui. Chúng tôi ước mong rằng người Công Giáo, qua cuộc sống của mình, qua niềm tin của mình, càng biểu lộ được niềm vui của đêm Giáng Sinh và hy vọng niềm vui đó lan tỏa cho những anh chị em chúng tôi, mặc dù họ chưa chia sẽ niềm tin tôn giáo với chúng tôi.Nhân dịp này, xin được chúc mừng tất cả quý vị thính giả của đài RFI một Giáng sinh an bình và ước mong rằng quý vị cũng chia sẽ niềm vui với chúng tôi. Xin chân thành cảm ơn.RFI: RFI Việt ngữ xin cám ơn Đức cha Nguyễn Thái Hợp và xin kính chúc Đức cha một mùa Giáng sinh thật an lành và thật nhiều sức khỏe.
12/25/20239 minutes, 38 seconds
Episode Artwork

Việt Nam: Không "chung vận mệnh", nhưng phải “chia sẻ tương lai” với Trung Quốc

Trong hai ngày 12 và 13/12/2023, chủ tịch kiêm tổng bí thư đảng Cộng sản Trung Quốc Tập Cận Bình đã mở chuyến viếng thăm cấp nhà nước ở Việt Nam, chỉ vài tháng sau chuyến đi của tổng thống Mỹ Joe Biden.  Khác với tổng thống Biden, ông Tập Cận Bình đã được đón tiếp rất long trọng, với những nghi thức cao nhất dành cho một lãnh đạo nước ngoài, thậm chí thủ tướng Phạm Minh Chính đã ra tận sân bay để đón chủ tịch Trung Quốc ngay tại chân cầu thang của máy bay.Chuyến thăm Việt Nam của chủ tịch Trung Quốc diễn ra sau khi Hà Nội vừa nâng cấp quan hệ với Hoa Kỳ lên thành “Đối tác chiến lược toàn diện”, cấp cao nhất trong hệ thống phân cấp quan hệ ngoại giao của Việt Nam, và như vậy đặt Mỹ ngang tầm với Trung Quốc. Cho nên, ông Tập Cận Bình đã cố thúc ép Việt Nam tăng cường hơn nữa quan hệ với Trung Quốc, để Hà Nội không xích lại quá gần Washington, trong bối cảnh cạnh tranh Mỹ-Trung vẫn gay gắt. Theo Tân Hoa Xã, phát biểu tại Hà Nội ngày 13/12, chính ông Tập Cận Bình cùng đã kêu gọi Việt Nam cùng với Trung Quốc “chống mọi mưu toan nhằm làm xáo trộn vùng Châu Á-Thái Bình Dương”, áp chỉ sự can dự ngày càng mạnh của Hoa Kỳ vào khu vực này.  Trong bản tuyên bố chung được công bố sau chuyến thăm của ông Tập Cận Bình, hai bên nhắc lại Việt Nam và Trung Quốc là "láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt, đều là nước xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản lãnh đạo, chế độ chính trị tương đồng".Từ "chung vận mệnh" thành "chia sẽ tương lai"Chính là dựa trên sự tương đồng này mà hai nước “nhất trí xây dựng Cộng đồng chia sẻ tương lai Việt Nam - Trung Quốc có ý nghĩa chiến lược”. Thật ra thì ban đầu Trung Quốc đã muốn ép Việt Nam chấp nhận xây dựng cái gọi là “Cộng đồng chung vận mệnh” như đối với Lào, Cam Bốt và Miến Điện. Nhưng sang đến Việt Nam thì cụm từ này được sửa đổi thành “Cộng đồng chia sẻ tương lai” cho có vẻ ít mang  tính ràng buộc hơn. Thật ra thì dường như đây là kết quả của nhiều cuộc đàm phán kéo dài nhiều tháng nhằm tìm ra một khái niệm phù hợp nhất để mô tả mối quan hệ mới giữa hai quốc gia “vừa là đồng chí, vừa là anh em”.Trả lời RFI Việt ngữ ngày 13/12/2023, nhà nghiên cứu Hoàng Việt, thuộc Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh, nhận định:“ Ở đây chúng ta thấy ít nhất nổi lên hai vấn đề. Vấn đề thứ nhất là Việt Nam đã không chọn cụm từ “cộng đồng chung vận mệnh”. Cho đến nay, Việt Nam là quốc gia thứ 8 tham gia vào “cộng đồng chung vận mệnh” với Trung Quốc. Trong khối ASEAN, trừ Đông Timor, chỉ có 2 quốc gia là Singapore và Philippines chưa tham gia.Thế thì vì sao khi đến Việt Nam thì Trung Quốc đổi lại thành là “cộng đồng chia sẻ tương lai”? Một là, phía Việt Nam cho rằng “chung vận mệnh” có nghĩa là “anh sống thì tôi sống, anh chết thì tôi chết”, như vậy vô hình chung nó xác định Việt Nam đã chọn bên, dù Việt Nam đã chính thức tuyên bố là không chọn bên nào cả. Chính vì vậy, Việt Nam muốn đổi tên thì mới chấp nhận tham gia “cộng đồng” này.Lý do thứ hai, nói thẳng là người dân Việt Nam không thích “chung vận mệnh” với Trung Quốc, cho nên phía Trung Quốc phải chiều lòng Việt Nam, chuyển sang cụm từ khác là “chia sẻ tương lai”. Hai bên đều có sự nhượng bộ nhau.Tôi được biết là trước chuyến viếng thăm của ngoại trưởng Vương Nghị, đã có rất nhiều trao đổi giữa hai bên, kể cả đến chuyến thăm của ông Vương Nghị để chuẩn bị cho chuyến thăm của ông Tập Cận Bình, hai bên vẫn tiếp tục bàn luận. Có rất nhiều vấn đề hai bên chưa thống nhất được và có lẽ sau đó mới thống nhất được. Một trong những vấn đề gai góc nhất chính là “cộng đồng chung vận mệnh” hay “cộng đồng chia sẻ tương lai”.Được tiếp đón long trọng hơn BidenNhư đã nói ở trên, khi sang thăm Việt Nam vào tuần trước, chủ tịch Trung Quốc đã được giới lãnh đạo Hà Nội đón tiếp long trọng hơn nhiều so với khi tiếp tổng thống Mỹ Biden. Vì sao có sự khác biệt này, nhà nghiên cứu Hoàng Việt giải thích: “ Chuyện này là đương nhiên. Trung Quốc là quốc gia đầu tiên mà Việt Nam thiết lập quan hệ “Đối tác chiến lược toàn diện”. Cho đến bây giờ thì đã có 6 quốc gia đã trở thành “đối tác chiến lược toàn diện” của Việt Nam, nhưng Trung Quốc là nước đầu tiên. Trong các phát biểu, các lãnh đạo Việt Nam luôn khẳng định trong chính sách đối ngoại của Việt Nam, Trung Quốc luôn là ưu tiên hàng đầu. Điều này cũng hợp lý, bởi vì thứ nhất Trung Quốc là một cường quốc lớn nhất ở châu Á và nhất nhì thế giới. Trung Quốc lại là láng giềng của Việt Nam. Trải qua hàng ngàn năm lịch sử, Việt Nam hiểu được cái giá của việc ở bên cạnh một người khổng lồ như thế nào.Ngay cả giới nghiên cứu ở Việt Nam cũng nói rằng, nếu Việt Nam muốn phát triển thì phải có hòa bình, mà muốn có hòa bình thì Việt Nam phải có quan hệ tốt với Trung Quốc. Đó là lý do vì sao mà Việt Nam luôn đặt vị trí của Trung Quốc lên hàng đầu trong chính sách đối ngoại.Đương nhiên là trong buổi đón tiếp ông Tập Cận Bình có những sự khác biệt so với khi đón tiếp ông Biden. Sự khác biệt này không phải là do phía Việt Nam đặt ra. Qua một số tiết lộ, đặc biệt là của thứ trưởng Hà Kim Ngọc, bản thân Hoa Kỳ và ông Biden cũng không đòi hỏi những chi tiết như trải thảm đỏ đón ông Biden từ sân bay, nghi thức bắn 21 phát đại bác, cho nên Việt Nam không sử dụng nghi thức đó.Còn phía Trung Quốc thì khác. Điều này cũng cho thấy cái tư duy của Trung Quốc và tư duy của Hoa Kỳ có khác nhau. Đối với Hoa Kỳ thì làm được việc mới là quan trọng, chứ không phải là các nghi thức. Nhưng đối với Trung Quốc thì đây là một gặp mang tính biểu tượng rất lớn, vừa là hai nước xã hội chủ nghĩa, vừa là hai nước láng giềng. Và trong bối cảnh cạnh tranh Mỹ-Trung quyết liệt cả về vị thế và ảnh hưởng, phía Trung Quốc phải thể hiện vai trò của mình. Trung Quốc rất coi trọng những nghi thức, mà theo luật về lễ tân của Việt Nam, trong một chuyến thăm cấp nhà nước cao nhất thì các nghi thức được quy định như là khi đón tiếp ông Tập Cận Bình. Cái này là do hai bên thỏa thuận với nhau.”Trong chuyến thăm của Tập Cận Bình ở Việt Nam, Hà Nội và Bắc Kinh đã đồng ý sẽ gia tăng hợp tác về các vấn đề an ninh, đẩy mạnh quan hệ giữa ngành công nghiệp quốc phòng của hai nước, đồng thời ký hàng chục hiệp định hợp tác. Vẫn còn nguy cơ căng thẳng vì Biển ĐôngTuy quan hệ Việt- Trung đang trong giai đoạn hữu hảo như vậy, nhưng cũng không nên quên rằng giữa hai nước căng thẳng có thể bùng nổ trở lại do vấn đề tranh chấp Biển Đông, nhất là do những hành động ngày càng hung hăng của Bắc Kinh ở vùng biển mà họ khẳng định chủ quyền gần như toàn bộ. Bản tuyên bố chung được công bố trong chuyến đi Việt Nam của chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình có ghi: “Hai bên đi sâu trao đổi ý kiến chân thành, thẳng thắn về vấn đề trên biển, nhấn mạnh cần kiểm soát tốt hơn và tích cực giải quyết bất đồng trên biển, duy trì hòa bình, ổn định ở Biển Đông và khu vực.” Nhưng theo nhà nghiên cứu Hoàng Việt, vấn đề là Trung Quốc có thực hiện đúng lời hứa giải quyết tranh chấp “bằng biện pháp hòa bình” hay không: “Có hai vấn đề lớn, thứ nhất là tranh chấp Biển Đông, thứ hai xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam nhiều lúc gặp khó khăn do những rào cản đặc biệt mà phía Trung Quốc đưa ra.Tranh chấp Biển Đông là tranh chấp cực kỳ phức tạp và khó khăn. Nhưng quan điểm của Việt Nam là không phải vì tranh chấp Biển Đông mà không thúc đẩy quan hệ với Trung Quốc. Chúng ta chỉ nhìn quan hệ giữa Trung Quốc và Philippines thì sẽ thấy, mặc dù hai nước cho tới nay vẫn căng thẳng hàng ngày trên khu vực Biển Đông, cụ thể là ở Bãi Cỏ Mây và bãi cạn Scarborough, nhưng quan hệ thương mại giữa Trung Quốc và Philippines vẫn không ngừng tăng trưởng. Báo chí Việt Nam có chụp hình ông Tập Cận Bình và tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng cùng ngồi dự tiệc trà, xung quanh có mấy cây tre, đó cũng là hàm ý nêu bật chính sách “ngoại giao cây tre” ( giữ thế cân bằng trong quan hệ với các cường quốc ) của Việt Nam. Trong vấn đề Biển Đông, thứ nhất là Việt Nam vẫn bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, toàn vẹn lãnh thổ, cũng như những quyền mà Việt Nam được hưởng theo quy định của Công ước Luật Biển 1982, đồng thời tôn trọng Hiến chương Liên Hiệp Quốc trong việc giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình. Bên cạnh đó, Việt Nam cũng muốn có những biện pháp để nếu Trung Quốc và Việt Nam có những bất đồng, căng thẳng thì hai bên có thể tìm ra những kênh đối thoại để giảm bớt căng thẳng, ví dụ như kênh chính phủ, hoặc là kênh ngoại giao nhân dân, hoặc là kênh giữa hai đảng Cộng sản. Đó cũng cho thấy Việt Nam muốn giải quyết tranh chấp hòa bình và muốn hòa hoãn với Trung Quốc.Tranh chấp Biển Đông là vấn đề phức tạp và khó khăn, nhưng không vì thế mà không thúc đẩy những quan hệ khác, đặc biệt là quan hệ kinh tế thương mại, mà hiện còn rất nhiều “dư địa” để phát triển, tại sao hai nước lại không tận dụng. Có lẽ vấn đề Biển Đông sẽ còn tồn tại trong tương lai. Đương nhiên phía Việt Nam cố gắng giải quyết bằng bằng những biện pháp hòa bình và qua đối thoại, nhưng điều này còn phụ thuộc vào phía Trung Quốc. Mặc dù phía Trung Quốc cũng đã có những tuyên bố tương tự, tức là giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, tôn trọng luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước Luật Biển và hướng tới một Bộ quy tắc ứng xử trên Biển Đông COC, nhưng chúng ta cũng không chắc là Trung Quốc có giữ được lời hứa của họ không. Nếu xảy ra thì chúng ta sẽ xem Việt Nam ứng xử trong trường hợp này như thế nào.” Thật ra, một trong những lý do khiến Việt Nam và Trung Quốc thắt chặt hơn nữa quan hệ song phương, đó chính là cả hai nước đều quan ngại về các thế lực “thù địch” bên ngoài và sự cần thiết phải bảo vệ sự ổn định trong nước, thể hiện qua thỏa thuận mới về an ninh, được ký kết nhân chuyến viếng thăm của chủ tịch Tập Cận Bình. Theo một nhà phân tích Trung Quốc, được nhật báo Hồng Kông South China Morning Post trích dẫn ngày 14/12/2023, Bắc Kinh và Hà Nội đã đồng ý tăng cường hợp tác quốc phòng và an ninh, đặc biệt là về “an ninh chế độ và an ninh thể chế”. Đây là lần đầu tiên hai nước đề cập đến an ninh của chế độ trong một tuyên bố chung như vậy. Cụ thể, hai bên sẽ “tăng cường giao lưu tình báo và phối hợp chia sẻ kinh nghiệm, hợp tác trong các vấn đề chống can thiệp, chống ly khai, phòng chống "diễn biến hòa bình", "cách mạng màu" của các thế lực thù địch, phản động”.
12/18/20239 minutes, 37 seconds
Episode Artwork

Đầu tư vào Mỹ và những thách thức đối với doanh nghiệp Việt Nam

Hợp tác Đối tác Chiến lược Toàn diện đánh dấu bước ngoặt lớn trong quan hệ Việt-Mỹ, đặc biệt trong các lĩnh vực trọng điểm. Tính đến hết 2022, Mỹ là nhà đầu tư lớn thứ 11 vào Việt Nam với 1.216 dự án có tổng vốn 11,4 tỉ đô la. Không chỉ nhận dòng vốn từ Mỹ, các doanh nghiệp Việt Nam cũng gia tăng đầu tư sang thị trường Hoa Kỳ vào lúc Việt Nam muốn tìm kiếm công nghệ nguồn, đặc biệt là công nghệ cao, mà Mỹ thì đi đầu thế giới về lĩnh vực này. Theo trang VTV ngày 13/05/2023, « trong những năm 2013-2022, Việt Nam đứng thứ 9 trong 10 nước khu vực châu Á-Thái Bình Dương có cam kết đầu tư lớn nhất vào Mỹ ». Hiện tại, nhiều doanh nghiệp Việt Nam hoạt động trong các lĩnh vực sản xuất lắp ráp ô tô và pin xe điện, phần mềm, thiết kế nội thất, xây dựng, vận tải, thực phẩm, bao bì… đã, đang và có kế hoạch đầu tư vào Mỹ.Các doanh nghiệp Việt Nam sẽ có những thuận lợi và khó khăn như nào khi chinh phục thị trường Mỹ ? RFI Tiếng Việt đặt câu hỏi với ông Eric Mottet, giảng viên Đại học Công giáo Lille (Université Catholique de Lille), giám đốc nghiên cứu tại Viện Quan hệ Quốc tế và Chiến lược Pháp (IRIS), nguyên giáo sư địa-chính trị Đại học Québec ở Montréal (UQAM, Canada).RFI : Chuyến công du Hà Nội của tổng thống Joe Biden làm gia tăng sự quan tâm của các nhà đầu tư Mỹ vào Việt Nam. Tuy nhiên, cũng có nhiều công ty Việt Nam tìm cách đầu tư vào Hoa Kỳ. Liệu đây có phải là một bước ngoặt mới, chứng tỏ doanh nghiệp Việt đã đủ sức nhìn xa ?Eric Mottet : Đúng là trong chuyến công du ngắn ngủi của ông Joe Biden, chỉ khoảng 24 tiếng vào tháng 9, Việt Nam và Hoa Kỳ đã ký một Hiệp định Đối tác Chiến lược Toàn diện, trong đó nội dung kinh tế và công nghệ rất được chú trọng. Chính lĩnh vực công nghệ và đổi mới có thể sẽ trở thành một trụ cột trong quan hệ song phương, đặc biệt là đối với Việt Nam. Chính phủ có kế hoạch hiện đại hóa nền kinh tế, công nghiệp từ nay đến năm 2030, cho nên rất quan tâm đến những công nghệ hiện Việt Nam chưa có.Đúng, đây là một bước ngoặt đối với các công ty Việt Nam bởi vì hiện giờ có nhiều doanh nghiệp Mỹ đến tìm đối tác Việt Nam. Ngược lại, dù với tỉ lệ thấp hơn nhiều, cũng có nhiều công ty Việt Nam đầu tư vào Mỹ, thậm chí mua lại một số công ty ở Mỹ để có được công nghệ, sau đó có thể chuyển ngược về Việt Nam.Tôi có nghiên cứu một chút về trường hợp hai đại tập đoàn Việt Nam, được truyền thông nhắc đến nhiều trong những tháng qua vì đầu tư vào Mỹ. Trước tiên là nhà sản xuất ô tô VinFast, công ty thành viên thuộc tập đoàn Vingroup mà tôi sẽ đề cập chi tiết hơn. Tiếp theo là FPT, tập đoàn chuyên về công nghệ và đào tạo, vừa mua lại một số công ty ở Mỹ, trong đó có cả lĩnh vực trí thông minh nhân tạo, và sẽ tìm cách nào đó để mang những công nghệ này về phát triển ở Việt Nam trong giai đoạn 2030-2040. Việc mua lại những công ty công nghệ Mỹ giúp FPT có được đội ngũ nhân viên chuyên môn, cho nên cũng phải nhắc đến mong muốn đưa nhân viên có trình độ từ Mỹ về thị trường Việt Nam.Điều thú vị ở đây là chúng ta thấy có sự bổ trợ lẫn nhau đang được hình thành giữa nền kinh tế Việt Nam và Mỹ, đặc biệt trong lĩnh vực công nghệ cao.RFI : Tổng thống Donald Trump cũng như tổng thống đương nhiệm Joe Biden đều đặt lợi ích của Hoa Kỳ lên trên hết. Doanh nghiệp Việt Nam muốn đầu tư vào Mỹ sẽ phải đối mặt với những khó khăn nào ? Eric Mottet : Chúng ta đang thấy sức mạnh hợp tác thương mại chưa từng có giữa hai nước từ vài tháng nay, bởi vì khoảng 50 doanh nghiệp Mỹ đã đến Việt Nam để tìm đối tác và nghiên cứu xem có thể gây dựng hoạt động gì tại đây. Vấn đề đối với các doanh nghiệp Việt Nam, nhất là doanh nghiệp xuất khẩu, là họ thường chuyên về bán sỉ, bán lẻ những sản phẩm mà tôi cho rằng hiện kém hấp dẫn đối với thị trường Mỹ. Nhiều doanh nghiệp Mỹ cũng sản xuất những loại hàng đó. Nhưng hiện giờ chúng ta thấy những doanh nghiệp Việt Nam đầu tư ra nước ngoài thường hoạt động trong lĩnh vực thông tin-truyền thông và chính họ đang cố gắng đầu tư vào Hoa Kỳ.Vậy một doanh nghiệp thường gặp những khó khăn gì ở Mỹ ? Trước tiên, hiện giờ các công ty Việt Nam chưa có kiến thức hoặc chưa hiểu chắc về thị trường Mỹ để có thể hoạt động lâu dài. Điểm thứ hai, để hoạt động tại Mỹ, họ phải tìm được một đối tác hoặc mua lại doanh nghiệp. Những hoạt động này có kinh phí tương đối lớn. Và đừng quên là rất nhiều lĩnh vực, trong đó có các ngành công nghệ cao ở Mỹ, cũng được bảo mật. Do đó các công ty Việt Nam không thể đầu tư vào tất cả các lĩnh vực vì nhiều lý do khác nhau.Luật pháp Mỹ cũng phức tạp. Khi muốn thâm nhập vào Mỹ, họ thường phải thành lập một chi nhánh 100% Mỹ để tránh gặp rủi ro về tư pháp hoặc thuế khóa. Và đây là vấn đề tương đối phức tạp, mất thời gian và tốn kém. Ngoài ra phải kể đến một khó khăn khác, đó là mỗi bang ở Mỹ hoàn toàn độc lập về luật, đặc biệt là luật lao động. Cho nên vấn đề phức tạp cho các doanh nghiệp Việt Nam là tìm hiểu xem nên hoạt động ở bang nào để có thể lợi hơn về luật lao động.Nói tóm lại, các doanh nghiệp Việt Nam muốn đầu tư vào Mỹ vẫn đang tìm hiểu về lĩnh vực đầu tư, nhưng luôn nảy sinh những vấn đề phức tạp về kinh tế, tài chính và pháp lý, khiến các công ty mũi nhọn, các doanh nghiệp quan trọng trong một số lĩnh vực ở Việt Nam khó có thể thâm nhập và hoạt động ở Mỹ.RFI :Tuy nhiên, chính phủ Mỹ cũng đưa ra nhiều chế độ ưu đãi để thu hút đầu tư nước ngoài, ví dụ trong lĩnh vực sản xuất ô tô điện.Eric Mottet : Chúng ta hiểu rõ tại sao nhiều doanh nghiệp Việt Nam, cũng như của các nước khác, muốn đầu tư vào Hoa Kỳ. Trước tiên, đó là nền kinh tế lớn nhất thế giới, là một thị trường tập trung vào đô la, đồng tiền được sử dụng nhiều nhất thế giới. Theo tôi, đó cũng là một thị trường lao động rất năng động.Đúng là tôi đã đọc thấy rằng Mỹ đã triển khai nhiều cơ chế tích cực cho Việt Nam, nhưng hiện giờ tôi chưa thấy có gì đặc biệt. Tuy nhiên, có những cơ chế mà doanh nghiệp Việt Nam có thể vận dụng để tiếp cận thị trường Mỹ, ví dụ Cục Quản lý Phát triển Kinh tế (Economic Development Administration, EDA) cho vay vốn dài hạn với lãi suất ưu đãi, nhất là khi doanh nghiệp muốn đầu tư để tạo việc làm. Nếu các công ty Việt Nam tạo được một số việc làm nhất định, họ có thể vay với lãi suất ưu đãi để thành lập công ty hoặc chi nhánh.Ngoài ra, còn có Cục Quản lý Doanh nghiệp Nhỏ (Small Business Administration, SBA) có thể bảo lãnh trong trung hạn và dài hạn các khoản vay của doanh nghiệp cỡ vừa để chi trả cho việc xây dựng nhà máy. Đây phần nào là điều mà VinFast sử dụng để xây dựng nhà máy ở bang North Carolina. Các doanh nghiệp cũng có thể tiếp cận nhiều quỹ khác. Trong trường hợp doanh nghiệp Việt Nam tạo việc làm ở nông thôn, họ có thể được bộ Nông Nghiệp Mỹ cho vay vốn.Có thể thấy là có rất nhiều cơ chế, nhưng cần nhắc lại là tôi chưa thấy điều gì cụ thể ngoài những thông báo về các cơ chế đặc biệt được dành cho doanh nghiệp Việt Nam muốn hoạt động tại Mỹ.RFI : Vài chục doanh nghiệp Việt hoạt động trong các lĩnh vực logistic, sản xuất đồ gỗ nội thất, xây dựng, bao bì… muốn đầu tư vào Mỹ. Ngoài ra, còn có ngành sản ô tô điện của tập đoàn VinFast và bình điện ô tô cũng muốn chinh phục thị trường Mỹ. Thế nhưng đây cũng là những lĩnh vực dường như phải chịu cạnh tranh lớn tại Hoa Kỳ ?Eric Mottet : VinFast là một trường hợp thực sự thú vị. Là công ty thành viên thuộc tập đoàn Vingroup, nhà sản xuất ô tô VinFast đã bắt đầu giao xe ở bang California từ tháng 03/2023 và đang muốn tăng tốc ở thị trường Mỹ, bởi vì VinFast đã cam kết xây một nhà máy sản xuất và lắp ráp xe điện ở bang North Carolina kể từ năm 2025-2026 với sản lượng khoảng 150.000 xe điện mỗi năm.Chúng ta thấy rõ mục tiêu của VinFast là chiếm thị phần ngày càng lớn trong thị trường ô tô điện của Mỹ. Tôi xin nhắc lại là VinFast đã có mặt trước đó, nhưng phần nào bị buộc phải đầu tư trực tiếp trên lãnh thổ Hoa Kỳ, sau khi chính phủ Mỹ ban hành đạo luật giảm phát thải khí thải bằng cách đặt cược vào xe điện với khoản trợ cấp cho người tiêu dùng Mỹ mua ô tô điện sản xuất trên đất Mỹ. Đây là một khó khăn thêm vào những khó khăn mà chúng ta đã đề cập ở trên.Dĩ nhiên VinFast hy vọng cạnh tranh được với nhà sản xuất ô tô điện truyền thống Tesla. Vậy đâu là chiến lược phát triển của VinFast ? Họ đề xuất các mẫu mã rẻ hơn, thậm chí là rẻ hơn nhiều so với xe của Tesla, đặc biệt là VinFast không bán pin kèm với xe mà họ cho thuê. Khách hàng trả tiền thuê pin hàng tháng, nhờ đó mà giảm bớt hóa đơn cho khách hàng.VinFast bước vào thị trường Mỹ với nhiều tham vọng và với một chiến lược khác và giá thấp hơn Tesla, cũng như so với một số nhà sản xuất khác của Mỹ, thậm chí là với nhà sản xuất Trung Quốc có mặt trên đất Mỹ. Công ty Việt Nam muốn mở 125 điểm bán xe, sẽ khai trương trong thời gian tới. Hiện giờ VinFast mới chỉ bán một dòng xe và muốn mở thêm ba dòng xe khác. Sổ đặt hàng của họ cũng khá kín với hơn 10.000 đơn đặt hàng từ cá nhân.Khó khăn đối với VinFast là họ phải hợp tác với một đối tác tài chính để niêm yết trên thị trường chứng khoán vào tháng 08/2023. Giá cổ phiếu ban đầu là 22 đô la đã đạt đến đỉnh 93 đô la vào cuối tháng 8, nhưng sau đó không ngừng lao dốc và giao dịch quanh mức 6 đô la/cổ phiếu trong khoảng từ ngày 14-18/11. Chúng ta thấy ở đây một doanh nghiệp vững chắc ở Việt Nam, một tập đoàn mạnh muốn đầu tư vào Mỹ, nhưng việc chào sàn chứng khoán lại diễn ra không suôn sẻ lắm, việc xây dựng nhà máy cũng bị trì hoãn vì một số khó khăn hành chính.Dĩ nhiên cả Washington lẫn Hà Nội đều muốn thúc đẩy đầu tư trực tiếp nước ngoài của Việt Nam vào Hoa Kỳ nhưng vẫn còn rất, rất nhiều khó khăn mà doanh nghiệp Việt Nam sẽ phải vượt qua.RFI : Có một số ý kiến cho rằng VinFast đầu tư vào sản xuất ô tô điện ở Mỹ, ngoài để thu nhập công nghệ, còn nhằm xây dựng thương hiệu, quảng cáo cho uy tín của nhà sản xuất để hướng đến mục đích chính là bán ô tô ở Việt Nam và Đông Nam Á. Ông nhận định như nào về ý kiến này ? Eric Mottet : Ở châu Âu và Mỹ hiện có rất nhiều thay đổi. Nếu nhà sản xuất ô tô muốn được hưởng các khoản ưu đãi thuế từ chính phủ, họ phải sản xuất xe trực tiếp trên lãnh thổ. VinFast không có lựa chọn nào khác ngoài việc sản xuất ngay tại Hoa Kỳ. Liên Hiệp Châu Âu cũng có quy định tương tự.Liệu những công ty đó sẽ tiếp tục chiến lược để xe của họ tràn ngập thị trường Mỹ và Liên Âu không ? Hoặc cũng có thể họ lui về các thị trường châu Á, châu Phi hoặc Nam Mỹ hiện ít có chính sách bảo hộ hơn ? Đó cũng là một khả năng. Nhưng VinFast đã thông báo muốn hoạt động ở khoảng 40 nước trên thế giới.VinFast tham gia Hội chợ Ô tô ở Paris (Pháp), Cologne (Đức) và dường như cũng nhắm đến thị trường Hà Lan và một số nước khác. Song song đó, tập đoàn Việt Nam cũng sẽ mở cửa và xây dựng một nhà máy sản xuất xe ở Indonesia. Liệu đó chỉ thuần túy là khía cạnh thương mại hay còn có chủ trương gây dựng uy tín trong việc phân phối ô tô ở phương Tây để có một hình ảnh tốt hơn, để sau đó có thể bán xe ở Đông Nam Á và ở Việt Nam ? Điều đó cũng rất có thể xảy ra.Tuy nhiên, mức độ đầu tư của VinFast ở Hoa Kỳ là rất lớn, vì người ta nói đến tổng đầu tư 4 tỉ đô la. Vì thế, tôi cho rằng nếu VinFast thâm nhập thị trường Mỹ, đó là vì họ chú trọng bán xe ở đó, chứ không chỉ để bán ở Việt Nam. Chi phí đầu tư quá lớn, nhưng đổi lại VinFast tiếp cận được các công nghệ mà có thể họ chưa có ở Việt Nam. Đó là một lợi thế. Tuy nhiên, cần theo dõi chiến lược của VinFast, vì những thành công hay thất bại của họ chắc chắn sẽ giúp các doanh nghiệp lớn của Việt Nam muốn đầu tư ra nước ngoài hoặc vào Mỹ điều chỉnh chiến lược của họ. Tôi nghĩ là cần theo dõi thêm trường hợp VinFast.RFI Tiếng Việt xin trân thành cảm ơn ông Eric Mottet, giảng viên Đại học Công Giáo Lille.
12/11/202311 minutes, 10 seconds
Episode Artwork

Cơ quan AFD của Pháp hỗ trợ Việt Nam thực hiện cam kết khí hậu

Với bờ biển dài đến 3.200 km, Việt Nam là một trong những quốc gia dễ bị tác động nhất của biến đổi khí hậu. Nhiệt độ tăng, nước biển dâng cao, sự gia tăng về tần suất và cường độ của các hiện tượng khí hậu cực đoan kết hợp với tăng trưởng dân số và đô thị hóa mạnh mẽ, đang làm gia tăng các rủi ro xói lở ven biển, ngập lụt đô thị và hạn hán trên cả nước. Tại hội nghị khí hậu Liên Hiệp Quốc COP26 ở Glasgow, Việt Nam đã cam kết sẽ đạt đến trung hòa carbon vào năm 2050. Chính là để thực hiện mục tiêu đó, vào tháng 12/2022, Việt Nam đã ký hiệp định thiết lập Đối tác Chuyển đổi Năng lượng Công bằng ( Just Energy Transition Partnership - JETP) với nhóm G7, Liên Hiệp Châu Âu, Na Uy và Đan Mạch. Hoạt động tại Việt Nam ngay từ năm 1993, Cơ quan Phát triển Pháp ( Agence Française de Développement - AFD ) trong nhiều năm qua vẫn hỗ trợ Việt Nam xây dựng chiến lược và triển khai nhiều dự án chống biến đổi khí hậu. Trả lời RFI Việt ngữ ngày 29/11/2023, ông Hervé Conan, giám đốc AFD Việt Nam, trước hết đánh giá về mức độ tác động của biến đổi khí hậu đối với Việt Nam: Hervé Conan: Việt Nam rõ ràng là một trong năm quốc gia lục địa dễ bị tác động bởi biến đổi khí hậu nhất thế giới, một phần là do Việt Nam có một vùng bờ biển dài hơn 3.000 km, khiến các thành phố ven biển dễ hứng chịu các cơn bão nhiệt đới, mà tần suất và cường độ sẽ gia tăng cùng với biến đổi khí hậu. Với địa hình như vậy, Việt Nam có nguy cơ ngập lụt rất cao cùng với các thiên tai ngày càng nặng nề. Việt Nam cũng có hai vùng đồng bằng có độ cao gần bằng với mực nước biển, cho nên có nhiều nguy cơ bị ngập mặn, hiện tượng mà chúng ta đã thấy ở đồng bằng sông Cửu Long, cũng như đồng bằng sông Hồng, nơi mà lượng phù sa trong con sông đã giảm rất nhiều do các đập trên thượng nguồn. Do mực nước biển dâng cao, tình trạng ngập mặn ngày càng lấn sâu trong đất liền. Vì những lý do nói trên mà Việt Nam đã hứng chịu những tác động của biến đổi khí hậu rất mạnh. Chúng ta đã thấy là mỗi năm trôi qua, thiệt hại do biến đổi khí hậu đối với các thành phố càng tăng. Nói cách khác, biến đổi khí hậu đã là một thực tế ở Việt Nam, mà toàn thể người dân phải hứng chịu tuy chưa phải là hàng ngày, nhưng đã là thường xuyên. Trong cuộc chiến chống biến đổi khí hậu, và nhất là trong việc thực hiện mục tiêu trung hòa carbon năm 2050, cơ quan AFD đang hỗ trợ Việt Nam như thế nào, ông Hervé Conan cho biết:Hervé Conan: Kể từ sau hội nghị COP21 ở Paris, tại Việt Nam, AFD được giao nhiệm vụ thuần túy về khí hậu, nhằm hỗ trợ Việt Nam, giống như với toàn bộ các nước đang trỗi dậy, thực hiện những cam kết mà họ đã đưa ra tại COP21, nhằm giúp Việt Nam thích ứng với biến đổi khí hậu, đáp ứng nhu cầu đối phó với các nguy cơ liên quan biến đổi khí hậu: lũ lụt, sạt lở bờ biển, bão nhiệt đới.Không chỉ là một quốc gia rất dễ bị tác động của biến đổi khí hậu, Việt Nam còn là một nước phát ra ngày càng nhiều khí thải CO2, vì có nền kinh tế tăng trưởng nhanh, có sản lượng năng lượng tăng đều đặn mỗi năm và hiện vẫn dựa rất nhiều vào nguồn điện than.Tại hội nghị COP26, Việt Nam đã cam kết đạt trung hòa carbon vào năm 2050, phi carbon hóa sản xuất năng lượng, dần dần thay thế các nhà máy điện than bằng các năng lượng tái tạo như điện gió, điện Mặt trời. Hiện giờ Việt Nam gặp khó khăn trong việc tiếp nhận các nguồn năng lượng tái tạo đó do sự yếu kém của mạng lưới truyền tải điện tại một quốc gia có địa hình trải dài như vậy. Hệ thống truyền tải điện qua sóng vô tuyến phải được tăng cường. AFD đang cùng Tập đoàn Điện lực Việt Nam EVN tài trợ một số dự án nhằm tăng cường mạng lưới điện: đường dây tải điện, trạm tải điện.Chúng tôi cũng tham gia vào dự án trạm thủy điện tích năng Bác Ái ( tỉnh Ninh Thuận ), sử dụng thiết bị công nghệ tích hợp bơm - tuabin đảo chiều và động cơ - máy phát đảo chiều, để bảo đảm cho sự cân đối của mạng lưới điện. Chúng tôi cũng làm việc với EVN về dự án mở rộng các nhà máy thủy điện. Ở Việt Nam hiện nay không còn chỗ để xây các nhà máy thủy điện lớn mới, cho nên điều chúng tôi làm đó là nâng cao giá trị của các đập thủy điện hiện có, qua việc tạo khả năng sản xuất mới cho các đập này. Nói chung là AFD làm việc rất chặt chẽ với Tập đoàn Điện lực Việt Nam với tư cách một đối tác trên thực địa để hỗ trợ họ trong tiến trình chuyển đổi năng lượng. Giai đoạn đầu tiên của tiến trình đó là trước hết giúp EVN củng cố các đường dây tải điện. Tiếp đến là phải hỗ trợ khu vực tư nhân đầu tư ồ ạt vào các nhà máy điện Mặt trời, nhà máy điện gió, trong đất liền hoặc ngoài khơi, những nguồn năng lượng mà Việt Nam có rất nhiều tiềm năng.Bị đe dọa nhiều nhất do tác động của biến đổi khí hậu chính là vùng đồng bằng sông Cửu Long và nhất là các thành phố ven biển. Ông Hervé Conan, giám đốc cơ quan AFD ở Việt Nam, nói về những dự án để các địa phương đó đối phó với những nguy cơ, như xói lở bờ biển, ngập mặn…: Hervé Conan: Về vấn đề các bờ biển và đồng bằng sông Cửu Long, nên biết rằng đến khoảng năm 2100, từ 40% đến 50% đồng bằng sông Cửu Long có thể sẽ biến mất, tức là một phần diện tích lớn của Việt Nam có thể biến mất.Để vùng này thích ứng với biến đổi khí hậu, chúng tôi tham gia vào việc chống ngập mặn với các dự án xây đập để ngăn nước mặn xâm nhập vào các cánh đồng. Chúng tôi cũng tham gia vào việc chống xói lở ở các bờ biển, cũng như ở vùng đồng bằng sông Cửu Long. Chúng tôi còn hỗ trợ toàn bộ các thành phố ven biển đang phải đối đầu với tình trạng xói lở, với các cơn bão nhiệt đới, đặc biệt là các tỉnh miền trung còn phải đối phó với nguy cơ ngập lụt, bằng những dự án quy hoạch, những biện pháp để giảm thiểu nguy cơ ngập lụt, để bảo vệ toàn bộ dân cư mà phần lớn thời gian trong năm vẫn phải sống với lũ lụt khi xảy ra những hiện tượng thời tiết cực đoan. Chúng ta biết là những hiện tượng thời tiết cực đoan này sẽ gia tăng trong những năm tới. Chúng tôi làm việc với từng tỉnh để hỗ trợ việc thiết lập các dự án quy hoạch tính đến nhiều nhất có thể được những yếu tố của thiên nhiên, tính việc quản lý các hồ chứa nước để giảm thiểu lượng nước đổ vào các thành phố khi mưa nhiều.Nói chung, chúng tôi vừa hỗ trợ về kỹ thuật cho các tỉnh, vừa đầu tư vào các cơ sở hạ tầng lớn của các thành phố. Chúng tôi cũng tham gia vào nghiên cứu với chương trình GEMMES, mà giai đoạn 2 sẽ được khởi động nhân hội nghị COP28, để hỗ trợ Việt Nam những công cụ giúp đưa ra các quyết định, giúp đề ra các chiến lược, chính sách thích hợp nhất trong bối cảnh phức tạp của Việt Nam: kinh tế tăng trưởng mạnh, dân số ngày càng đông, rất dễ bị tác động, chuyển đổi sinh thái phải đi kèm với an ninh năng lượng để bảo đảm đáp ứng nhu cầu về điện của một nền kinh tế tăng mạnh và của một dân số ngày càng đông.”Để thúc đẩy tiến trình chuyển đổi năng lượng trong khuôn khổ Đối tác Chuyển đổi Năng Lượng Công Bằng ( JETP ), cơ quan AFD cũng đang giúp Việt Nam phát triển các nguồn năng lượng tái tạo và cũng hiện đại hóa các cơ sở hạ tầng, nhất là mạng lưới truyền tải điện, theo lời ông Hervé Conan: Hervé Conan: Cộng đồng quốc tế đã cam kết trong khoảng từ 3 đến 5 năm tới sẽ cấp cho Việt Nam 15,5 tỷ đôla trong khuôn khổ Đối tác Chuyển đổi Năng lượng Công bằng. Riêng nước Pháp, thông qua cơ quan AFD, đã cam kết cấp ít nhất 500 triệu euro. Tài trợ của Pháp sẽ được cụ thể hóa qua các dự án lớn, đặc biệt là với EVN để một phần là tăng cường các đường dây truyền tải điện. Chúng tôi cũng làm việc với các ngân hàng công thiết lập các khoản tín dụng cho khu vực tư nhân để các doanh nghiệp này đóng góp vào tiến trình “xanh hóa” sản xuất năng lượng.Ngoài những đầu tư đó, chúng tôi cũng đóng góp những kỹ năng chuyên môn của Pháp về chuyển đổi năng lượng, để hỗ trợ cho chính phủ trong việc chọn lựa các giải pháp. Mặt khác, giai đoạn 2 của chương trình nghiên cứu GEMMES sẽ giúp cho việc mô hình hóa những tác động kinh tế xã hội của các chính sách mà Việt Nam sẽ chọn, để xác định những chính sách nào có ít tác động kinh tế xã hội nhất đối với người dân. Nói chung đó là sự hợp tác theo diện tương đối rộng nhằm hỗ trợ Việt Nam về nhiều mặt của tiến trình Chuyển đổi Năng lượng Công bằng để đạt mục tiêu trung hòa carbon vào năm 2050. Đây là một thách đố rất lớn đối với Việt Nam, đòi hỏi một cuộc cách mạng mới, hoặc như một số người gọi, một “đổi mới” thứ hai, một thay đổi quan trọng cần thiết để có được một tăng trưởng xanh trong những năm tới như mong muốn của Việt Nam.” Nhưng một tài liệu nghiên cứu được đăng trên trang web của cơ quan AFD trong tháng 11 có đưa ra lời cảnh báo cho Việt Nam:"Về lâu dài, nền kinh tế có thể bị mắc kẹt vào bẫy quốc gia có thu nhập trung bình nếu chính quyền không giải quyết được hai vấn đề mang tính cơ cấu: một là năng suất và mặt khác, và hai, mạnh mẽ hơn, là cuộc chiến chống biến đổi khí hậu. Việc chống biến đổi khí hậu hiện nay dường như được thực hiện rất nghiêm túc trong quy hoạch của Việt Nam nhằm đạt mục tiêu trung hòa carbon vào năm 2050. Tuy nhiên, nhiều chiến lược hiện nay phải được phối hợp một cách hài hòa để tránh những mâu thuẫn và trên hết phải được thực hiện bằng những hành động cụ thể. Thế mà, sự nặng nề của bộ máy quan liêu và của tiến trình ra quyết định theo chiều dọc vẫn còn là những hạn chế cản trở việc thực thi các dự án. Mặc dù có những cải tiến nhất định, nạn tham nhũng, tình trạng thiếu minh bạch và thống kê rời rạc tiếp tục tác động tiêu cực đến rủi ro quốc gia. Cơ quan công quyền sẽ có vai trò quan trọng trong việc giải quyết những thách thức này, thông qua việc gia tăng đầu tư công và cải thiện năng lực thực hiện."  
12/6/20238 minutes, 34 seconds
Episode Artwork

Mối quan hệ truyền thống khiến Việt Nam khó xử trong xung đột Israel-Hamas

Israel là một trong những đối tác hợp tác thương mại, đầu tư và lao động quan trọng hàng đầu của Việt Nam ở Trung Đông. Khoảng 500 người Việt sinh sống và làm việc ở Israel. Là nước thứ 16 ký Hiệp định Thương mại Tự do với Việt Nam, Israel còn là nguồn cung cấp vũ khí, trang thiết bị quốc phòng giúp Hà Nội đa dạng hóa đối tác. Tuy nhiên, cuộc chiến Israel-Hamas đẩy Việt Nam vào thế “tế nhị” trong khi cả Israel và Palestine đều có mối quan hệ lịch sử với Việt Nam. Ngày 24/10/2023, tại Liên Hiệp Quốc, đại sứ Đặng Hoàng Giang đã kêu gọi các bên ngừng bắn ngay lập tức, kiềm chế tối đa, tôn trọng luật nhân đạo quốc tế, bảo đảm an toàn và thả ngay lập tức cho tất cả các con tin, giảm thiểu thiệt hại đối với cơ sở hạ tầng dân sự thiết yếu. Đại sứ Giang cũng nhấn mạnh lập trường của Việt Nam ủng hộ giải pháp hai Nhà nước với Đông Jerusalem là thủ đô của Nhà nước Palestine và dựa trên các đường biên giới trước năm 1967.Trả lời RFI Tiếng Việt, giáo sư Pierre Journoud, chuyên về lịch sử Việt Nam, Đại học Paul Valery - Montpellier 3 (Pháp), nhận định những phát biểu của đại sứ Giang phần nào “có lợi cho Palestine”. Nhưng nhìn chung Việt Nam “có lập trường khá trung lập, tương tự với nhiều nước trên thế giới”. Và điều này "thể hiện mong muốn bảo vệ luật pháp quốc tế và phù hợp với lợi ích của Việt Nam". Vậy Hà Nội duy trì quan hệ với Israel và Palestine như thế nào ? Giáo sư Pierre Journoud trả lời một số câu hỏi của RFI Tiếng Việt.RFI : Việt Nam chính thức thiết lập quan hệ với Israel trong thập niên 1990. Mối quan hệ song phương tiến triển như thế nào để Israel hiện trở thành một trong những đối tác quan trọng của Hà Nội ? GS Pierre Journoud : Tôi muốn ngược dòng thời gian một chút để hiểu thêm bối cảnh. Trái với chúng ta hình dung, Việt Nam có mối quan hệ với Israel từ lâu. Với Israel, đó là mối quan hệ “bạn hữu” giữa chủ tịch Hồ Chí Minh và David Ben-Gourion, được coi là nhà lập quốc Israel.Năm 1946, Hồ Chí Minh được tiếp đón trọng thể ở Paris với tư cách chủ tịch nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa đến tham dự Hội nghị Fontainebleau. Tại Paris, Hồ Chí Minh gặp David Ben-Gourion, người sau này trở thành thủ tướng Israel giai đoạn 1948-1954 và 1955-1963. Lúc đó, chủ tịch Hồ Chí Minh thậm chí còn đề xuất đón Chính phủ Do Thái lưu vong ở miền bắc Việt Nam nhưng Ben-Gourion từ chối. Năm 1948, Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc thông qua việc phân chia Palestine, cho phép thành lập Nhà nước Israel (14/05/1948) trên một phần lãnh thổ của Palestine. Nghị quyết này phần nào giống với đề xuất trước đó của Hồ Chí Minh.Đúng là mối quan hệ Việt Nam-Israel thực sự phát triển từ những năm 1990 vì trước đó bị Chiến tranh lạnh cản trở. Việt Nam theo Liên Xô, trong khi khối này bị Israel cáo buộc mang tư tưởng bài Do Thái. Trở ngại lớn đó chỉ được dỡ bỏ sau khi Chiến tranh lạnh kết thúc và liên minh gần như duy nhất của Việt Nam với Liên Xô chấm dứt. Việt Nam và Israel thiết lập quan hệ ngoại giao năm 1993, đánh dấu một trang mới trong quan hệ giữa hai nước. Năm 2005, hai nước tổ chức đối thoại chính trị thường niên ở cấp ngoại trưởng. Đại sứ quán Việt Nam được mở ở Tel-Aviv năm 2009, sau 16 năm Israel mở đại sứ quán ở Hà Nội.Nếu đúng như thông tin tôi được biết, chuyến công du của tổng thống Shimon Peres năm 2011 dường như đánh dấu một bước ngoặt khi ông thuyết phục các nhà lãnh đạo Việt Nam về những tiềm năng, cơ hội phát triển kinh tế lớn mà mối quan hệ song phương có thể mang lại. Đây là điểm khá thú vị bởi vì ngoài Singapore - một trong những đồng minh châu Á thân cận nhất của Israel - Hà Nội là một đối tác quan trọng của Israel cho dù Việt Nam vẫn chống Israel trong khoảng 138 lần bỏ phiếu ở Liên Hiệp Quốc liên quan đến Nhà nước Do Thái kể từ năm 2015.Có thể thấy một sự “thiếu kết nối”, mà tôi thấy khá thú vị trong một số bài phân tích chuyên sâu : Một Nhà nước - ở đây là Việt Nam - vì những lý do liên quan đến tình đoàn kết với Palestine chống thực dân, chống đế quốc có từ thời chiến tranh Việt Nam, vẫn bỏ phiếu để chống lại Israel và các vấn đề liên quan đến Israel-Palestine ở Liên Hiệp Quốc. Nhưng điểm này đi ngược lại với mối quan hệ chính trị, đặc biệt là kinh tế, được phát triển sâu sắc và năng động từ nhiều năm nay giữa Israel và Việt Nam.RFI : Có thể thấy quốc phòng là một trong những chương trình hợp tác nổi bật nhất giữa Việt Nam và Israel. Gần đây, hai nước ký Hiệp định Thương mại Tự do ngày 25/07/2023. Nhìn chung, hai nước phát triển hợp tác trong những lĩnh vực nào ?GS Pierre Journoud : Đúng, đó là những lĩnh vực mà hai nước phát triển mối quan hệ đặc biệt hơn cả, ngoài ra phải kể thêm nông nghiệp và du lịch. Nhìn chung, hợp tác song phương được phát triển trong mọi lĩnh vực, kể cả công nghệ sinh học.Về kinh doanh, rất nhiều công ty Israel đầu tư vào Việt Nam, nhất là trong các ngành nông nghiệp, dược phẩm, công nghệ. Israel cũng đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc đào tạo nghề, khoa học-công nghệ, quản lý nông nghiệp ở cấp địa phương. Ở chiều ngược lại, rất nhiều doanh nghiệp Việt Nam cũng đầu tư vào lĩnh vực nghiên cứu và phát triển ở Israel. Tôi lấy ví dụ tập đoàn TH Group hợp tác với nhiều doanh nghiệp công nghệ Israel chuyên về sản xuất hệ thống vắt sữa tự động và hệ thống quản lý động vật.Thương mại song phương ngày càng gia tăng. Năm 2022, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam với Israel đạt hơn 2 tỉ đô la, tăng 18% so với năm 2021, theo số liệu được báo chí trích dẫn. Thặng dư thương mại nghiêng hẳn về phía Việt Nam, Israel thâm hụt thương mại hơn 1 tỉ đô la. Israel chủ yếu xuất sang Việt Nam đồ điện tử, phân bón. Việt Nam xuất sang Israel hải sản, giầy dép, điện thoại di dộng. Israel là một trong 16 nước trên thế giới ký Hiệp định Thương mại Tự do với Việt Nam. Về phần mình, Việt Nam muốn tăng cường cơ sở sản xuất của nền kinh tế do muốn tìm cách giảm bớt phụ thuộc vào Trung Quốc.Lĩnh vực quốc phòng cũng là một mục tiêu khác trong hợp tác với Israel. Trung Quốc không gây lo ngại đến mức như Nga bởi vì kể từ khi xảy ra xung đột Nga-Ukraina, nhưng có lẽ trước cả lúc đó, Việt Nam đã tìm cách thoát khỏi các mối liên kết gần như độc quyền, đặc biệt trong lĩnh vực quân sự. Nga là nhà cung cấp vũ khí và khí tài chính cho Việt Nam. Để đa dạng hóa nguồn cung, Việt Nam đã hướng đến Israel, đặc biệt là để bù đắp thiếu hụt kể từ khi xảy ra chiến tranh Ukraina, ví dụ mua các loại tên lửa địa đối không Spyder. Israel cũng bán cho Hà Nội các hệ thống giám sát và tình báo.Có thể thấy Israel - nằm trong số 10 nhà xuất khẩu vũ khí hàng đầu thế giới - hướng tới Việt Nam, nước trở thành một trong những khách hàng chính của Nhà nước Do Thái từ nhiều năm qua. Đặc biệt là từ những năm 2010, Việt Nam trở thành một trong những thị trường đầu ra chính cho ngành công nghiệp quốc phòng Israel, với tổng trị giá hợp đồng lên tới 1,5 tỉ đô la trong suốt thập niên 2010. Đây là một chuyển biến mới, Israel trở thành một trong những đối tác bán vũ khí quan trọng cho Việt Nam. Điều này cũng đặt ra vấn đề cạnh tranh cho Pháp, nước cũng tìm chỗ đứng trong lĩnh vực này, cũng như với Hoa Kỳ, quốc gia cũng muốn ký nhiều hợp đồng quy mô hơn với Việt Nam, trong bối cảnh căng thẳng với Trung Quốc và tận dụng quan ngại của Hà Nội trong việc đa dạng hóa đối tác kinh tế và quân sự.RFI : Song song đó, chúng ta cũng thấy Việt Nam duy trì mối quan hệ tốt với Palestine, dù không phát triển hẳn như với Israel trong những năm gần đây !GS Pierre Journoud : Tôi cho là mối quan hệ Việt Nam-Palestine vẫn chặt chẽ về chính trị nhưng không vững mạnh về kinh tế như với Israel. Điều này dễ hiểu vì sự phát triển kinh tế giữa Israel và Palestine chênh lệch nhau.Việt Nam và Palestine thiết lập quan hệ chính trị ngay năm 1968 vào lúc đỉnh điểm chiến tranh Việt Nam với cuộc tấn công Tết Mậu Thân. Tôi thấy là gần đây báo chí cũng nhắc đến sự kiện Tết Mậu Thân khi nói đến vụ tấn công bất ngờ của Hamas, cho dù sự liên tưởng đó là khiên cưỡng. Nhưng điều thú vị là trong kí ức tập thể, khi có một vụ tấn công hay phản công bất ngờ, người ta lập tức liên tưởng đến sự kiện Tết 1968, tiếp theo là cuộc phản công với sức hủy diệt mà mọi người dường như đã quên lãng. Cần phải nhắc lại rằng Tổ Chức Giải Phóng Palestine (PLO), ra đời năm 1967 ngay sau Cuộc chiến Sáu ngày, đã đặt văn phòng ở Việt Nam năm 1976.Về phía Việt Nam, ngay sau khi thống nhất đất nước năm 1975, đã trở thành một trong những Nhà nước đầu tiên công nhận Nhà nước Palestine và thiết lập quan hệ ngoại giao ngày 19/11/1988, ngay sau khi Palestine tuyên bố độc lập. Kể từ đó, Hà Nội luôn ủng hộ Palestine trong tiến trình hội nhập trong vùng và quốc tế. Ví dụ, năm 2012, Việt Nam ủng hộ nghị quyết cho phép Palestine được trao tư cách quan sát viên tại Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc, tiếp theo là ủng hộ đơn xin gia nhập nhiều tổ chức quốc tế khác của Palestine, như UNESCO, Interpol…Cũng trong thời điểm đó, cựu tổng thống Yasser Arafat công du Việt Nam khoảng 10 lần cùng với nhiều thành viên của tổ chức PLO, lần cuối cùng là vào năm 2001. Người kế nhiệm Mahmoud Abbas cũng công du Việt Nam ngày 24/05/2010. Theo bình luận của báo chí thời đó, hai bên nêu những triển vọng hợp tác trong nhiều lĩnh vực như chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục. Tôi không nghiên cứu chi tiết vấn đề này nhưng dường như những thỏa thuận đó đã không tạo được những trao đổi lớn giữa hai nước.Một điều khá thú vị là vào tháng 05/2023, Việt Nam và Palestine đã ký ở Hà Nội một Biên bản ghi nhớ (MOU) trong lĩnh vực phòng chống và kiểm tra tội pháp xuyên biên giới, nhân chuyến công du của bộ trưởng Nội Vụ Palestine Ziad Hab Al-Rih. Trong buổi làm việc với bộ trưởng Công An Tô Lâm, cả hai bày tỏ mong muốn tăng cường hợp tác an ninh và trao đổi trong lĩnh vực này. Nhưng nhìn chung, hợp tác giữa hai nước tiến triển chậm, rất khiêm tốn trong lĩnh vực thương mại. Có thể thấy phát biểu của mỗi bên đều kêu gọi thúc đẩy hợp tác là dấu hiệu cho thấy mối quan hệ không được phát triển mạnh, dù có tiềm năng.Mối quan hệ này làm tôi liên tưởng tới quan hệ giữa Việt Nam và Algérie. Đó là mối quan hệ đoàn kết lịch sử được hình thành từ cuộc đấu tranh chung, trước tiên là chống chủ nghĩa đế quốc và chủ nghĩa thực dân, sau đó là chống đế quốc Mỹ. Việt Nam thành “ngôi sao dẫn đường”, theo cách nói của nhà viết tiểu luận Frantz Fanon vì kháng chiến chống lại “cỗ xe ủi” Mỹ. Tất cả các tổ chức đấu tranh chống một lực lượng chiếm đóng thời đó, trong đó có Tổ Chức Giải Phóng Palestine của Yasser Arafat trong nửa sau thập niên 1960 - đầu những năm 1970, đều tỏ lòng ngưỡng mộ Việt Nam.Sau Chiến tranh Sáu ngày, tổ chức PLO đấu tranh chống Israel chiếm các vùng lãnh thổ không nằm trong phân định ban đầu được thông qua ở Liên Hiệp Quốc năm 1948. Điều thú vị là trong Cuộc chiến Sáu ngày này có sự tương đồng giữa chiến tranh Việt Nam và xung đột Israel-Ả Rập. Như tên gọi cho thấy cuộc chiến diễn ra ngắn ngày nhưng là một bước ngoặt. Đây cũng là một bước ngoặt đối với Pháp, vì tướng Charles de Gaulle, người lên án Mỹ năm 1966 can thiệp vào Việt Nam, đã chỉ trích Nhà nước Israel vi phạm luật pháp quốc tế khi chiếm đóng phi pháp các vùng đất của Palestine. Một chuyện khác có thể bị quên, đó là ngay sau khi Chiến tranh Sáu ngày kết thúc, một loạt đàm phán, hoàn toàn bí mật, do Pháp làm trung gian đã mở đường cho các cuộc đàm phán Mỹ-Việt tại Paris năm 1968. Có thể thấy sự trùng hợp ngẫu nhiên của lịch sử trở lại với thực tế hiện nay.Cuối cùng, tôi cho rằng có thể thoát khỏi cuộc khủng hoảng Israel-Palestine qua con đường đàm phán. Tôi nghĩ là Việt Nam có thể đóng một vai trò nào đó nhờ vào kinh nghiệm chiến tranh, cũng như kinh nghiệm đàm phán như tôi nêu ở trên. Với những kinh nghiệm đó, ngành ngoại giao Việt Nam có thể đóng một vai trò như họ vẫn mong muốn trong tiến trình hòa bình lâu dài ở Trung Đông, đặc biệt là trong cuộc xung đột Israel-Palestine hiện nay, được coi là kéo dài nhất và đau đớn nhất kể từ Thế Chiến II.RFI Tiếng Việt xin trân thành cảm ơn giáo sư lịch sử đương đại Pierre Journoud, Đại học Paul Valéry - Montpellier 3.
12/4/202311 minutes, 49 seconds
Episode Artwork

Nguyễn Văn Vĩnh dịch “Bệnh tưởng” của Molière mở đường khai sinh kịch nói Việt Nam

Năm 2022, đại văn hào Pháp Molière tròn 400 tuổi và cũng đánh dấu 102 năm vở kịch nói đầu tiên được diễn tại Việt Nam. Vở hài kịch Bệnh tưởng (Le Malade imaginaire) của Molière, được ông Nguyễn Văn Vĩnh (15/06/1882 - 02/05/1936) dịch trước đó, đã được diễn tại Hà Nội ngày 25/04/1920, mở đường hình thành nghệ thuật kịch nói ở Việt Nam. Trong những thập niên đầu thế kỷ XX, chữ quốc ngữ trở thành công cụ nhanh nhất và hiệu quả nhất để du nhập những kiến thức mới vào Việt Nam và Nguyễn Văn Vĩnh ý thức rõ được điều này. Cùng với nhiều học giả đương thời (Phạm Quỳnh, Phạm Duy Tốn, Nguyễn Văn Tố trong “Tứ Hổ Tràng An”), Nguyễn Văn Vĩnh tìm thấy trong văn học Pháp nguồn khai thác vô hạn để làm giầu văn học Việt Nam, cũng như để khuyến khích người dân học quốc ngữ, mà ông từng khẳng định : “Nước Nam ta mai sau này hay dở cũng ở chữ quốc ngữ !”Chọn hài kịch để dễ phổ biến chữ quốc ngữ Sau thời gian đầu chọn những tác phẩm kinh điển của Pháp để dịch sang tiếng Việt, như những tiểu luận của Rousseau (Du contrat social - Bàn về khế-ước xã-hội), Montesquieu (L’Esprit des Lois - Vạn-pháp tinh-lý) hoặc Helvétius (Le Traité de l’esprit), Nguyễn Văn Vĩnh hiểu ra rằng những tác phẩm đó quá cao siêu, vượt trình độ của phần đông dân chúng. Ông chuyển hướng dịch những tác phẩm văn học bình dân, dễ hiểu hơn. Và táo bạo hơn, Nguyễn Văn Vĩnh đưa ra ý tưởng “diễn kịch”, một cách để khẳng định khả năng diễn tả của chữ quốc ngữ trong những loại hình nghệ thuật mới.Bệnh tưởng, do Nguyễn Văn Vĩnh dịch, đã được trình diễn ngày 25/04/1920 tại Nhà hát thành phố (Nhà hát lớn Hà Nội), nhân kỷ niệm một năm ngày thành lập Hội Khai-trí tiến-đức (AFIMA). Phó giáo sư Nguyễn Phương Ngọc (1), giám đốc Viện Nghiên cứu châu Á (IrAsia), đại học Aix-Marseille, phân tích ý nghĩa sự kiện này :“Vở kịch đó có cái hay ở điểm đây là lần đầu tiên một vở kịch, gọi là “thoại kịch”, có nghĩa là kịch nói, chứ không phải hát, được trình diễn. Người diễn mặc trang phục theo kiểu châu Âu, đi lại, nói năng như người bình thường. Ngoài ra, những người diễn không phải là diễn viên chuyên nghiệp, vì lúc đó đâu có diễn viên chuyên nghiệp, cho nên các vai nam đều do các hành viên của Hội Khai-trí tiến-đức diễn. Còn hai vai nữ là mời hai diễn viên ở một đoàn tuồng ở Hà Nội tham gia. Bản thân Nguyễn Văn Vĩnh là người đóng vai ông lang ế, tức là ông bác sĩ ở trong vở kịch đó”.Bệnh tưởng (Le Malade imaginaire) là một trong bốn tác phẩm của Molière được Nguyễn Văn Vĩnh dịch, cùng với Trưởng giả học làm sang (Le Bourgeois gentilhomme), Người biển lận (L’Avare), Giả đạo đức (Tartuffe) và được đăng trên Đông-Dương tạp-chí. Sau đó, bốn tác phẩm này được in trong “Série A” của bộ sưu tập Phổ-thông giáo-khoa-thư xã, xuất bản tại Sài Gòn từ năm 1916, dưới sự chỉ đạo của François-Henri Schneider để cổ vũ giáo dục (2) và sau này, trong bộ sưu tập Danh văn nước Pháp dịch nôm, phụ bản của báo Trung-Bắc tân-văn trong những năm 1920-1921 tại Hà Nội.Là một người đam mê kịch Pháp, Nguyễn Văn Vĩnh đã bị những tác phẩm của Molière lôi cuốn vì chúng vừa hài hước vừa mang ý nghĩa dạy dỗ. Lời thoại dễ hiểu, dễ nghe là phương tiện hiệu quả để truyền bá chữ quốc ngữ, khác với lựa chọn lúc đó của học giả Phạm Quỳnh. Phó giáo sư Phương Ngọc giải thích tiếp :“Nguyễn Văn Vĩnh lựa chọn hài kịch, nhất là những vở của Molière là những vở nói về xã hội một cách phê phán, có cái nhìn phê phán, tức là dùng tiếng cười để nói lên những cái xấu, những cái cần phải sửa đổi của xã hội. Còn Phạm Quỳnh không dịch hài kịch. Ông dịch bi kịch, như Le Cid (Lôi-xích) của Corneille chẳng hạn. Theo Phạm Quỳnh, dịch kịch hoặc tiểu thuyết nói chung là phải dịch những tác phẩm có những ý tưởng cao đẹp về Tổ quốc, về yêu nước.Nguyễn Văn Vĩnh thì rất là khác. Ông có tinh thần phê phán xã hội và dùng cái cười để giúp người xem tự phân tích được những cái xấu trong xã hội. Có lẽ hai lựa chọn đó cũng liên quan đến hai cá tính khác nhau bởi vì Nguyễn Văn Vĩnh có rất nhiều bài báo phê phán xã hội Việt Nam thời đó, những cái gọi là “hủ tục”. Về mặt đó, Nguyễn Văn Vĩnh là người rất gần với tư tưởng duy tân. Trong khi đó, Phạm Quỳnh là người hay nói tới “tồn cổ”, tới “quốc hồn, quốc túy”.Kể cả trong cách ăn mặc chẳng hạn, Nguyễn Văn Vĩnh phải nói là người rất là trẻ, rất hiện đại, rất là tân học, mặc com-lê, thắt cà vạt. Còn Phạm Quỳnh mặc áo dài theo kiểu truyền thống. Có thể đó là một cách giải thích. Còn các nhà nghiên cứu, các chuyên gia về kịch nói có thể đưa ra những phân tích, những giải thích khác, thì ý đó tôi không được biết rõ lắm”.Đưa cái mới để đập tan cổ hủNguyễn Văn Vĩnh đã được tiếp xúc với nghệ thuật kịch nói ngày từ năm 1906, trong chuyến sang Marseille, miền nam Pháp, dự Triển lãm Thuộc địa (Exposition coloniale de Marseille). Trong thư đề ngày 27/06/1906 gửi cho người bạn Phạm Duy Tốn, ông viết : “Đêm qua, Đ. T. Kim và tôi đi xem diễn kịch Le Cid ở nhà hát lớn, đi xem không mất tiền, vì có ông Vierge mời.Sướng quá, nhất là tại lần đầu tôi được đi xem diễn một tích hát cổ điển mà chúng ta chỉ mới được đọc thôi. Cách họ ngâm thơ làm cho ta hiểu thêm cái hay của văn chương, cái cao thượng của tình cảm thường thường người ta không được thấy rõ lắm trong khi đọc sách…” (3)Thất vọng vì hai người bạn đồng hành Đ. T. uể oải, thờ ơ trong buổi diễn nhưng vẫn vờ tán dương, Nguyễn Văn Vĩnh phải thốt lên trong thư : “Người mình bướng quá. Muốn làm cho họ thấy sự tiến bộ, thật là khó quá. Chúng ta không bao giờ chịu nhận chúng ta thua kém các dân tộc khác. Vả lại, nhận tội lỗi của mình, có phải là một sự nhục nhã gì cho cam ! Trong cõi đời này, ai lại chẳng có tính xấu ?... Đối với họ, đem giấu những nết xấu của mình đi, rồi lấy đó làm tính tốt, thế là yêu nước, thế là làm vẻ vang cho nòi giống đó ! ...Muốn có một lớp người khá, muốn có một lớp người hướng dẫn quốc dân vào con đường khoa học, ta phải mong ở lớp người đến sau, ở những bọn thiếu niên bây giờ. Óc họ chưa bị những thành kiến cổ hủ đồi bại ăn sâu đục thủng. Ngồi mà nghĩ rằng tôi sẽ là người đầu tiên để làm cái công việc đó để mà gây lấy một tương lai tốt đẹp đó, tôi sung sướng vô cùng. Cha mẹ, anh em, vợ con, tất cả đều phải nhòa trước tư tưởng đó để nhường chỗ cho một lòng vui thích êm ái nhất…”.Sau 14 năm trăn trở, Nguyễn Văn Vĩnh đã thực hiện được mong muốn. Ông đưa kịch nói vào Việt Nam. Theo ông, đây là một “loại hình nghệ thuật mượn nhiều nghệ thuật khác”, như sử dụng văn học để đối thoại, cần âm nhạc và múa để diễn tả những cấp độ khác nhau và hội họa, điêu khắc để trang trí. Nhưng điều lớn hơn cả, đó là “mục tiêu của nghệ thuật này là cho thấy vẻ đẹp của bản chất con người và thái độ của họ trong cộng đồng” (4). Phó giáo sư Phương Ngọc phân tích tiếp ý nghĩa của buổi diễn kịch nói đầu tiên :“Cần phải nói là vở kịch đó được diễn ở Nhà hát thành phố, tức là địa điểm văn hóa quan trọng nhất, đẹp nhất tại Hà Nội và tại xứ Đông Dương. Vở kịch Bệnh tưởng, khi được biểu diễn ngày 25/04/1920 là vào dịp, cũng rất đặc biệt, là để kỉ niệm một năm ngày thành lập Hội Khai-trí tiến-đức (AFIMA), tức là hội gồm những người có tên có tuổi trong xã hội thời đó, do Phạm Quỳnh, lúc đó là chủ nhiệm báo Nam Phong, đứng ra làm chủ tịch hội.Vì thế, sự kiện biểu diễn một vở kịch nước ngoài, dưới một hình thức rất mới, tức là nói chứ không phải là hát, do những người không chuyên biểu diễn, thì đó là một sự kiện văn hóa rất có tiếng vang và rất là mới”.Những lời bình luận tích cực nhanh chóng xuất hiện trên báo chí. Trong bài “Molière chez les Annamites” trên tạp chí La Revue Indochinoise số 5-6 ra tháng 05-06/1920, tác giả M. G. Dufresne “cảm thấy một sức hấp dẫn mới, không có được trong nguyên bản tiếng Pháp - có lẽ không lớn hơn, nhưng với một chất lượng mới” và hoan nghênh sự lựa chọn xác đáng của ông Nguyễn Văn Vĩnh : “Dịch giả hiểu rằng Molière là nguồn kịch Pháp thực thụ, và đối với các nghệ sĩ, hài kịch có nhiều khả năng thành công hơn bị kịch”.Mở đường phát triển cho kịch nói Việt NamÔng Phạm Quỳnh, chủ bút Nam-Phong tạp-chí, coi ngày 25/04/1920 là một ngày không thể quên trong lịch sử của Hội Khai-trí tiến-đức (AFIMA), trong lịch sử sân khấu và văn học Việt Nam. Sau buổi biểu diễn, Thượng Chi (bút danh của Phạm Quỳnh) đã dành 19 trang trong số 35 của Nam-Phong tạp-chí để giới thiệu “Lịch sử nghề diễn-kịch ở nước Pháp - Bàn về hí-kịch của ông Molière”. Trong lời nói đầu, Phạm Quỳnh viết : “Vả nước ta bây giờ đương giữa lúc muốn sửa-đổi nghề tuồng trong nước, cần phải nên biết lịch-sử và sự-nghiệp các bậc soạn kịch đại-danh như ông Molière”.Nghệ thuật kịch Việt Nam bước vào một giai đoạn mới, theo phó giáo sư Nguyễn Phương Ngọc :“Buổi trình diễn vở kịch Bệnh tưởng đó có ảnh hưởng rất tới đời sống văn hóa, văn học, cũng như là nghệ thuật sân khấu Việt Nam nói chung. Tại như này : Rõ ràng là phải có vở kịch được biểu diễn tại Nhà hát thành phố, hiện giờ là Nhà hát lớn, năm 1920 thì sau đó, hơn một năm rưỡi sau, vào ngày 22/10/1921, mới có vở kịch Chén thuốc độc do một tác giả người Việt Nam, Vũ Đình Long, viết bằng tiếng Việt, về một đề tài xã hội lúc đó.Chén thuốc độc, trước khi được trình diễn, đã được đăng trên tạp chí Hữu-Thanh, là tạp chí của Hội Bắc-Kỳ Công-Nông-Thương đồng-hội, lúc đó do nhà thơ, nhà văn Tản Đà làm chủ nhiệm. Vở kịch Chén thuốc độc được dàn dựng và trình diễn cũng tại Nhà hát thành phố. Sự kiện sân khấu đó cũng là để kỉ niệm một năm ngày thành lập hội Bắc-Kỳ Công-Nông-Thương đồng-hội. Cũng như trước đó năm 1920, vở kịch Chén thuốc độc có tiếng vang rất lớn và sau đó, có thể nói là kịch nói ở Việt Nam đã được chính thức khai sinh.Có thể nói ngày khai sinh là năm 1920 khi diễn vở kịch Bệnh tưởng hoặc cũng có thể nói là chính thức khai sinh năm 1921 với vở kịch Việt Nam. Theo tôi, cả hai sự kiện đó đều là sự kiện khai sinh ra nghệ thuật sân khấu kịch nói ở Việt Nam”.*****(1) Phó giáo sư Nguyễn Phương Ngọc là dịch giả hai tác phẩm La Belle d'Occident của Huỳnh Thị Bảo Hòa và Le Petit Rêve của Tản Đà, do NXB Decrescenzo phát hành tại Pháp. (2) Corinne Flicker và Nguyễn Phương Ngọc (chủ biên), Théâtres français et vietnamien - Un siècle d’échange (1900-2008) (Kịch Pháp và Việt Nam, một thế kỷ giao lưu (1900-2008), NXB Presses universitaires de Provence, 2014.Nhiều bản dịch khác của Nguyễn Văn Vĩnh ban đầu được đăng trên Đông-Dương tạp-chí, sau đó được xuất bản trong bộ sưu tập này, như Thơ ngụ ngôn La Fontaine diễn nôm (Les Fables de La Fontaine, 44 truyện), Truyện trẻ con của Perrault tiên-sanh diễn nôm (Les Contes de Perrault), Chàng Gil Blas ở xứ Xăngtizan (Gil Blas de Santillane của Lesage), Qui-li-ve du ký (Les Voyages de Gulliver, J. Swift), Tê-lê-mặc phiêu lưu ký (Les Avantures de Télémaque của Fénelon).Ngoài ra, Nguyễn Văn Vĩnh còn dịch nhiều tác phẩm khác : Ba người lính ngự lâm (Les Trois Mousquetaires, Alenxandre Dumas), Mai-nương Lệ-cốt (Manon Lescaut của cha Antoine-François Prévost), Tấm da lừa (La Peau de chagrin, Balzac), Những người khốn khổ (Les Misérables, Victor Hugo), Rabelais (Emile Vayrac), Le Parfum des humanités (Emile Vayrac)… Truyện các danh nhân Hi Lạp La Mã dồi nhau (Les Vies parallèles des hommes illustres de la Grèce et de Rome của Plutarque), Tục-Ca-Lệ (Turcaret, Alain-René Lesage)(3) Vũ Bằng, “Tưởng nhớ một bực thầy : Quan-Thành Nguyễn Văn Vĩnh”, Tạp chí Văn học, số 111, Saigon, 8-31 (tra cứu ngày 06/02/2022).(4) Nguyễn Văn Vĩnh, “Nghề diễn-kịch bên Đại Pháp”, Đông-Dương tạp-chí, số 18 (bản mới).(Tạp chí phát lần đầu ngày 06/12/2022)
12/1/202310 minutes, 57 seconds
Episode Artwork

Việt Nam, Úc trên đường trở thành "đối tác chiến lược toàn diện"

Theo báo chí chính thức của Việt Nam, bên lề Thượng đỉnh APEC tại San Francisco, Hoa Kỳ, ngày 17/11/2023, chủ tịch nước Võ Văn Thưởng đã gặp thủ tướng Úc Anthony Albanese. Trong cuộc gặp này, thủ tướng Úc đã bày tỏ mong muốn “quan hệ với Việt Nam tiếp tục phát triển lên tầm cao mới, tương xứng với tiềm năng của hai bên”. Ông Albanese đã tuyên bố như trên trong bối cảnh năm nay là kỷ niệm 50 năm thiết lập bang giao giữa Canberra và Hà Nội và cũng là năm được coi là “chín mùi” để hai nước nâng quan hệ lên thành “đối tác chiến lược toàn diện”."Đối tác chiến lược toàn diện" là cấp cao nhất trong hệ thống phân cấp quan hệ ngoại giao của Việt Nam, một mối quan hệ mà Việt Nam cho đến nay mới chỉ thiết lập với 5 quốc gia Trung Quốc, Nga, Ấn Độ, Hàn Quốc và gần đây nhất, vào tháng 9, là với Hoa Kỳ. Riêng Úc chỉ mới là đối tác chiến lược của Việt Nam kể từ năm 2018, trong khi Canberra đã thiết lập bang giao với Hà Nội từ cách đây 50 năm, tức ngay cả trước khi kết thúc chiến tranh Việt Nam.Trả lời RFI Việt ngữ qua điện thoại từ Sydney ngày 23/11/2023, nhà báo Lưu Tường Quang trước hết nhắc lại lịch sử bang giao giữa Úc với Việt Nam: “Bang giao song phương giữa hai nước đã bắt đầu từ năm 1973. Sau khi hiệp định Paris được ký kết vào tháng 1/1973, chính phủ Úc lúc đó dưới quyền của thủ tướng Gough Whitlam đã công nhận chế độ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, đồng thời vẫn duy trì bang giao với Việt Nam Cộng Hòa.Trong thời gian Việt Nam bị Hoa Kỳ cấm vận, ai đã giúp Việt Nam thoát ra khỏi sự cô lập? Chính là nước Úc. Chính ngoại trưởng Bill Haydon đầu thập niên 1980 đã vận động để Việt Nam bớt bị cô lập và có thể gia nhập lại môi trường bang giao thế giới. Cũng vì thế mà vào năm 1984, do lời mời của ngoại trưởng Bill Haydon mà ông Nguyễn Cơ Thạch đã là ngoại trưởng đầu tiên của CHXHCN Việt Nam thăm một quốc gia Tây phương tại Canberra.Vào năm 1999, Úc là một trong những quốc gia phương Tây đầu tiên thương thuyết và chấp nhận với Việt Nam trao đổi tùy viên quân lực giữa Canberra và Hà Nội.”  Trong bài viết đăng trên trang The Diplomat của Nhật ngày 01/11/2023, tiến sĩ Nguyễn Hồng Hải, nghiên cứu viên của Trung tâm Tương lai chính sách, Đại học Queensland (Úc) nhắc lại:“Ý tưởng nâng cấp quan hệ lần đầu tiên được ngoại trưởng Úc Marise Payne đề xuất với đồng nhiệm Việt Nam Phạm Bình Minh vào tháng 11/2020. Sau đó, ý tưởng này đã được cựu thủ tướng Scott Morrison hai lần nêu ra trong các cuộc điện đàm riêng với thủ tướng Việt Nam Nguyễn Xuân Phúc và Phạm Minh Chính vào tháng 1 và tháng 5/ 2021. Với sự thay đổi chính phủ ở Úc sau cuộc bầu cử vào tháng 5/2022, cuộc thảo luận về việc nâng cấp đã bị đình trệ cho đến chuyến thăm của chủ tịch Quốc Hội Việt Nam Vương Đình Huệ tới Canberra vào cuối tháng 11 và đầu tháng 12/2022. Trong các cuộc gặp với các thành viên của cả hai cơ quan hành pháp và lập pháp của Úc, ông Vương Đình Huệ đã đạt được sự đồng thuận với họ về việc nâng cấp quan hệ song phương. Hai bên dự kiến việc nâng cấp sẽ diễn ra vào dịp kỷ niệm 50 năm quan hệ ngoại giao giữa hai nước trong năm nay." Nhà báo Lưu Tường Quang cũng tin rằng rất có khả năng là trong vài tháng tới, quan hệ giữa Úc với Việt Nam sẽ được nâng cấp lên đến mức cao nhất:“Không những tôi tin tưởng bang giao song phương giữa CHXHCN Việt Nam và Úc sẽ được nâng lên mức cao nhất trong cuối năm nay, hoặc đầu năm tới, mà còn có những dấu hiệu rất cụ thể cho thấy việc này có nhiều khả năng xảy ra, căn cứ vào các cuộc thăm viếng của các quan chức cao cấp của Úc đến Việt Nam, cũng như cuộc gặp mới đây nhất giữa chủ tịch nước Võ Văn Thưởng và thủ tướng Anthony Albanese nhân thượng đỉnh APEC tại San Francisco.Với sự thăm viếng dồn dập từ phía Úc sang Việt Nam mà Việt Nam chưa đáp lễ ở mức tương đương, tôi nghĩ đây là thời điểm tốt để từ đây đến cuối năm, một trong ba vị trong “tứ trụ triều đình” có thể sang thăm Úc và có thể một trong những mục tiêu sẽ là nâng cấp quan hệ đối tác chiến lược đã có từ 2018 lên mức đối tác chiến lược toàn diện trong năm 2023 hoặc đầu năm 2024. Cuối tháng 11 đầu tháng 12/2022, chính Việt Nam đã cử chủ tịch Quốc Hội Vương Đình Huệ sang thăm Úc như là sự kiện khởi đầu kỷ niệm 50 năm bang giao. Tuy nhiên, từ đó cho đến nay chúng ta không thấy các nhân vật quan trọng trong nhóm tứ trụ có mặt tại Úc. Trong số 3 vị còn lại, tất nhiên là tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng sẽ không thể thăm Úc, do ông đã không thể đi thăm Hoa Kỳ vì lý do sức khỏe, mặc dù trong lịch sử bang giao Úc-Việt Nam, đã từng có 2 tổng bí thư thăm nước Úc: ông Nông Đức Mạnh vào năm 2009 và trước đó là ông Đỗ Mười năm 1995 vào thời thủ tướng Paul Keating. Tôi thấy thủ tướng Albanese đã thăm Hà Nội hồi tháng 6/2023 và đã gặp gỡ và thảo luận với thủ tướng Phạm Minh Chính, thì tôi nghĩ là để đáp lễ, nhân vật có thể đến thăm Úc đây đến cuối năm hoặc đầu năm tới là ông Phạm Minh Chính chăng? Một trong hai người có thể đến Úc, đó là ông Phạm Minh Chính và ông Võ Văn Thưởng.”   Trong bài viết đăng trên The Diplomat ngày 01/11, nhà nghiên cứu Nguyễn Hồng Hải đã nêu ra ba lựa chọn mà Việt Nam và Úc có thể cân nhắc nếu mong muốn nâng cấp mối quan hệ trong năm nay. Phương án đầu tiên là chủ tịch nước Võ Văn Thưởng và thủ tướng Albanese sẽ đưa ra thông báo khi gặp nhau bên lề Thượng đỉnh APEC ở San Francisco ( Nhưng việc này đã không diễn ra ). Lựa chọn thứ hai, mặc dù hơi kém, là việc nâng cấp diễn ra thông qua cuộc gặp trực tuyến giữa hai thủ tướng, như Việt Nam đã làm với New Zealand vào năm 2020. Lựa chọn thứ ba và lý tưởng nhất sẽ là chuyến thăm ngắn ngày của thủ tướng Phạm Minh Chính tới Canberra nhưng tập trung vào việc nâng cấp trước khi năm 2023 kết thúc, giống như chuyến thăm ngắn ngày của tổng thống Joe Biden tới Việt Nam vào tháng 9. Theo đánh giá của nhà báo Lưu Tường Quang, việc nâng cấp quan hệ lên thành đối tác chiến lược toàn diện sẽ có lợi cho cả hai nước Úc và Việt Nam :“Trong các cuộc gặp gỡ, chẳng hạn như giữa thủ tướng Albanese với thủ tướng Phạm Minh Chính nhân chuyến thăm chính thức ngày 07/06/2023, hai bên đã nêu lên sự hợp tác ngày càng tốt đẹp giữa Úc và CHXHCN Việt Nam, không những về đầu tư thương mại, chống biến đổi khí hậu, mà nước Úc còn giúp cho Việt Nam về phát triển qua các viện trợ phát triển chính thức ODA. Nhưng cả hai bên cũng đều nói là có thể tăng cường quan hệ về an ninh quốc phòng. Tôi nghĩ Việt Nam và Úc có một mẫu số chung là vì trong vấn đề tranh chấp Biển Đông, Úc ủng hộ lập trường của Việt Nam: Biển Đông phải được giữ nguyên trạng, không được quân sự hóa và phải được tự do lưu thông hàng hải, hàng không. Nước Úc coi sự đe dọa của Trung Quốc ở Biển Đông như là một sự đe dọa đối với chính nước Úc. Sự hợp tác về quốc phòng rất là đa dạng. Việt Nam có khả năng tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình trên thế giới, như tại Nam Sudan, phần lớn là do được Úc huấn luyện, không chỉ về Anh ngữ, mà cả về cách hành xử khi tham gia các chiến dịch bảo vệ hòa bình. Chính các phi cơ vận tải của Úc đã chở các binh lính Việt Nam sang Nam Sudan. Hợp tác quốc phòng giữa hai nước ngày càng khắng khít. Tại các học viện quân sự của Úc, hiện có nhiều sinh viên sĩ quan của Việt Nam đang theo học.Vì những lý do đó mà tôi nghĩ là việc nâng cấp quan hệ đối tác chiến lược lên chiến lược toàn diện sẽ có lợi cho cả hai bên. Tôi nghĩ có hai lĩnh vực mà Úc có thể gia tăng trợ giúp Việt Nam về an ninh quốc phòng. Thứ nhất là huấn luyện đơn vị quân đội Việt Nam tham gia bảo vệ hòa bình theo chương trình của Liên Hiệp Quốc. Thứ hai là Úc chia sẻ quan điểm của Việt Nam về tranh chấp Biển Đông, coi vấn đề tự do hàng hải và hàng không là quan trọng, cũng như Úc không chấp nhận việc Bắc Kinh quân sự hóa Biển Đông. Thứ ba là trong các cuộc gặp gỡ giữa ông Albanese và ông Phạm Minh Chính cũng như trong các cuộc gặp song phương giữa ngoại trưởng Penny Wong với ngoại trưởng Bùi Thanh Sơn, hai bên đã cam kết sẽ tiếp tục thảo luận ở cấp cao mỗi năm, đồng thời hỗ trợ lẫn nhau tại các diễn đàn khu vực và thế giới. Những từ ngữ mà tôi cho là rất khích lệ: Cả hai bên đều coi đối tác của mình là quan trọng.Về phía nước Úc, ông Albanese đã nói rõ với ông Phạm Minh Chính khi thăm Việt Nam hồi tháng 6 là nước Úc coi Việt Nam là đối tác hàng đầu và ngay trong cuộc gặp bên lề thượng đỉnh APEC, ông Albanese cũng đã nói với chủ tịch nước Võ Văn Thưởng rằng nước Úc coi Việt Nam là đối tác chiến lược hàng đầu trên thế giới.  Thật sự thì nước Úc không phải là một đại cường, mà chỉ là một quốc gia phát triển bậc trung, cho nên sự gần gũi giữa Úc với Việt Nam dễ dàng được thực hiện."
11/27/20239 minutes, 27 seconds
Episode Artwork

Ấn vàng triều Minh Mạng mở đường “hồi hương” cổ vật Việt ở nước ngoài

Ấn vàng “Hoàng đế chi bảo” dự kiến trở về cố hương tháng 11/2023 sau hơn nửa thế kỷ chu du trên đất Pháp. Theo thông báo của cục trưởng Cục Di sản Văn hóa Lê Thị Thu Hiền trong cuộc họp thường kỳ quý 3 của bộ Văn Hóa - Thể Thao & Du Lịch, “dự kiến cuối tháng 10 tất cả thủ tục pháp lý liên quan tới ấn vàng sẽ hoàn tất để có thể giao lại cho chúng ta”, các cơ quan liên quan ở Việt Nam “làm các thủ tục pháp lý để tiến hành đưa ấn vàng về nước”. Số phận của ấn vàng cũng lênh đênh như chủ sở hữu quá cố - cựu hoàng Bảo Đại - đã thu hút sự mọi chú ý khi ấn vàng được giao độc quyền cho nhà đấu giá Pháp Millon vì gia đình chủ sở hữu không nhận được hồi âm về đề xuất thỏa thuận riêng với phía Việt Nam trước đó.Ấn vàng được đúc năm 1823 thời vua Minh Mạng (1820-1841), nằm trong lô số 101 “Art du Vietnam” (Nghệ thuật của Việt Nam), được nhà đấu giá Millon thông báo trên trang web ngày 19/10/2022. Chưa đầy hai tuần sau, phía Việt Nam đã đàm phán thành công để hãng Millon tạm hoãn đấu giá và ngay cùng ngày 31/10, hãng ra thông cáo đưa ấn vàng “Hoàng đế chi bảo” ra khỏi danh mục cổ vật đấu giá trong ngày.Đại sứ quán Việt Nam tại Paris và đại sứ quán Pháp tại Hà Nội đã hỗ trợ tích cực quá trình đàm phán này. Trả lời RFI Tiếng Việt ngày 07/04/2023, đại sứ Pháp tại Việt Nam Nicolas Warnery cho biết :“Chúng tôi đã rất chú ý theo dõi quãng thời gian đàm phán hồi hương ấn vàng của vua Minh Mạng mà cựu hoàng Bảo Đại sở hữu. May là quãng thời gian này rất ngắn. Chúng tôi được thông báo về việc này rất sớm. Lúc đó, chúng tôi đã báo ngay cho Paris về thực chất của vấn đề, tiếp theo là kết nối chính quyền Việt Nam với nhà bán đấu giá để bên muốn có được ấn vàng có thể thỏa thuận mua và tránh bán công khai. Phải nhắc lại là đây là một cổ vật quý giá, đầy ý nghĩa lịch sử xúc động”.Biểu tượng của một chế độ - minh chứng của một giai đoạn lịch sử Việt NamTheo sách Đại Nam thực lục của Quốc Sử quán triều Nguyễn, được trang Facebook Thông tin Chính phủ trích dẫn, ấn vàng “Hoàng đế chi bảo” “được đúc vào ngày Giáp Thìn, mùng 4 tháng Hai năm Minh Mạng thứ 4 (tức ngày 15/3/1823). Ấn có nuốm (quai) làm rồng cuốn 2 tầng, vuông 3 tấc 2 phân, dày 5 phân, bằng vàng mười tuổi, nặng 180 lạng 9 đồng 2 phân (khoảng 10,78 kg)”.Nhưng ấn vàng Minh Mạng còn mang nhiều giá trị khác, theo giải thích của nhà báo - nhà nghiên cứu lịch sử Dương Trung Quốc khi trả lời RFI Tiếng Việt :“Ngoài giá trị hiện kim của ấn vàng là một khối vàng ròng như vậy, có trọng lượng cụ thể như thế, chiếc ấn còn là một bằng chứng lịch sử gắn với triều đại phong kiến cuối cùng ở Việt Nam tồn tại hơn một thế kỷ, tính từ năm 1802 cho đến năm 1945. Đồng thời, bản thân chiếc ấn cũng gắn với một sự kiện lịch sử được coi là trọng đại. Đó là khi chế độ phong kiến kết thúc sứ mệnh của mình ở Việt Nam với việc hoàng đế Bảo Đại cáo chung và trao lại cho chính quyền Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa chiếc ấn và biểu hiện cho sự chấm dứt quyền lực của vương triều. Tiếp theo còn có những câu chuyện có thể nói là rất ly kỳ sau này, khi số phận của ấn trôi nổi như thế cho đến việc đem ra đấu giá, rồi chuyện thương thảo của phía Việt Nam để đến ngày hôm nay được coi như là đưa trở về cố quốc. Tôi cho điều đó tạo nên những giá trị cho chiếc ấn đó. Vì thế, tôi nghĩ nó không chỉ là một chiếc ấn vàng, không chỉ là gắn liền với một chế độ, mà gắn liền với cả một giai đoạn lịch sử của dân tộc Việt Nam”.Biểu tượng của triều Nguyễn trôi dạt sang PhápKim bảo tỷ của hoàng đế Minh Mạng (1791-1841) được nhà đấu giá Millon giới thiệu trên trang web là có đế đúp vuông chồng lên nhau, hình rồng cuộn tròn, có 5 móng bám chặt, phần đầu nhô lên có khắc chữ 王 (Vương), đuôi dựng thẳng phía sau đầu, thân cuốn theo hình xoắn ốc với một phần nhô lên để tô điểm cho thân đầy vảy, đầu tua tủa sừng để lộ mõm sư tử và răng nanh. Bốn chân bám chắc, mỗi chân có 5 móng. Dưới đế khắc 4 chữ Hán : 皇帝之寶 (Hoàng Đế chi bảo).Trong cuốn hồi ký Le Dragon d’Annam (Con rồng An Nam, NXB Plon, 1980, tr. 43), cựu hoàng Bảo Đại viết : “Thời Minh Mạng đánh dấu đỉnh cao của nhà Nguyễn. Đó là thời kỳ thịnh vượng nhất của đất nước. Tiếp nối công việc của cha, vua Minh Mạng cho đắp đê, làm đường, xây cầu, đào kênh, chỉnh trang thành thị, phát triển hải cảng. Ngoài ra, hoàng đế hoàn thành bộ luật do vua Gia Long thực hiện và đặt ra các quy tắc về nghi thức, từ đó trở đi, sẽ chi phối triều đình và tất cả những gì liên quan đến công việc tổ chức hoàng gia. Trong tất cả những công việc đó, vua Minh Mạng cho thấy trí tuệ tuyệt vời”.Kim bửu tỷ, Kim bảo tỷ hay Kim tỷ là các ấn hiếm nhất, quan trọng nhất và được làm bằng vàng ròng. Dưới thời Minh Mạng, khoảng 15 ấn bằng ngọc và bằng vàng được đúc, trong đó có ấn "Hoàng đế chi bảo". Sau đó, ấn vàng này trở thành biểu tượng của sự chuyển giao quyền lực. Nhà sử học Dương Trung Quốc cho biết :“Người ta đều biết rằng chiếc ấn này có thể đại diện cho triều đại phong kiến Việt Nam cuối cùng là triều Nguyễn và đã được đích thân hoàng đế Bảo Đại giao lại cho chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ở Huế ngày 30/08/1945. Sau đó, ấn vàng được giới thiệu rộng rãi với công chúng trong ngày Lễ Độc lập 02/09/1945.Người ta cũng được biết rằng chiếc ấn này đã bị thất lạc trong quá trình chiến tranh Pháp-Việt bùng nổ vào cuối tháng 12/1946. Có người nói rằng bởi vì các nhà lãnh đạo cho rằng chiến sự bùng nổ ở Hà Nội sẽ chỉ ngắn thôi, cho nên đã định chôn cất lại ở ngoại ô thành phố. Sau đó khi cuộc kháng chiến trở nên lâu dài, người Pháp trở lại Hà Nội và trong một chuyến rà soát, họ phát hiện ra. Tất cả các bằng chứng đều cho thấy rằng có một buổi lễ mà phía Pháp coi là một thắng lợi khi thu hồi được ấn đó và trao lại cho Bảo Đại, lúc đó trở thành quốc trưởng, có nghĩa là người đứng đầu chính quyền thân Pháp trong cuộc chiến ở Việt Nam. Cuối cùng chính quyền Bảo Đại cũng đổ năm 1955, ông lưu vong ra nước ngoài và có lẽ chiếc ấn cũng theo ông ra nước ngoài”.Trong thời gian sống ở Pháp, cựu hoàng Bảo Đại ly hôn hoàng hậu Nam Phương và sống không dư giả. Năm 1972, ông làm quen bà Monique Baudot, người sau này trở thành vợ ông và tự phong là hoàng phi Vĩnh Thụy. Sau khi cựu hoàng Bảo Đại qua đời năm 1997, hoàng phi xưng là hoàng hậu Thái Phương. Bà tiếp tục chăm sóc mộ phần của người chồng quá cố cho đến khi bà qua đời năm 2021. Khối tài sản mà vua Bảo Đại để lại cho người vợ Pháp đã được chia cho những người thừa kế.Tình trạng “chảy máu” báu vật do những biến cố lịch sửTheo nhà sử học Dương Trung Quốc, không chỉ có ấn vàng mà khá nhiều báu vật của Việt Nam bị thất thoát ở nước ngoài qua nhiều biến cố lịch sử.“Có những thất thoát trực tiếp trong biến cố ấy. Ví dụ người ta hay nhắc đến vụ người Pháp tấn công vào kinh đô Huế năm 1885 và sự cướp bóc kho tàng của triều đình Huế thì cũng chẳng khác gì chuyện xảy ra ở Trung Quốc, của liên quân Bắc Quốc đối với triều đại nhà Thanh. Cho nên số lượng báu vật ra nước ngoài là bao nhiêu, thì có thể nói đến bây giờ cũng chưa ai biết cụ thể cả.Điểm thứ hai là những biến cố lịch sử khiến cho một bộ phận cư dân phải rời tổ quốc ra đi. Họ cũng mang theo rất nhiều báu vật, cũng giống như thời kỳ Minh-Thanh, rất nhiều người Trung Quốc đi ra hải ngoại mang theo những gia bảo, cũng như những đồ vật có giá trị quốc gia. Tiếp theo phải kể đến những biến cố chính trị khác thời kỳ Pháp, Nhật, kể cả thời kỳ chiến tranh Mỹ ở Việt Nam. Có thể nói lưu dân Việt Nam tản cư cũng đã mang theo rất nhiều. Chỉ có điều bây giờ không biết là bao nhiêu và ở đâu. Bên cạnh đó còn có những công viện của những cơ quan nghiên cứu, như Viễn Đông Bác Cổ hay những bảo tàng lớn ở Pháp, cũng lưu giữ một số hiện vật trong quá trình khai quật, nghiên cứu”.Nhà nước và tư nhân cùng nhau bảo tồn di sảnKhi thông báo hủy bán đấu giá trên trang web, hãng Millon cho biết là đã đạt được thỏa thuận với chính phủ Việt Nam. Còn báo chí trong nước đưa tin ông Nguyễn Thế Hồng, nhà sưu tập tư nhân ở Bắc Ninh, đã ký với nhà đấu giá Millon hôm 13/01/2023 tại Pháp hợp đồng mua ấn vàng với giá 6,1 triệu euro, cao hơn gấp 2-3 lần giá thẩm định ban đầu là 2-3 triệu euro. Nhà tỉ phú chi kinh phí để đàm phán và hồi hương ấn vàng, dưới sự bảo trợ của Chính phủ và các bộ, ngành Việt Nam.Sự kết hợp giữa Nhà nước và tư nhân để hồi hương cổ vật được nhà sử học Dương Trung Quốc đánh giá có ý nghĩa quan trọng, là một dấu hiệu tích cực cho việc bảo tồn di sản, lịch sử Việt Nam :“Câu chuyện liên quan đến việc đưa ấn “Hoàng đế chi bảo” về, lần đầu tiên có được sự phối hợp giữa Nhà nước, trực tiếp là cơ quan quản lý văn hóa của Nhà nước, với các cơ quan có trách nhiệm chuyên môn, các chuyên gia cùng với sự đồng thuận, ủng hộ của xã hội, ví dụ dòng tộc Nguyễn ở Huế, hay là những cơ quan, hội đoàn liên quan đến vấn đề bảo tồn di sản. Và cuối cùng là có nhà đầu tư sẵn sàng đứng ra làm việc này với tư cách cá nhân.Tôi cho đó là một dấu hiệu tích cực, một dấu hiệu tốt, bởi vì rất nhiều lần, chúng ta đã không đạt được việc tham gia các cuộc đấu thầu, chỉ vì những vấn đề liên quan đến pháp lý, chính sách, liên quan đến việc kết hợp với nhau, bởi vì việc này liên quan đến thời gian và tiền bạc. Còn trong chừng mực nào đó, tôi cho rằng sự hợp tác của Nhà nước với những cá nhân đã được mở ra từ Luật Di sản. Trong luật này, lần đầu tiên chúng ta tôn trọng những quyền sở hữu cá nhân đối với cổ vật, tất nhiên sẽ trừ ràng buộc về một số chế tài nhất định, nhưng về căn bản là ủng hộ. Ngay cả việc xây dựng những bộ sưu tập hoặc mở bảo tàng đều đã được quy định trong pháp luật. Và xu thế xã hội hóa, tức là dùng nguồn lực trong dân, để thực hiện việc này, cũng đã có. Cho nên tôi cho đó là cơ sơ pháp lý thuận lợi cho việc triển khai. Gần đây chẳng hạn, một số món được xếp vào đẳng cấp cao nhất trong hệ thống bảo vật quốc gia nằm trong bộ sưu tập tư nhân”.Một khó khăn cần khắc phục là phải nắm được số lượng báu vật nằm ở nước ngoài để có thể thương lượng, đàm phán, mua lại trước khi bị mang đấu giá vì thường sẽ có chi phí cao hơn và khả năng rơi vào tay các nhà sưu tập nước ngoài. Đây là điểm nhà sử học Dương Trung Quốc lấy làm tiếc :“Thực tế là người Việt Nam không kiểm soát được, cho nên bỏ lỡ khá nhiều cơ hội, ví dụ gần đây là chuyện bán đấu giá tranh của vua Hàm Nghi, hoặc ở Trung Quốc có bán đấu giá tranh về đức Trần Nhân Tông từ thời kỳ nhà Hồ. Phải nói đó là sự thực mà giới quản lý văn hóa Việt Nam, các nhà văn hóa và kể cả cá nhân tôi, người quan tâm đến di sản văn hóa quốc gia, cũng đều hết sức băn khoăn”. Thành công trong việc hồi hương ấn vàng triều Minh Mạng có thể là kinh nghiệm hữu ích sau này vào lúc Việt Nam muốn khẳng định “bảo tồn, gìn giữ và phát huy giá trị di sản văn hóa, đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa ngày càng cao của nhân dân, nâng cao tự tôn dân tộc của thế hệ trẻ trên trường quốc tế”, theo ghi nhận của trang Thông tin Chính phủ Việt Nam.
11/13/202310 minutes, 43 seconds
Episode Artwork

Việt Nam cố giữ cân bằng trong quan hệ với Mỹ và Trung Quốc

Hãng tin Anh Reuters ngày 06/10/2023 loan tin là các quan chức Việt Nam và Trung Quốc đang chuẩn bị cho chuyến thăm của chủ tịch Tập Cận Bình tới Hà Nội có thể vào cuối tháng 10 hoặc đầu tháng 11.  Cho tới nay, đã đầu tháng 11, cả Hà Nội và Bắc Kinh đều không có thông báo gì về chuyến đi này. Nhưng nếu có diễn ra thì đây sẽ là chuyến thăm cấp nhà nước đầu tiên của ông Tập Cận Bình đến Việt Nam kể từ năm 2017. Chuyến đi này cũng sẽ diễn ra đúng vào dịp kỷ niệm 15 năm quan hệ đối tác chiến lược toàn diện Trung Quốc-Việt Nam.Việc chủ tịch Trung Quốc chấp nhận đi thăm Việt Nam phải chăng cho thấy Bắc Kinh đã không có phản ứng gay gắt về việc Việt Nam nâng cấp quan hệ với Mỹ lên thành đối tác chiến lược toàn diện nhân chuyến thăm Hà Nội vào tháng 9 của tổng thống Mỹ Joe Biden?Trả lời phỏng vấn RFI Việt ngữ ngày 25/10/2023, nhà nghiên cứu Vũ Xuân Khang, Đại học Boston, Hoa Kỳ, nhận định:  “Đúng vậy. Nguyên nhân chính Bắc Kinh không có phản ứng gay gắt về việc Việt Nam nâng cấp quan hệ với Mỹ lên đối tác chiến lược toàn diện là do các nỗ lực ngoại giao của Việt Nam để điều hòa quan hệ với Trung Quốc, ít nhất là từ tháng 6 cho đến nay. Thủ tướng Phạm Minh Chính đã đến thăm Trung Quốc vào cuối tháng 6 khi tàu sân bay Ronald Reagan ghé thăm Đà Nẵng. Ông Chính cũng có chuyến thăm Trung Quốc lần hai vào tháng 9 tại Nam Ninh chỉ vài ngày sau khi tổng thống Joe Biden thăm Hà Nội. Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng mới đây cũng đã đến Bắc Kinh và hội kiến chủ tịch Tập Cận Bình. Cả ba chuyến viếng thăm trên đều thể hiện một thông điệp chính của Việt Nam là Hà Nội mong muốn hai nước tiếp tục duy trì quan hệ ngoại giao nồng ấm và Việt Nam không có ý định ngả theo Mỹ để chống Trung Quốc. Nếu chủ tịch Tập Cận Bình đến thăm Việt Nam, đây sẽ là một chỉ dấu rất lớn là các nỗ lực trấn an Trung Quốc của Việt Nam đã thành công. Đây cũng sẽ là chuyến đi đáp lễ 3 chuyến đi của lãnh đạo Việt Nam, đặc biệt là chuyến đi của tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng vào tháng 10, tháng 11/2022.” Nhà phân tích Sebastian Strangio của trang mạng The Diplomat ( Nhật Bản ) cũng có cùng nhận định: “Thật khó để tưởng tượng rằng Việt Nam đã không báo trước cho Bắc Kinh về việc nâng cấp quan hệ với Mỹ và trấn an họ rằng hành động này không nhắm vào Trung Quốc. Tổng thống Biden cũng đã nhấn mạnh chuyến thăm Việt Nam của ông là nhằm mục đích xây dựng các mối quan hệ của Hoa Kỳ trên khắp châu Á, chứ không phải để kiềm chế Trung Quốc. Nhưng sau khi Việt Nam nâng cấp quan hệ với Hoa Kỳ lên thành “đối tác chiến lược toàn diện”, đặt Hoa Kỳ ngang hàng với Trung Quốc và Nga, Trung Quốc có thể cảm thấy cần phải đòi Việt Nam chấp nhận một bản “nâng cấp” mới trong quan hệ song phương.”Theo hãng tin Reuters, trước chuyến viếng thăm của ông Tập Cận Bình, Hà Nội và Bắc Kinh đang thảo luận về việc có thể đưa cụm từ “cộng đồng chung vận mệnh” vào tuyên bố chung để mô tả mối quan hệ song phương.Cụm từ “cộng đồng chung vận mệnh” đã trở nên “thịnh hành” sau khi ông Tập lên nắm quyền vào năm 2012, thể hiện mức độ quan hệ song phương cao nhất đối với chính quyền Tập Cận Bình. Trung Quốc đã thiết lập “cộng đồng chung vận mệnh” với Lào vào năm 2017 và Cam Bốt vào năm 2018, sau đó là với Miến Điện trong chuyến thăm cấp nhà nước của ông Tập Cận Bình đến nước này vào tháng 1/2020. Mặc dù Bắc Kinh rõ ràng muốn Việt Nam gia nhập nhóm các quốc gia “có chung vận mệnh” với Trung Quốc, hai nguồn tin nói với Reuters rằng các quan chức Việt Nam thận trọng về việc thêm cụm từ đó vào tuyên bố chung. Trung Quốc được cho là đã từng tỏ ý muốn tuyên bố một cộng đồng chung vận mệnh với Việt Nam trong chuyến thăm cấp nhà nước của ông Tập Cận Bình vào năm 2017, nhưng Hà Nội lúc đó đã bác bỏ.Trả lời phỏng vấn RFI Việt ngữ, nhà nghiên cứu Vũ Xuân Khang cho rằng dù không muốn “cộng đồng chung vận mệnh” với Trung Quốc, thật ra Việt Nam cũng khó mà thoát khỏi vòng ảnh hưởng của Bắc Kinh: “Theo chính sách ngoại giao của Trung Quốc, cụm từ "cộng đồng chung vận mệnh" là dành cho những nước mà Trung Quốc coi là những đối tác quan trọng. Việc Việt Nam có đưa cụm từ "cộng đồng chung vận mệnh" vào tuyên bố chung hay không thật ra cũng không quá quan trọng. Về bản chất, Việt Nam cũng không có nhiều lựa chọn trong quan hệ với Trung Quốc, khi Trung Quốc đã cho Việt Nam thấy rằng các nỗ lực thoát Trung trong quá khứ của Việt Nam đã thất bại, nhất là sau khi Việt Nam phải đồng ý bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc trên thế yếu vào năm 1991, sau khi đồng minh Liên Xô đã không còn khả năng giúp Việt Nam thoát Trung như giai đoạn từ 1978 đến 1988.Trung Quốc muốn một Việt Nam trung lập nằm trong ảnh hưởng của Trung Quốc. Do vậy, nếu Việt Nam có thể đảm bảo với Trung Quốc rằng Việt Nam không có ý định chống Trung Quốc, Trung Quốc cũng không cần phải ép Việt Nam. Nếu Việt Nam chấp nhận đưa cụm từ “cộng đồng chung vận mệnh” vào tuyên bố chung thì có thể hiểu Hà Nội muốn thể hiện với Trung Quốc rằng quan hệ hai nước vẫn đang phát triển tốt đẹp và là kết quả của các chuyến thăm cấp cao giữa hai nước từ tháng 6 đến nay, và cũng nhằm để cân bằng bước “nhảy cóc” từ đối tác toàn diện lên đối tác chiến lược toàn diện với Mỹ vào tháng 9 vừa qua.”Tuy nhiên, Trung Quốc vẫn muốn cho Việt Nam thấy tính chất đặc biệt trong quan hệ giữa hai nước. Theo Tân Hoa Xã, trong cuộc gặp với chủ tịch nước Võ Văn Thưởng ở Bắc Kinh ngày 20/10 nhân diễn đàn “Vành đai và Con đường”, ông Tập Cận Bình kêu gọi Việt Nam “đừng quên cội nguồn của tình hữu nghị” giữa hai quốc gia Cộng sản này. Về phần mình, trong cuộc hội kiến với Thái Kỳ, Chánh Văn phòng Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, ông Võ Văn Thưởng cũng nhìn nhận Việt Nam và Trung Quốc là hai nước “tương đồng về thể chế chính trị, con đường phát triển và mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội”.  Ông khẳng định: “ Việt Nam coi trọng việc củng cố và phát triển quan hệ Đối tác hợp tác chiến lược toàn diện với Trung Quốc, coi đây là lựa chọn chiến lược và ưu tiên hàng đầu trong đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa của Việt Nam”.Trong bài viết đăng trên trang web của Viện nghiên cứu Đông Nam Á Yusof Ishak ( ISEAS – Yusof Ishak Institute ), một nhà nghiên cứu của Viện này, Lye Liang Fook, nhấn mạnh đến quan hệ giữa hai đảng Cộng sản Trung Quốc và Việt Nam: “Việt Nam dường như đang xích lại gần hơn với Hoa Kỳ với việc nâng cấp quan hệ gần đây lên thành quan hệ đối tác chiến lược toàn diện. Tuy nhiên, không nên đánh giá quá cao diễn biến này, vì quan hệ Việt Nam - Trung Quốc, đặc biệt là quan hệ giữa hai đảng, vẫn bền chặt. ( … ).  Trung Quốc và Việt Nam đều có lợi ích trong việc đảm bảo cho các đảng cộng sản cầm quyền của họ duy trì sự thống trị.”Lye Liang Fook nhắc lại: “Vào thời điểm quan hệ song phương xuống thấp, Hà Nội và Bắc Kinh đã dựa vào mối quan hệ giữa hai đảng để kiểm soát những bất đồng và đưa quan hệ trở lại đúng hướng. Sau những đụng độ căng thẳng trong sự cố giàn khoan Hải Dương 981 năm 2014, tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã cử đặc phái viên Lê Hồng Anh, Ủy viên Bộ Chính trị, tới Bắc Kinh vào tháng 8/2014 để hàn gắn quan hệ. Đổi lại, Tập Cận Bình đã cử ông Du Chánh Thanh (Yu Zhengsheng) đến thăm Việt Nam vào tháng 12/2014. Việc Du Chánh Thanh là nhân vật đứng hàng thứ tư trong Đảng cộng sản Trung Quốc cho thấy quan hệ Việt-Trung đã bắt đầu được cải thiện trở lại.” Lye Liang Fook cũng ghi nhận: “Các cuộc trao đổi cấp cao thường xuyên giữa Đảng cộng sản Trung Quốc và Đảng cộng sản Việt Nam có mức độ tương tác cao hơn so với các trao đổi cấp chính phủ giữa hai nước. Kể từ khi Tập Cận Bình trở thành tổng bí thư Đảng cộng sản Trung Quốc vào năm 2012, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã có ba chuyến thăm Trung Quốc ( 04/2015, 01/2017 và 10/2022 )”. Chuyến thăm tháng 10/2022 nổi bật vì chuyến thăm này nhằm thực hiện lời hứa của Nguyễn Phú Trọng với Tập Cận Bình là sẽ thực hiện chuyến công du ngoại quốc đầu tiên tới Trung Quốc sau khi tái đắc cử tổng bí thư vào tháng 1/2021. Về phần mình, sau khi tái đắc cử tổng bí thư, ông Tập Cận Bình cũng đã chọn Việt Nam là điểm đến đầu tiên qua chuyến thăm vào tháng 11/2017.  Phải chăng mối quan hệ giữa hai đảng Cộng sản Việt Nam và Trung Quốc vẫn rất bền chặt và như vậy Việt Nam sẽ phải tiếp tục xem Trung Quốc là đối tác hàng đầu hơn bất cứ quốc gia nào khác, cho dù giữa hai  nước vẫn thường có căng thẳng do tranh chấp chủ quyền Biển Đông? Nhà nghiên cứu Vũ Xuân Khang đưa ra một ý kiến khác: “Quan hệ giữa hai Đảng không nói hết được tại sao Việt Nam phải xem Trung Quốc là đối tác hàng đầu. Về bản chất, dù có theo thể chế chính trị nào đi chăng nữa, Việt Nam vẫn là một nước nhỏ so với Trung Quốc, và đã là nước nhỏ thì phải chịu sự ảnh hưởng của nước lớn dù muốn hay không. Các hoàng đế phong kiến Việt Nam hơn 1000 năm từ sau khi đất nước giành được độc lập dưới thời Ngô Quyền đều hiểu rõ bài học này, nên cho dù Việt Nam có đánh thắng Trung Quốc trên chiến trường, thì Việt Nam vẫn phải cử sứ giả để cầu hòa và chấp nhận tiếp tục làm chư hầu của Trung Quốc. Đảng Cộng Sản Việt Nam đã quyết tâm thoát Trung vào giai đoạn 1978-1991, nhưng cũng như các triều đại phong kiến Việt Nam, dù thắng trên chiến trường nhưng cũng phải chấp nhận cầu hòa với Trung Quốc, vì Việt Nam không đủ sức mạnh để đối đầu với Trung Quốc lâu dài. Do vậy, Việt Nam nên khôn khéo bảo vệ chủ quyền bằng các biện pháp ngoại giao, do Việt Nam không thể chiến thắng trong một cuộc đua vũ trang với Trung Quốc. Trung Quốc chỉ ủng hộ chính sách đối ngoại đa phương của Việt Nam khi Việt Nam khẳng định với Trung Quốc là chính sách đa phương đó không làm tổn hại tới lợi ích cốt lõi của Trung Quốc. Bất kể cùng chung ý thức hệ, Trung Quốc giai đoạn 1978-1991 đã cho Việt Nam thấy rằng chỉ cần Bắc Kinh muốn cô lập Hà Nội, thì Hà Nội cũng không có cách nào thoát được, kể cả khi Liên Xô đã nỗ lực giúp Việt Nam thoát Trung.Nhà phân tích Jeff Zeberlein, nguyên là một sĩ quan hải quân Mỹ, trên trang web của Jamestown Foundation ngày 20/10 đã viết: “Các nhà hoạch định chính sách ở Hoa Kỳ hoan nghênh những phát triển ngoại giao ( trong quan hệ Mỹ-Việt ), nhưng các chuyên gia khu vực cảnh báo rằng bối cảnh địa lý của Việt Nam ngăn cản việc tăng cường hơn nữa quan hệ với phương Tây: Trung Quốc và Việt Nam có chung đường biên giới trên bộ và trên biển, đó là một phần lý do tại sao nền kinh tế Việt Nam phụ thuộc nhiều vào xuất khẩu của Trung Quốc. Vì lợi ích chiến lược của mình, Việt Nam không thể đoạn tuyệt hoàn toàn với Trung Quốc. Trong khi đó, Hoa Kỳ được coi là một đối tác không đáng tin cậy, không chỉ vì lý do lịch sử, mà còn do hệ thống chính trị khác nhau giữa hai nước: Dưới con mắt của giới lãnh đạo cộng sản Việt Nam, các tiến trình chính trị dân chủ của Hoa Kỳ dẫn đến việc ra những quyết định thất thường, ngắn hạn. Nhưng sự cải thiện rõ rệt trong quan hệ Mỹ-Việt là tích cực cho cả hai nước, ngay cả khi Việt Nam khó có thể từ bỏ cách tiếp cận hòa giải đối với Bắc Kinh. Chính sách Bốn Không sẽ được triển khai với cả các đối tác phương Tây và Trung Quốc để mang lại cho Việt Nam nhiều quyền tự chủ hơn. Các quan chức quốc phòng Hoa Kỳ có thể thấy thất vọng vì tiến trình hội nhập quân sự chặt chẽ hơn bị đình trệ khi Việt Nam điều chỉnh quan hệ với phương Tây để xoa dịu Trung Quốc. Tuy nhiên, việc Việt Nam chuyển sang một chính sách Bốn Không ít hạn chế hơn là bằng chứng cho thấy cam kết mạnh mẽ hơn của Việt Nam trong việc đối đầu với hành động mang tính cưỡng ép của Trung Quốc ở Biển Đông, mặc dù điều đó cũng có thể báo trước nhiều cuộc đụng độ hơn để bảo vệ các yêu sách biển của Việt Nam.”
11/6/20239 minutes, 35 seconds
Episode Artwork

Những huynh đệ Việt Nam bị lãng quên của Hội Tam Điểm ở Đông Dương

Quan hệ giữa Hội Tam Điểm ( Franc-maçonnerie) với Việt Nam là một đề tài cho tới nay ít được nhắc đến trong các sách về lịch sử đương đại của Việt Nam. Một trong số hiếm hoi các nhà nghiên cứu quan tâm đến đề tài này là tiến sĩ Trần Thu Dung, hiện sống tại Pháp. Tháng 6 vừa qua, cuốn sách bằng tiếng Pháp của bà "Les Frères Francs-Maçons vietnamiens oubliés en Indochine" ( Các huynh đệ Việt Nam bị lãng quên của Hội Tam Điểm ở Đông Dương ) vừa được nhà xuất bản L'Harmattan phát hành. Đây là một tài liệu quý hiếm và rất thú vị đối với những độc giả Pháp muốn tìm hiểu về sự hình thành và phát triển của Hội Tam Điểm ở Việt Nam vào thời kỳ Đông Dương còn thuộc Pháp.Hội Tam Điểm nói chung là tập hợp các hội mà việc tuyển chọn là theo nguên tắc hội viên chọn giới thiệu các hội viên mới ( cooptaion ) và các nghi lễ gia nhập có liên hệ tới những ẩn dụ về nghề thợ nề. Tên gọi theo tiếng Việt Hội Tam Điểm được giải thích là do các hội viên người Pháp khi viết thư cho nhau thường gọi nhau là Sư huynh/Sư đệ (frère), hay Sư phụ (maître), viết tắt F hay M và thêm vào phía sau 3 chấm như 3 đỉnh hình tam giác vuông cân.Hội Tam Điểm truyền bá một lối giáo dục dựa trên những biểu tượng và nghi lễ, khuyến khích hội viên hành động vì sự tiến bộ nhân loại, nhưng để cho mỗi người lựa chọn cách để thực hiện điều đó.Cho tới nay, các học giả vừa chưa xác định được chính xác thời điểm ra đời của Hội Tam Điểm, mà chỉ tạm xem Hội đã xuất hiện vào cuối thế kỷ 16 ở Scotland, sau đó là ở Anh Quốc rồi dần dần lan ra các quốc gia khác, trong đó có Pháp, từ đó được du nhập vào Việt Nam. Vậy những tư tưởng của Hội Tam Điểm đã được truyền bá ở Việt Nam như thế nào và những nhân vật nào đã là những hội viên nổi bật của Hội vào thời đó? Hôm nay, chúng tôi xin mời quý vị theo dõi bài phỏng vấn với, tác giả của cuốn sách “Các huynh đệ Việt Nam bị lãng quên của Hội Tam Điểm ở Đông Dương”.  RFI: Thưa tiến sĩ Trần Thu Dung, cuốn sách của chị có tựa "Les Frères Francs-Maçons vietnamiens oubliés en Indochine" ( Các huynh đệ Việt Nam bị lãng quên của Hội Tam Điểm ở Đông Dương ) là để nói về những nhân vật lịch sử đã từng là hội viên Tam Điểm, nhưng cho tới nay ít ai biết đến điều đó. Nhưng trước tiên xin chị cho biết là Hội Tam Điểm đã được du nhập vào Việt Nam như thế nào trong bối cảnh Đông Dương lúc ấy còn thuộc Pháp?Trần Thu Dung: Lúc đó, những người Pháp đầu tiên sang Đông Dương làm thuộc địa, như Bộ trưởng Bộ Thuộc địa, là thành viên của Hội tam Điểm, thành ra đại đa số trong ê kíp của ông cũng là hội viên Tam Điểm. Họ muốn khoa trương thời kỳ “hoàng kim” lúc ấy của Hội Tam Điểm, vì thế chúng ta thấy nóc Nhà Đông Dương là hình kim tự tháp, mà kim tự tháp là biểu tượng của Hội Tam Điểm. Khi đến Việt Nam, họ cũng có nhu cầu sinh hoạt bắt buộc. Họ tụ tập lại, nhưng ban đầu là ở Cochinchine, tức là Nam Kỳ, nơi thành lập đầu tiên các Hội Tam Điểm. Ngay cả cha của nhà văn Marguerite Duras cũng là hội viên của những Hội Tam Điểm đầu tiên. Tên của những hội này thay đổi liên tục cho phù hợp với từng giai đoạn lịch sử, ví dụ như họ đổi thành hội Tonkinoise, hay trước kia có tên là Những anh em huynh đệ Bác Ái, nhưng sau này cũng đổi tên thành chẳng hạn như Ánh Sáng Bắc Kỳ. Lúc đó bắt đầu họ chiến thắng, đi đến tận Bắc Kỳ. Đến khoảng 1886, hội ngày càng  phát triển mạnh và sau đó họ ra công khai, nhưng những hội đầu tiên đó là dành cho người Pháp, chứ người thuộc địa chưa được vào. RFI: Vậy thì kể từ thời gian nào người bản xứ ở Đông Dương mới bắt đầu được thâu nhận vào các Hội Tam Điểm?Trần Thu Dung: Hầu hết các lãnh đạo của Hội Tam Điểm thời đó đã đề nghị “Pháp Việt đề huề”. Khi ra chính sách “Pháp Việt đề huề”, thì bắt buộc phải đưa những người bản xứ vào hội.Nhưng vào năm 1917 hay 1919 ( tôi không nhớ chính xác, phải xem lại lịch sử ), Pháp bắt đầu xóa kỳ thi của Việt Nam theo hệ thống Khổng Tử, tức là hệ thống theo ảnh hưởng của Trung Quốc, áp đặt kỳ thi tuyển theo Pháp. Thành ra chúng ta mới có câu thơ: “ Trên ghế bà đầm ngoi đít vịt, Dưới sân, ông cử ngỏng đầu rồng”. Pháp bắt đầu áp đặt rằng tất cả những người lãnh đạo đều phải biết tiếng Pháp và do Pháp đào tạo.Bắt đầu từ đó, khoảng đầu thế kỷ 20, mới xuất hiện người Việt Nam trong Hội Tam Điểm. Nhưng các hội viên đầu tiên là được kết nạp bên Pháp. Đó là những sinh viên đi du học nhưng rất yêu nước, muốn tìm một con đường để đi cứu nước. Họ vào những hội mà họ nghĩ là theo đúng phương châm Tự do Bình đẳng Bác ái, đảng nào vào cũng được, vì hội là phi chính trị, phi đảng phái, phi tôn giáo. Họ nghĩ đó là cái hay nhất, bởi vì như thế là anh có theo đảng nào, theo tôn giáo nào thì tôi cũng không cấm, miễn là tôi bình đẳng với anh, bình đẳng trong suy nghĩ, tôn trọng kiến thức của nhau.Rất nhiều trí thức Việt Nam lúc ấy đã đi theo con đường này, đầu tiên là ở bên Pháp, rồi họ trở về Việt Nam. Trở về Việt Nam thì phải có nhu cầu họp hàng tháng, nên họ kiến nghị lên trên để đòi hỏi: Chúng tôi về Việt Nam thì sẽ được hoạt động ở đâu? Ban đầu những người Pháp thuộc địa không muốn nhận, nhưng rồi cũng phải chấp nhận những huynh đệ người Việt từ Pháp trở về. Cho nên bắt đầu xuất hiện những người Việt Nam trong các Hội Tam Điểm.  Sau này thì kết nạp rất nhiều, chẳng hạn như Phạm Quỳnh và Nguyễn Văn Vĩnh. Lúc ấy có Hội chợ Thuộc địa ở Pháp, các cụ mới sang và được giới thiệu gặp những hội viên Tam Điểm bên đây. Bao giờ khi kết nạp thì cũng phải có 2 hay 3 người giới thiệu. Nhưng khi còn ở Việt Nam thì rất khó. Tôi có đọc được thư của những hội viên Tam Điểm người Pháp không muốn kết nạp người Việt, cho nên những hội viên Tam Điểm tiến bộ hơn đã đưa những người Việt này sang Pháp để gặp lại những người Tam Điểm này, bắt buộc họ giới thiệu và kết nạp những hội viện mới là người Việt. Những người như Phạm Quỳnh và Nguyễn Văn Vĩnh là những người nổi tiếng, có rất nhiều bạn bè, thì họ mới đưa những người bạn đến để được kết nạp ở Việt Nam.RFI: Như vậy là nhờ nguyên tắc hoạt động là kết nạp qua giới thiệu, thành ra mới mở rộng được số thành viên người Việt trong các Hội Tam Điểm?Trần Thu Dung: Đúng vậy, tức là phải có 2 hoặc 3 người, và có một người gọi là điều tra viên đến xem tư tưởng của anh là như thế nào, nhưng anh phải đề cao tính nhân đạo, phải tôn trọng ý kiến của người khác và đấu tranh trực diện bằng tư tưởng của anh. Người Việt vào được là vì họ cũng bắt đầu đấu tranh, đấu tranh từng bước một, chứ không phải tự nhiên là được vào. Chẳng hạn như khi bầu bán lãnh đạo hội hai năm một lần, người Việt hầu như không được bầu, vì họ vẫn bị xem như là subalterne ( cấp thấp ), giống như là bù nhìn. Nhưng khi người Việt vào đông, bắt đầu có người Việt ứng cử trong các cuộc  bầu cử hai năm một lần một người phụ trách thay phiên nhau, ai cũng có thể làm người phụ trách, theo hình tam giác: làm thầy rồi làm thợ, làm thợ rồi làm thầy, bởi vì thầy cũng phải vươn lên, học những người giỏi hơn. Chính là lúc đó mà ông Phạm Huy Lục được bầu, nhưng tôi đã đọc được những lá thư chống đối vì không muốn người Pháp đứng dưới một người Việt trong một hội như thế, nhưng cuối cùng họ cũng phải chấp nhận. Phạm Huy Lục cũng đã từng là dân biểu Pháp tại Việt Nam. RFI: Vấn đề Hội Tam Điểm ở Việt Nam cho tới nay vẫn còn là một đề tài tế nhị, ít ai nhắc đến. Nhờ cuốn sách của chị mà chúng ta biết được là một số nhân vật chính trị nổi tiếng của Việt Nam như Nguyễn Ái Quốc, tức là Hồ Chí Minh, hay cựu thủ tướng Trần Trọng Kim, bác sĩ Phạm Ngọc Thạch, luật sư Trịnh Đình Thảo, hay nhà báo Nguyễn Văn Vĩnh, nhà trí thức Phạm Quỳnh  đã từng là hội viên Tam Điểm. Họ đã tiếp thu các tư tưởng của Hội Tam Điểm như thế nào và áp dụng những tư tưởng đó như thế nào trong cuộc đấu tranh ở Việt Nam?Trần Thu Dung:  Lúc ấy đã bắt đầu có sự mâu thuẫn với nhau, bởi vì có những người cho rằng đi theo Hội Tam Điểm là con đường đấu tranh không đổ máu nhất cho dân, vì kinh tế, chính trị, vũ khí mình đều thua Pháp. Họ nghĩ là không thể làm một cuộc cách mạng lớn, nên phải đi theo con đường ôn hòa, tức là ủng hộ “Pháp Việt đề huề”.Trước năm 1945, không có người Việt nào làm thị trưởng  thành phố Hà Nội, chỉ sau 45, mới bắt đầu xuất hiện, mà ban đầu bao gồm đến 2 phần 3 là người Tam Điểm, thay phiên nhau nắm quyền, như ông Trần Văn Lai, rồi Thẩm Hoàng Tín, những thị trưởng do Pháp chỉ định.  Lúc đó, Pháp đã rút, nhưng vẫn cứ muốn nắm quyền ở Đông Dương, cho nên lúc đấy mới sử dụng người Việt để trị người Việt, để tiếp tục “Pháp Việt đề huề”, nhưng không thành bởi vì có một số mâu thuẫn, chẳng hạn như Hồ Chí Minh thì theo Nga, tức là theo một hướng khác.  Nhưng lúc ấy, những đảng ở Việt Nam nằm trong liên minh Việt Nam Độc lập Đồng minh, tức Việt Minh, thì các trưởng đảng như tổng thư ký hay phó thường cũng là hội viên Tam Điểm. Hồ Chí Minh cũng là thành viên Tam Điểm, nhưng dù đều là huynh đệ, nhưng họ chọn những con đường khác nhau để đi đến giành độc lập, chứ tất cả không thống nhất với nhau. Cho nên đã có những cái hiểu nhầm nhau.Người ta nói là đã có sự thanh trừng lẫn nhau ( giữa các huynh đệ Tam Điểm ), tôi không nắm được chuyện đó, nhưng chắc là cũng có. Nhưng có một chuyện này là chuyện rất thật: con của cụ Phạm Huy Lục, người được bầu là “đại sư” của Hội Tam Điểm có đông người Việt, kể lại khi có bạo loạn, lúc ấy ông mới 18 tuổi: “ Tôi biết là bố tôi cám ơn ông Hoàng Minh Giám ( bộ trưởng Ngoại Giao của Hồ Chí Minh ) đã báo cho bố tôi phải đi ngay đi vì có thể sẽ bị hiểu nhầm và bị ám sát, cho nên cụ đã bỏ đi vào Nam, rồi sang Pháp”Đã có những cái mâu thuẫn trong anh em: theo Pháp, “Pháp Việt đề huề”, hay giành độc lập một cách tuyệt đối bằng một cuộc cách mạng.RFI: Như vậy là bối cảnh chính trị lúc ấy làm cho Hội Tam Điểm Việt Nam bị phân hóa. Thành ra có những người phục vụ cho chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, những người khác thì phục vụ cho các chính phủ ở miền nam, mà đầu tiên là chính phủ lâm thời do Pháp dựng nên?Trần Thu Dung: Đúng như thế. Tôi nghĩ rằng đã có những mâu thuẫn rất lớn, đã có những chia rẽ. Đi đến hòa hợp hay không là tùy suy nghĩ chính trị của từng người. Vì thế tôi mới viết cuốn sách này để cho thấy là trong cuộc đấu tranh đó, có rất nhiều hướng đi khác nhau.RFI: Vì sao cho tới nay, Hội Tam Điểm ở Việt Nam vẫn còn là một chủ đề tế nhị? Thậm chí xuất bản một cuốn sách về đề tài này ở Việt Nam cũng không phải là đơn giản?Trần Thu Dung: Vì ngày xưa, họ cứ gọi là “theo gót Tây”, “xỏ nhầm giày, để nói về những người ủng hộ Pháp, họ muốn xóa nhòa tất cả những gì dính đến Pháp. Chẳng hạn như vào năm 1945, ông Trần Văn Lai là người của Hội Tam Điểm, nhưng chính ông là người đầu tiên đứng ra giựt các tượng mà Hội Tam Điểm tặng, tức là tượng Nữ thần Tự do, đổi hết tên các con đường của Pháp thành tên những anh hùng. Họ muốn xóa hết những dấu vết và hầu như thanh trừng những người còn ủng hộ Pháp, hay dính đến Pháp.Trong quyển sách này tôi đưa ra các bằng chứng về một khía cạnh lịch sử, về cuộc đấu tranh mà không ai biết đến, các cụ đều tham gia, nhưng đấy là một con đường mà họ đi tìm để giành độc lập dân tộc. Bây giờ lớp trẻ đọc được họ mới hiểu đấy là một con đường, chứ không phải cái gì dính đến Pháp là xấu.
11/3/202312 minutes, 6 seconds
Episode Artwork

Thăm Việt Nam, tổng thống Putin không lo bị bắt theo lệnh truy nã của CPI - Tòa Hình sự Quốc tế ?

Tổng thống Vladimir Putin “vui vẻ nhận lời mời” thăm Việt Nam của chủ tịch Võ Văn Thưởng trong cuộc gặp ngày 17/10/2023 bên lề Diễn đàn Vành Đai và Con Đường ở Bắc Kinh, Trung Quốc. Ông Thưởng “khẳng định Việt Nam luôn ghi nhớ sự ủng hộ và giúp đỡ” của nhân dân Nga trong công cuộc xây dựng đất nước trước đây và ngày nay. Việt Nam có đường lối “đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa” và “luôn coi Liên bang Nga là một trong những đối tác quan trọng hàng đầu”. Lời mời được đưa ra không lâu sau chuyến công du Việt Nam của tổng thống Mỹ Joe Biden, trong khi ông Putin cũng đang phải đối mặt với lệnh truy nã quốc tế do Tòa Án Hình Sự Quốc Tế ban hành. Một chuyến công du như vậy có thể diễn ra trong bối cảnh như thế nào ? Việt Nam có gặp trở ngại gì nếu tiếp đón tổng thống Putin ?RFI Tiếng Việt đặt câu hỏi với nhà nghiên cứu Laurent Gédéon, giảng viên Trường Sư phạm Lyon, Pháp (École Normale supérieure de Lyon).RFI : Tổng thống Nga Vladimir Putin đã nhận lời mời sớm thăm Việt Nam. Căn cứ vào bối cảnh chính trị thế giới hiện nay, liệu chuyến thăm có thể “sớm” diễn ra không ? Laurent Gédéon : Để trả lời cho câu hỏi này cần nhắc lại tầm quan trọng của mối quan hệ Nga-Việt. Người ta nhớ rằng sự kiện ông Vladimir Putin lên nắm quyền đã đánh dấu một bước khởi đầu mới trong quan hệ giữa hai nước. Chuyến công du đầu tiên đầy ấn tượng của tổng thống Nga diễn ra ngay tháng 03/2001. Hai bên đã ký Tuyên bố chung về quan hệ Đối tác chiến lược. Đây cũng là thỏa thuận đầu tiên theo hình thức này của Việt Nam, tập trung tăng cường hợp tác song phương trong các lĩnh vực năng lượng, hạt nhân, công nghệ, quân sự, văn hóa và học thuật.Kể từ năm 2008, hai bên đã thiết lập cơ chế Đối thoại quốc phòng thường niên. Năm 2012, Đối tác chiến lược được nâng cấp thành Đối tác chiến lược toàn diện. Năm 2013, một bản ghi nhớ về hợp tác hải quân được thông qua. Đến năm 2015, dưới sự bảo trợ của Nga, Việt Nam ký một thỏa thuận tự do thương mại với Liên minh Kinh tế Á-Âu. Thỏa thuận hợp tác trong lĩnh vực công nghiệp quốc phòng được hai nước ký năm 2016.Mối quan hệ song phương vẫn không ngừng tăng cường sau cuộc khủng hoảng tại Ukraina. Năm 2022, ngoại trưởng Nga Sergueï Lavrov đã công du Việt Nam hai ngày. Một năm sau đến lượt chủ tịch Tòa Án Tối Cao Liên bang Nga Vyatcheslav Lebedev. Ông Dmitry Medvedev, chủ tịch đảng Nước Nga thống nhất, phó chủ tịch Hội đồng An ninh Liên bang Nga, cũng thăm Việt Nam vào tháng 05/2023. Đọc thêm : "Việt Nam muốn khẳng định chính sách đối ngoại độc lập và tự chủ" khi tiếp ngoại trưởng NgaMối quan hệ song phương có thể được tóm lược như sau. Về mặt kinh tế, Việt Nam là đối tác thương mại lớn nhất của Nga trong khối ASEAN. Matxcơva cung cấp gần như toàn bộ dầu khí mà Việt Nam sử dụng. Về mặt quân sự, Matxcơva là đối tác chính của Hà Nội. Nga giúp Việt Nam phát triển năng lực phòng chống tên lửa trên bộ và trên biển. Nga tham gia tích cực vào quá trình hiện đại hóa đội tầu chiến Việt Nam và tăng khả năng tấn công của quân đội Việt Nam.Về mặt ngoại giao, tổng thống Vladimir Putin có thể trông cậy vào sự ủng hộ không lay chuyển của chính phủ Việt Nam. Ví dụ, Hà Nội đã không lên án cuộc xâm lược Ukraina. Tháng 04/2022, Việt Nam cũng bỏ phiếu chống một dự thảo nghị quyết loại Nga khỏi Hội Đồng Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc.Trở lại câu hỏi, dù khó đoán chính xác ngày công du nhưng dựa vào bối cảnh thuận lợi cho mối quan hệ Việt-Nga, có lẽ năm 2024 là thời điểm phù hợp cho chuyến công du chính thức Việt Nam của tổng thống Nga. Lý do là 2024 là năm quan trọng cho cả hai nước vì đánh dấu tròn 30 năm ký Hiệp ước về những nguyên tắc cơ bản của quan hệ hữu nghị Việt Nam - Nga (1994-2024).RFI : Tổng thống Nga Putin bị Tòa Án Hình sự Quốc tế (CPI) phát lệnh bắt vì bị cáo buộc cưỡng ép đưa trẻ em Ukraina sang Nga hoặc các vùng lãnh thổ Ukraina bị Nga chiếm đóng. Nhưng dường như ông Putin có thể hoàn toàn yên tâm nếu đến thăm Việt Nam ?Laurent Gédéon : Việt Nam, cũng như Nga, không tham gia Công ước Roma. Theo một sắc lệnh tổng thống ký ngày 16/11/2016, Nga đã rút khỏi.Tuy nhiên, cần nhắc đến một tiền lệ về trường hợp cựu tổng thống Sudan Omar El-Béchir. Tháng 06/2015, ông Omar El-Béchir, bị truy tố vì tội diệt chủng ở Darfour, đến Nam Phi dự thượng đỉnh Liên Hiệp Châu Phi. Dù ký Công ước Roma nhưng Nam Phi đã từ chối bắt ông Omar El-Béchir trước khi ông vội rời khỏi nước này. Chính quyền Pretoria lập luận rằng họ bị khó xử giữa việc tôn trọng quy định của Tòa Án Hình Sự Quốc Tế với chính luật pháp của Nam Phi liên quan đến bảo đảm quyền miễn trừ của tổng thống. Đáp lại, Tòa Án Hình Sự Quốc Tế cho rằng Pretoria đã không làm tròn bổn phận quốc tế vì không bắt tổng thống Sudan lúc ông có mặt trên lãnh thổ Nam Phi. Tòa Án Hình Sự Quốc Tế nhắc lại rằng Nam Phi, cũng như bất kỳ quốc gia thành viên nào khác, có nghĩa vụ bắt giữ một cá nhân bị Tòa Án Hình Sự Quốc Tế truy nã.Ngoài ra cũng cần nhắc lại trường hợp của cựu tổng thống Chilê Augusto Pinochet dù khuôn khổ pháp lý không hẳn giống nhau. Ông Pinochet là đối tượng trong lệnh bắt quốc tế của một bồi thẩm đoàn quốc gia Tây Ban Nha. Bồi thẩm đoàn này tuyên bố có thẩm quyền dựa trên nguyên tắc thẩm quyền chung sau khi các nạn nhân chịu tra tấn và ép mất tích ở Chilê đệ đơn kiện. Tướng Pinochet bị chính quyền Anh bắt vào tháng 10/1998 khi đến nghỉ ở Anh Quốc. Bị quản thúc tại gia, nhà cựu độc tài trở thành đối tượng bị dẫn độ theo quyết định của các thẩm phán Anh. Nhưng biện pháp này chưa bao giờ được thi hành cho đến khi ông Pinochet được trả tự do và trở về Chilê năm 2000. Đọc thêm : Putin có thể bị bắt giữ theo lệnh truy nã Tòa án Hình sự Quốc tế ?Liên quan đến tổng thống Vladimir Putin, vấn đề từng được nêu lên hồi tháng 08/2023 nhân thượng đỉnh BRICS ở Pretoria. Chính quyền Nam Phi tỏ ra do dự, thậm chí còn nêu khả năng rút khỏi Quy chế Roma. Cuối cùng, họ đã không là gì. Còn tổng thống Nga quyết định không công du Nam Phi vì phần nào không muốn đẩy đối tác Nam Phi vào thế khó xử.Trong trường hợp của Việt Nam, bối cảnh có thể sẽ khác bởi vì ông Putin là khách mời chính thức chứ không phải đến nhân dịp nào đó, ví dụ trong khuôn khổ một cuộc họp thượng đỉnh quốc tế. Ngoài ra, ông Putin là người đứng đầu một Nhà nước không tham gia Quy chế Roma, là khách mời của một nước cũng không phải là thành viên Quy chế Roma. Trong bối cảnh đó, khả năng Tòa Án Hình Sự Quốc Tế gây sức ép có lẽ sẽ rất hạn chế bởi vì Việt Nam không bị ràng buộc phải tuân theo những quy định của Tòa Án Hình Sự Quốc Tế.Trong những điều kiện nói trên, có thể thấy rằng không phải khía cạnh pháp lý sẽ đè nặng lên việc đánh giá rủi ro cho chuyến công du mà là khía cạnh chính trị.RFI : Việt Nam ngỏ lời mời nhưng liệu có thực sự muốn ông Putin đến thăm vào thời điểm này không ? Laurent Gédéon : Trong bối cảnh như vậy, Hà Nội có lẽ sẽ bị gây sức ép từ hai đối tác chính : Hoa Kỳ và Trung Quốc. Về phía Bắc Kinh, khó có thể thấy Trung Quốc nhất quyết yêu cầu Việt Nam dẫn độ đồng minh thân cận nhất của họ.Liên quan đến Hoa Kỳ, cần phải tính đến chủ đích của Washington muốn xích gần Việt Nam về mặt địa chiến lược, trong đó minh chứng mới nhất là chuyến công du Hà Nội của tổng thống Joe Biden trong hai ngày 10 và 11/09. Mỹ chủ trương vượt một bước trong mối quan hệ song phương và tiến tới hợp tác đối tác chiến lược toàn diện và việc này đã được thực hiện. Cho đến hiện nay, Việt Nam chỉ ký mô hình hợp tác này với các nước Nga, Ấn Độ, Hàn Quốc và Trung Quốc. Cho nên đối với Washington, đó là một thắng lợi ngoại giao đáng kể.Trong những điều kiện đó và căn cứ vào tầm quan trọng của Việt Nam đối với Washington trong quá trình cạnh tranh toàn cầu giữa hai siêu cường, rất có thể Mỹ chỉ gây sức ép mang tính biểu tượng thông qua tuyên bố về chuyến công du của tổng thống Nga nếu chuyến công du diễn ra.RFI : Ông Putin từng tuyên bố là không muốn đẩy “bạn hữu” vào thế khó xử khi quyết định không đến dự thượng đỉnh BRICS ở Nam Phi. Liệu có thể suy luận là ông Putin sẽ đến Việt Nam vào thời điểm thích hợp ?Laurent Gédéon : Tôi không nghĩ là bối cảnh giống với bối cảnh chuyến công du Nam Phi từng dự kiến của tổng thống Nga. Ông Putin nhận lời mời đích danh từ đồng nhiệm Việt Nam. Cần phải coi cử chỉ này không phải là một lời mời thông thường mà có ý nghĩa về mặt ngoại giao và địa-chính trị.Qua lời mời tổng thống Nga, Hà Nội gửi đi ba thông điệp. Trước tiên là thông điệp gửi đến Nga, bày tỏ mong muốn của Việt Nam tiếp tục quá trình hợp tác được gây dựng từ nhiều năm qua trong bối cảnh hai nước thông hiểu nhau. Lời mời này cũng thể hiện sự coi trọng của chính quyền Việt Nam, muốn nói rằng Nga không bị loại khỏi cuộc chơi và Nga luôn giữ tiềm năng địa-chính trị quan trọng trong mắt Việt Nam. Đọc thêm : Nga xâm lược Ukraina và “Ngoại giao cây tre” của Việt NamThông điệp thứ hai được gửi đến Trung Quốc. Hà Nội muốn cho Bắc Kinh thấy là họ duy trì mối quan hệ đặc quyền với Nga, quốc gia mà Trung Quốc cũng có mối quan hệ gần gũi sâu sắc. Điều này tăng cường vị thế của Việt Nam đối với Bắc Kinh trong khi hai bên tranh chấp chủ quyền gay gắt ở Biển Đông.Thông điệp cuối cùng được gửi đến Hoa Kỳ. Không phải ngẫu nhiên mà ngay sau chuyến công du Việt Nam của ông Biden mà Hà Nội mời tổng thống Nga đến thăm. Khi mời ông Putin, Hà Nội muốn đánh dấu sự khác biệt và tự chủ trong quyết định đối với Hoa Kỳ, đồng thời khẳng định rằng Việt Nam không đi theo chương trình hành động của Washington.Tất cả những yếu tố trên cho phép nghĩ rằng chuyến công du của tổng thống Nga sẽ diễn ra khi Hà Nội và Matxcơva thấy có lợi, dù là về mặt đối ngoại, đối nội, quân sự hay bất kỳ lý do nào khác và có thể là vào năm 2024.RFI : Trung Quốc, nước không tham gia Quy chế Roma, đã trải thảm đỏ đón “thượng khách” Putin tại Diễn đàn Vành Đai và Con Đường. Liệu mối quan hệ song phương được tăng cường có tác động đến mối quan hệ với Việt Nam ? Laurent Gédéon : Người ta thấy chính quyền Nga thường chủ trương trung lập về mối quan hệ giữa Trung Quốc và Việt Nam và những cạnh tranh giữa hai nước này ở Biển Đông. Nhìn chung, Matxcơva không lên án những hành động của Hải Quân và hải cảnh Trung Quốc, hai lực lượng vẫn thường có sự cố với tầu tuần tra và tầu cá Việt Nam trong những năm gần đây.Nga phản đối quốc tế hóa xung đột ở Biển Đông, như vậy là đứng về lập trường của Trung Quốc vì nước này cũng phản đối. Luận điểm này có thể khiến Hà Nội khó xử, thêm vào đó là Nga và Trung Quốc gia tăng hợp tác trong lĩnh vực quân sự, chẳng hạn các cuộc diễn tập hải quân thường xuyên giữa hạm đội Nga và Trung Quốc.Tuy nhiên, cần nhấn mạnh là Nga được lợi khi chú ý đến mối quan hệ với Hà Nội vì Việt Nam cũng là một trong những đối thủ cạnh tranh quan trọng của Trung Quốc ở trong vùng. Do đó, Matxcơva có thể dựa vào mối quan hệ với Hà Nội để hạn chế nguy cơ đối đầu trực diện với Bắc Kinh. Nhìn vào mối quan hệ không cân bằng về tổng thể giữa Trung Quốc và Nga, việc này không hẳn có lợi cho Nga về lâu dài. Do đó, Matxcơva có lợi khi đa dạng hóa các liên minh và các điểm hỗ trợ trong khu vực. Với chất lượng của mối quan hệ chặt chẽ Việt Nam và Liên bang Nga, rõ ràng Hà Nội là đối tác có chủ đích của Matxcơva. Do đó, trong những điều kiện hiện nay, Việt Nam không có gì phải lo trước sự xích lại gần nhau giữa Trung Quốc và Nga.RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn nhà nghiên cứu Laurent Gédéon, giảng viên Trường Sư phạm Lyon, Pháp.
10/30/202310 minutes, 1 second
Episode Artwork

Giới luật sư Pháp Việt và hợp tác về bảo vệ môi trường

Vào giữa tháng 7 vừa qua, một phái đoàn Pháp, trong đó có bà Valérie Verdier, Chủ tịch kiêm Tổng Giám đốc Viện Nghiên cứu Phát triển, cùng với ông Bruno David, Chủ tịch bảo tàng Lịch sử Tự nhiên Quốc gia,  đã đến thăm Việt Nam. Đây là một trong những hoạt động mới nhất trong khuôn khổ hợp tác trong lĩnh vực môi trường giữa hai nước Pháp và Việt Nam.   Theo báo chí trong nước, trong cuộc gặp giữa phái đoàn Pháp với thứ trưởng bộ Tài Nguyên và Môi trường Việt Nam Lê Công Thành, bà Valérie Verdier cho biết, thời gian qua, nhiều chuyên gia của Viện nghiên cứu phát triển đã đến Việt Nam nghiên cứu lĩnh vực môi trường. Cũng trong buổi làm việc, các nhà nghiên cứu khoa học của phái đoàn Pháp bày tỏ mong muốn được tham gia hợp tác lâu dài với bộ Tài Nguyên và Môi trường, nhất là trong việc triển khai quan hệ Đối tác chuyển dịch năng lượng công bằng (JETP) và các cam kết toàn cầu về ứng phó biến đổi khí hậu mà Việt Nam đã tham gia. Chính phủ Pháp đã cam kết sẽ hỗ trợ 50 triệu đô la Mỹ cho các nước đang phát triển tham gia JETP, hướng tới các giải pháp năng lượng tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính.Trong công cuộc hợp tác Pháp-Việt về bảo vệ môi trường, nay cũng có sự tham gia của giới luật sư hai nước. Trong hai ngày 7 và 8/07/2023, tại khu Trung tâm Quốc tế Khoa học và Giáo dục Liên ngành, thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định, đã diễn ra một cuộc hội thảo về môi trường quy tụ các luật sư và chuyên gia hai nước Việt Nam và Pháp. Trong số các luật sư Việt Nam dự hội thảo, có luật sư Hoàng Cao Sang, Văn phòng luật sư Hoàng Việt Luật, Sài Gòn. Trả lời RFI Việt ngữ, luật sư Hoàng Cao Sang cho biết về nội dung hội thảo: “Đó là những vấn đề liên quan đến môi trường, mà ở đây các chuyên gia nói nhiều về rác thải công nghệ như thiết bị máy tính, điện thoại, khí CO2 và cả đường truyền internet, cũng như việc tải các dữ liệu thông qua đường truyền này làm nhiệt độ tăng, dẫn đến biến đổi khí hậu, ảnh hưởng đến môi trường.Đây là những rác thải của công nghệ cao do các nước phát triển họ tìm hiểu, rồi tìm cách hạn chế các loại ô nhiễm này. Ở Việt Nam thì chưa nghĩ đến những loại rác thải công nghệ mới này. Thường thì môi trường liên quan đến điều kiện cuộc sống và ý thức con mỗi con người, ở Việt Nam thì còn khó khăn, chưa phát triển và đặc biệt là người dân chưa được giáo dục nhiều ý thức về môi trường. Tôi nhận thấy hiện tại ở Việt Nam, người gây ra ô nhiễm môi trường cũng chưa biết mình vi phạm luật môi trường, và người bị xâm hại cũng chẳng biết mình bị xâm hại, dù điều này pháp luật đã quy định.Vì vậy, buổi hội thảo này sẽ đóng góp vào ý thức về bảo vệ môi trường, đặc biệt là ô nhiễm của rác thải công nghệ mới.” Cũng theo luật sư Hoàng Cao Sang, trong hội thảo tại Quy Nhơn, phía luật sư Pháp đã trao đổi những kinh nghiệm về thi hành luật pháp trong vấn đề bảo vệ môi trường:  “Các luật sư Pháp đưa ra các chính sách, các quy định của pháp luật của Pháp về môi trường như Luật REEN ngày 15/11/2021 nhằm giảm tác động đến môi trường của công nghệ kỹ thuật số ở Pháp; Chính sách khí hậu của Âu Châu; Nghĩa vụ đối với môi trường của các quốc gia; Sự tỉnh táo trong thời đại kỹ thuật số; Đòn bẩy cho các hành động pháp lý; Từ nhận thức đến hành động và đặc biệt là cải thiện điều kiện sống để người dân ý thức hơn về môi trường.Đây là những bước sơ khởi ban đầu của các luật sư Pháp trao đổi về môi trường tại đây, nên họ chưa có những hỗ trợ cụ thể. Nhưng tôi tin rằng qua lần hội thảo này, họ sẽ có những bước tiếp theo để những vấn đề mà họ đưa ra trong buổi hội thảo này được đi vào thực tế. Sau buổi hội thảo, chúng tôi cũng đã đề nghị các luật sư Pháp hỗ trợ và hết hợp cho nhiều chương trình khác nhau sau này, và họ rất vui vẻ nhận lời. Đặc biệt, trong chương trình này có luật sư Ngô Thị Mỹ Hạnh và Giáo sư Trần Thành Vân là những người Pháp gốc Việt, những người trí thức thành công tại Pháp và họ luôn có tâm niệm đóng góp cho quê hương Việt Nam. Tôi tin rằng họ sẽ có nhiều hỗ trợ cho Việt Nam trong nhiều vấn đề.”Trả lời RFI Việt ngữ, luật sư Ngô Thị Mỹ Hạnh, chủ tịch Hội Hợp tác Pháp lý Châu Âu Việt Nam, cho biết:" Lần này là lần thứ ba chúng tôi đến thành phố Quy Nhơn vì hai nhà khoa học Trần Thanh Vân và Lê Kim Ngọc, sáng lập viên hội "Gặp gỡ Việt Nam" năm 1993 và Trung tâm Quốc tế Khoa học và Giáo dục Liên ngành, mời chúng tôi đến. Lần trước, khi đến Trung tâm tôi có gặp thứ trưởng bộ Tài nguyên và Môi trường Việt Nam. Họ có mời tôi đến nói về chính sách chống ô nhiễm từ các túi nhựa dùng một lần. Họ thấy các luật sư Pháp quan tâm đến vấn đề môi trường ở Việt Nam.Lần này được hai nhà khoa học mời đến là cơ hội để các nhà khoa học và các luật gia gặp nhau. Chúng  tôi tổ chức hội thảo để đề cập đến thách thức môi trường và cải cách pháp lý. Nhà khoa học là Hà Dương Minh, cũng là gốc Việt, nói về chuyển đổi năng lượng. Các luật sư thì nói về chính sách về nước của châu Âu, về ô nhiễm tiếng ồn. Luật sư Đặng Thị Ngọc Hạnh, chủ nhiệm đoàn luật sư Huế, cũng có phát biểu. Hai ngày hội thảo đó rất phong phú và mọi người đến đông đủ để chia sẽ và trao đổi với nhau về kinh nghiệm, ý kiến, thông tin. Tôi sẽ đăng những bài phát biểu của tất cả các chuyên gia trên trang mạng của Trung tâm Quốc tế Khoa học và Giáo dục Liên ngành, vì đấy là nơi mà họ tập trung mỗi năm."Cũng theo lời luật sư Ngô Thị Mỹ Hạnh, Quy Nhơn, với Trung tâm Quốc tế Khoa học và Giáo dục Liên ngành, sẽ nơi lý tưởng để phát triển các giải pháp cho môi trường:" Chúng tôi dự trù sẽ tiếp tục các chương trình thông tin sao cho người dân Việt Nam và các công ty đều có ý thức để tránh và giảm bớt ô nhiễm ở Việt Nam, tiến đến một môi trường xanh và tránh những thảm nạn như lũ lụt, nước dâng cao ở vùng sông Cửu Long.Chúng tôi nghĩ là ở Quy Nhơn có nhiều cơ hội những giải pháp cho môi trường, vì ở đấy, hai nhà khoa học Trần Thanh Vân và Lê Kim Ngọc đã thành lập ra một trung tâm khám phá khoa học độc nhất ở Việt Nam. Nên khai thác trung tâm khoa học đó và mỗi khi có thể được thì cho học sinh, sinh viên, người dân đến Quy Nhơn, cũng như các đoàn trao đổi quốc tế đến để giúp ý kiến, kinh nghiệm cho Việt Nam".Kinh nghiệm của các luật sư Pháp càng cần thiết trong bối cảnh Việt Nam còn gặp nhiều vấn đề trong việc thực hiện Luật Bảo vệ môi trường năm 2020, có hiệu lực từ ngày 01/01/2022, theo luật sư Hoàng Cao Sang: “Về cơ bản, Luật Bảo vệ môi trường của Việt Nam cũng đã có những quy định để bảo vệ môi trường, nhưng vẫn chưa chi tiết hóa các trường hợp cụ thể, hoặc có quy định nhưng không áp dụng được bởi những vướng mắc của luật khác. Chính vì các vướng mắc đó nên pháp luật không đi vào cuộc sống được. Đơn giản như tiếng ồn. Ở Việt Nam đi đâu cũng thấy tiếng ồn. Tiếng ồn từ các công trình của các doanh nghiệp, và tiếng ồn của cả các cá nhân gây ra trong cuộc sống hàng ngày.Có một số trường hợp không chịu được tiếng ổn mà người ta phải vác súng, vác dao bắn/đâm chết người gây ra tiếng ồn, nhưng có mấy ai bị xử phạt vì gây ra tiếng ồn đâu. Hoặc xả khí/rác thải khắp nơi nhưng có mấy doanh nghiệp bị xử phạt đâu?Bên cạnh những doanh nghiệp Việt Nam, còn có những tập đoàn lớn của nước ngoài vào đầu tư cũng xả thải ra môi trường, nhưng rất ít khi bị phát hiện và rất ít khi bị xử phạt.Thứ nữa là mức phạt chưa nghiêm, nên việc xả thải của các doanh nghiệp/người dân vẫn tiếp diễn, bất chấp các quy định của pháp luật.Ngoài vấn đề luật pháp, tôi còn cho rằng phải cải thiện và nâng cấp điều kiện sống, phải phát triển lên thì mới hạn chế được việc gây ảnh hưởng đến môi trường."  
10/23/20239 minutes, 31 seconds
Episode Artwork

“Predator Files”: Phần mềm Việt Nam mua bị nghi dùng để do thám nhiều lãnh đạo thế giới

Nhiều nhà báo và chính trị gia tại châu Âu đã bị do thám thông qua một tài khoản Twitter (@Joseph_Gordon16) có liên hệ chặt chẽ với Việt Nam và được cho là hoạt động cho chính quyền Việt Nam, hoặc một số nhóm lợi ích Việt Nam. Phát hiện này được tổ chức Ân Xá Quốc Tế ( Amnesty International ) cùng với nhiều cơ quan truyền thông châu Âu thuộc tổ hợp Hợp tác Điều tra châu Âu (European Investigative Collaborations, EIC) đồng loạt công bố ngày 09/10/2023 trong khuôn khổ vụ « Predator Files ». Trong thông cáo ngày 09/10, Ân Xá Quốc Tế nhấn mạnh đến sai sót về quản lý bán phầm mềm do thám (1). Liên minh các doanh nghiệp phát triển và bán phần mềm do thám Predator khẳng định là có trụ sở ở Liên Hiệp Châu Âu. Các nhà báo, chính trị gia bị nhắm đến cũng ở trong khối 27 nước, trong khi mỗi nước thành viên Liên Âu phải chịu trách nhiệm kiểm tra việc bán và chuyển giao công nghệ theo dõi.Trường hợp của Việt Nam được nhiều báo đồng loạt đưa tin ngày 09/10 (2). Nhà báo điều tra Yann Philippin của báo mạng độc lập Pháp Mediapart tham gia cuộc điều tra của EIC, song song với tổ chức Amnesty International, là tác giả bài báo « Predator Files » : des élus français, européens et américains visés par le logiciel espion (Vụ « Predator Files » : Nhiều dân biểu Pháp, châu Âu và Mỹ bị phần mềm gián điệp nhắm đến). Theo đó, « Việt Nam đã sử dụng phần mềm gián điệp Predator, do tập đoàn Nexa bán, để thực hiện âm mưu do thám thông qua mạng Twitter (hiện là mạng X). Dân biểu châu Âu Pierre Karleskind của Pháp bị nhắm đến, cũng như đài truyền hình France 24, nữ chủ tịch Nghị Viện Châu Âu, nhiều dân biểu Mỹ, nhà báo và nhà ngoại giao ». Nhà báo Yann Philippin dành cho RFI Tiếng Việt buổi phỏng vấn ngày 11/10/2023.RFI : Ông tham gia điều tra về vụ « Predator Files » do tổ hợp Hợp tác Điều tra châu Âu - EIC điều phối cùng với tổ chức Ân Xá Quốc Tế. Xin ông giải thích mục đích của cuộc điều tra này ! Nhà báo Yann Philippin : Cuộc điều tra tiết lộ lần đầu tiên từ bên trong những phương pháp của một liên minh doanh nghiệp thiết kế và bán các hệ thống giám sát thâm nhập, trong đó có Predator, một phần mềm gián điệp giúp đánh cắp được hết dữ liệu của điện thoại bị xâm nhập (hack) và sử dụng điện thoại đó làm công cụ gián điệp, vì Predator có khả năng kích hoạt từ xa micro, máy ảnh, máy quay phim và như vậy có thể ghi hình mọi người hoặc thu âm những gì họ nói mà không hay biết.  Cuộc điều tra « Predator Files » đã tiết lộ cách làm của hai công ty Intellexa và Nexa. Intellexa là công ty thiết kế phần mềm gián điệp Predator, còn Nexa là một công ty Pháp, từng liên kết với Intellexa và giúp Intellexa bán phần mềm này ra nước ngoài, trong đó có Việt Nam.  RFI : Dựa vào những dấu hiệu nào mà nhóm điều tra kết luận rằng có khả năng Việt Nam có liên quan đến các chiến dịch thâm nhập, do thám ?  Yann Philippin : Cuộc điều tra của chúng tôi mang lại nhiều bằng chứng vững chắc. Chúng tôi phối hợp với Security Lab của tổ chức Ân Xá Quốc Tế. Cuộc điều tra được tiến hành trên hai phương diện : kỹ thuật và kinh tế. Tổ chức Ân Xá Quốc Tế tiến hành điều tra về mặt kỹ thuật. Họ đã phân tích các máy chủ, có nghĩa là các máy tính chứa các trang web nhằm truy cập, hack điện thoại. Những máy chủ này được đặt ở nhiều nơi do công ty Intellaxa quản lý cho nhiều khách hàng, trong đó có Việt Nam. Predator hoạt động như sau : Người ta gửi một đường link, thường là bắt chước một bài báo nào đó, người xem thấy quan tâm, nhấn vào đó và sẽ bị đưa đến máy chủ chứa trang web giả và máy chủ sẽ gửi phần mềm gián điệp vào điện thoại của người đó để thâm nhập.  Tổ chức Ân Xá Quốc Tế điều tra rất tỉ mỉ về cơ sở kỹ thuật thâm nhập điện thoại với phần mềm Predator này. Họ xác định được rằng một phần cơ sở hạ tầng kỹ thuật này có liên quan đến Việt Nam, một mặt nhờ vào hoạt động tin học của những máy chủ đó, mặt khác là do các đối tượng bị nhắm đến có liên quan đến Việt Nam, ví dụ các nhà đối lập Việt Nam. Song song đó là cuộc điều tra kỹ thuật, với độ chắc chắn cao, cho thấy những máy chủ gửi virus độc đó là dành cho Việt Nam. Báo mạng Mediapart và tổ hợp Hợp tác Điều tra châu Âu - EIC của chúng tôi đã nhận được nhiều tài liệu mật chứng minh rằng công ty Pháp Nexa bán phần mềm Predator cho chính phủ Việt Nam, cụ thể là cho bộ Công An. RFI : Theo các tài liệu đó, thỏa thuận mua bán được đúc kết vào thời điểm nào ? Yann Philippin : Thỏa thuận mua bán này được ký chính xác ngày 31/12/2020. Sau đó còn phải cần thời gian vận chuyển, lắp đặt thiết bị, rất có thể Predator bắt đầu hoạt động cho chính quyền Việt Nam vào khoảng cuối năm 2021.  RFI : Theo báo cáo của tổ chức Ân Xá Quốc Tế và bài báo của nhiều cơ quan truyền thông châu Âu tham gia điều tra, nhiều chính trị gia châu Âu, Mỹ, Đài Loan và một số nhà đối lập Việt Nam dường như bị nhắm tới ! Yann Philippin : Cuộc tấn công được tổ chức Ân Xá Quốc Tế, cũng như nhiều tổ chức khác như Citizen Lab hay Google, quy cho Việt Nam. Cách tấn công cũng rất thú vị vì sử dụng mạng Twitter, nay là mạng X. Thông thường, những vụ tin tặc kiểu này thường nhắm đến một cá nhân cụ thể, như gửi tin nhắn chứa mã độc, hoặc gửi tin qua WhatsApp. Thế nhưng họ lại để công khai trên Twitter khi sử dụng tài khoản giả mang tên @Joseph_Gordon16 trả lời tin nhắn Twitter của đối tượng bị nhắm đến. Nếu truy cập bằng điện thoại và nhấn vào đường link đó thì điện thoại bị nhiễm mã độc và bị truy cập. Chính nhờ vậy mà chiến dịch đã bị phát hiện bởi vì cách làm không được kín đáo cho lắm, do họ sử dụng Twitter, mà các tin nhắn trên Twitter đều công khai. RFI :Thành phần bị nhắm đến là những ai và nhằm mục đích gì ? Yann Philippin : Chúng tôi đã xác định được ba kiểu đối tượng bị nhắm đến. Thứ nhất là một số nhà đối lập với chế độ Việt Nam như Lê Trung Khoa, sống ở Đức, rất nổi tiếng và phụ trách trang thông tin Thời báo được người Việt sống ở trong và ngoài nước biết nhiều. Việt Nam định hack điện thoại của ông qua chiến dịch này. Ngoài ra, còn có nhiều tổ chức, nhà báo Việt Nam hoặc một số tổ chức chính trị ở nước ngoài cũng bị chiến dịch này nhắm đến. Đối tượng thứ hai là Liên Hiệp Châu Âu với 12 cơ quan và cá nhân bị nhắm đến, trong số đó có nhiều chính trị gia cấp cao, Ủy Ban Châu Âu, nữ chủ tịch Nghị Viện Châu Âu và ông Pierre Karleskind, chủ tịch Ủy ban đánh bắt (PECH) của Nghị Viện Châu Âu.  Sau cuộc điều tra, chúng tôi suy luận rằng có lẽ Việt Nam lo lắng vì Liên Hiệp Châu Âu đã phạt « thẻ vàng » về tình trạng đánh bắt bất hợp pháp của Việt Nam, vì Bruxelles cho rằng Việt Nam chưa cố gắng đủ để chống tình trạng đó. Hiện giờ chưa có hậu quả, nhưng nếu vấn đề không được giải quyết thì « thẻ vàng » có thể sẽ thành « thẻ đỏ », đồng nghĩa với việc cấm xuất khẩu hải sản sang thị trường Liên Âu. Đó sẽ là một rủi ro lớn cho Việt Nam. Mọi người đều biết rằng đánh bắt là một nguồn thu nhập lớn cho nền kinh tế Việt Nam. Vì thế có thể là Việt Nam muốn do thám một số chính trị gia và các cơ quan Liên Hiệp Châu Âu phụ trách đánh bắt để nắm bắt tình hình và xem liệu các biện pháp trừng phạt hoặc cảnh cáo có tiếp tục hay không và liệu có cách nào để hủy « thẻ vàng » đó.  Đối tượng cuối cùng trong đợt do thám mà chúng tôi xác định được có liên quan đến Biển Đông. Chúng ta biết đó là một khu vực phức tạp, đầy căng thẳng, nhất là liên quan đến chủ quyền đối với nhiều hòn đảo trong vùng, giữa Việt Nam, Trung Quốc, Đài Loan và Philippines. Đợt tấn công nhắm đồng thời vào nhiều chính trị gia, cũng như chuyên gia, nhà báo liên quan đến địa-chính trị hoặc Biển Đông. Mục tiêu quan trọng nhất là tổng thống Đài Loan Thái Anh Văn. Nhiều dân biểu, thượng nghị sĩ Mỹ cũng bị nhắm đến trong cuộc tấn công nhắm vào chính quyền Đài Loan. RFI : Các « nạn nhân » phản ứng như thế nào về kết quả điều tra của tổ hợp Hợp tác Điều tra châu Âu - EIC và Ân Xá Quốc Tế ?  Yann Philippin : Chúng tôi nhận được phản ứng của một vài nạn nhân. Chuyện khá phức tạp vì phần lớn các chính trị gia không muốn bình luận, phần nào vì lý do an ninh. Phản ứng mạnh nhất là của nhà phụ trách trang Thời báo ở Đức. Ông ấy kinh sợ vì bị nhắm đến. May là ông ấy không nhấn vào đường dẫn. Ông ấy giải thích với chúng tôi là nhiều người hợp tác với trang Thời báo đã phải lấy bút danh để không bị nhắm đến, vì nếu danh tính thật bị lộ và chính phủ Việt Nam biết thì có thể họ sẽ gặp nhiều hậu quả kinh khủng. Ông ấy lo ngại và thấy bất thường khi Liên Hiệp Châu Âu đã không ngăn được việc bán phần mềm gián điệp Predator cho Việt Nam, một Nhà nước chuyên quyền, một quốc gia không có dân chủ.  Ngoài ra, chúng tôi cũng nhận được phản hồi mạnh của dân biểu châu Âu Pierre Karleskind, thuộc đảng của tổng thống Pháp, rằng vụ tấn công tin tặc mà ông ấy là nạn nhân là điều hoàn toàn bất thường. Ông đã cho kiểm tra điện thoại thì thấy là điện thoại không bị nhiễm độc. Theo ông, dù vụ tấn công bất thành nhưng vẫn là chuyện đáng xấu hổ. Ông cho biết là có ý định triệu mời đại sứ Việt Nam bên cạnh Liên Hiệp Châu Âu lên để đề nghị giải thích.  RFI : Chiến dịch tấn công và phần mềm Predator còn hoạt động không ? Yann Philippin : Không thể biết được là phần mềm đó còn hoạt động hay không. Thường thì trong mọi cuộc điều tra báo chí, người ta vẫn gửi câu hỏi cho những người có liên quan trong các bài báo trước khi công bố. Chúng tôi đã gửi câu hỏi đến chính phủ Việt Nam, nhưng họ không hồi âm. Chúng tôi cũng gửi câu hỏi tới  Intellexa, tức là công ty khai thác phần mềm Predator, nhưng cũng không nhận được câu trả lời.  Tuy nhiên, chúng tôi có câu trả lời, có thể nói là  « gián tiếp », đó là chúng tôi phát hiện ra rằng phần lớn các máy chủ được dùng để phát tán virus thông qua phần mềm Predator bỗng dưng bị đóng hết, ngay sau khi chúng tôi gửi câu hỏi đến. Có thể là do bị phát hiện nên họ lo ngại và đóng các máy chủ đó. Có thể là họ tạm ngừng hoạt động, nhưng cũng có thể là họ lắp đặt các máy mới, cơ sở mới và sẽ tiếp tục trong tương lai. Còn chiến địch mà chúng tôi phát hiện thì đã chấm dứt, bởi vì tài khoản Twitter @Joseph_Gordon16 không còn tồn tại, tất cả đã bị xóa. Nhưng trong tương lai, hoàn toàn có thể có những vụ tấn công khác, bằng các phương tiện khác và có thể kín đáo hơn.  RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn nhà báo điều tra Yann Philippin, báo mạng Pháp Mediapart. (1) Theo báo cáo của Amnesty International, « […] Từ tháng 02 đến tháng 06/2023, ít nhất 50 tài khoản thuộc 27 cá nhân và 23 định chế bị công khai nhắm đến trên các nền tảng mạng xã hội X (trước là Twitter) và Facebook. Vũ khí giám sát mạng được sử dụng để nhắm đến các tài khoản này có tên là Predator, một phần mềm gián điệp thâm nhập do liên minh Intellexa phát triển và kinh doanh. Khẳng định là « có trụ sở tại Liên Hiệp Châu Âu và tuân theo quy định của châu Âu », liên minh này được hình thành từ một nhóm các công ty phức tạp và liên tục thay đổi, chuyên thiết kế và bán các sản phẩm giám sát, bao gồm cả phần mềm gián điệp Predator […] ». (2) Trang Mediapart : « Predator Files » : des élus français, européens et américains visés par le logiciel espion (Vụ « Predator Files » : Nhiều dân biểu Pháp, châu Âu và Mỹ bị phần mềm gián điệp nhắm đến) Trang Le Soir của Bỉ : Predator Files : les manœuvres du Vietnam pour espionner l’Europe, dont la présidente du Parlement européen (Predator Files : các cách Việt Nam do thám châu Âu, trong đó có nữ chủ tịch Nghị Viện Châu Âu). Trang mạng Đức Spiegel : Wie Vietnam eine deutsch Botschafterin zu hacken versuchte (Việt Nam đã cố hack đại sứ Đức như thế nào). Nhật báo Pháp Le Monde : Logiciel espion Predator : le Vietnam a tenté de pirater des journalistes et des responsables politiques en Europe (Phần mềm gián điệp Predator : Việt Nam cố tìm cách tấn công các nhà báo và quan chức chính trị ở châu Âu).  Trang Capital : «Predator Files» : des élus européens victimes de tentatives d'espionnage par le Vietnam (Vụ «Predator Files» : nhiều dân biểu châu Âu là nạn nhân âm mưu do thám do Việt Nam thực hiện).  Trang RFI : Le Vietnam au cœur d’une campagne d’espionnage visant des personnalités américaines(Việt Nam trong tâm điểm một chiến dịch do thám nhắm vào nhiều nhân vật Mỹ). Trang Washington Post : Vietnam tried to hack U.S. officials, CNN with posts on X, probe finds (Việt Nam tìm cách hack quan chức Mỹ, CNN bằng các bài đăng trên X, theo phát hiện của một cuộc điều tra).
10/16/20239 minutes, 35 seconds
Episode Artwork

Việt Nam bảo vệ chủ quyền ở Biển Đông như nào ?

Việt Nam khẳng định chủ quyền ở Biển Đông bằng cách nạo vét và nâng cấp một số tiền đồn mà Hà Nội kiểm soát. Đến cuối năm 2022, Việt Nam đã « mở rộng việc bồi đắp tại bốn thực thể và nạo vét mới tại năm thực thể khác… tạo ra khoảng 170 héc ta đất mới và nâng tổng diện tích mà Việt Nam đã khai hoang trong thập kỷ qua lên 220 héc ta », theo Tổ chức Sáng kiến ​​Minh bạch Hàng hải châu Á (AMTI) của Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS) ở Washington.  Tuy nhiên, theo AMTI, « quy mô của công việc bồi đắp, mặc dù vẫn còn thua xa so với hơn 3.200 héc ta đất do Trung Quốc tạo nên từ năm 2013 đến năm 2016, nhưng mức độ lớn hơn đáng kể so với những nỗ lực trước đây của Việt Nam và thể hiện một động thái lớn nhằm củng cố vị thế của mình ở Trường Sa ».Trong khi Trung Quốc bị chỉ trích gay gắt vì gia cố các thực thể do nước này chiếm đóng ở Biển Đông thì hoạt động bồi đắp, củng cố của Việt Nam ít bị chú ý hơn vid có quy mô nhỏ hơn. Tuy nhiên, liệu hoạt động được cho là bảo vệ chủ quyền này có phù hợp với Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển (UNCLOS 1982) ? Việt Nam hiện kiểm soát những thực thể nào và làm thế nào để bảo vệ chủ quyền ? Nhà nghiên cứu Laurent Gédéon, Trường Sư phạm Lyon (École Normale supérieure de Lyon) tóm lược tình hình trong buổi phỏng vấn với RFI Tiếng Việt.RFI : Việt Nam tuyên bố chủ quyền với toàn bộ hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Tại Trường Sa, Việt Nam có tranh chấp chủ quyền với các bên Trung Quốc, Đài Loan, Philippines, Malaysia. Xin ông cho biết là trên thực tế Việt Nam hiện quản lý những thực thể nào ở quần đảo Trường Sa ? Laurent Gédéon : Việt Nam duy trì sự hiện diện thực sự trên 29 đảo lớn, nhỏ ở Biển Đông, bao gồm 6 đảo, 15 đá ngầm, 6 bãi và 2 bãi cạn. Ngoài ra, Hà Nội cũng kiểm soát trên 16 đá ngầm nhưng không chiếm đóng thực và lâu dài. Như vậy, sự hiện diện của Việt Nam là lớn nhất về số lượng và chứng minh là Việt Nam có chủ quyền trong khu vực.Để so sánh, Trung Quốc kiểm soát 7 đảo trong quần đảo Trường Sa, Đài Loan 2 đảo trong đó có đảo Ba Bình (Itu Aba) lớn nhất, Philippines kiểm soát 11, Malaysia 7 và Brunei 1. Việt Nam đòi hỏi chủ quyền nhiều nhất đối với quần đảo này bởi vì Hà Nội cho rằng hầu hết các đảo thuộc về chủ quyền của mình. Việt Nam tuyên bố chủ quyền đối với 6 trên 7 đảo do Malaysia kiểm soát, 7 đảo do Trung Quốc kiểm soát, 2 đảo do Đài Loan kiểm soát và 11 đảo do Philippines kiểm soát.Ngược lại, trong số những đảo do Việt Nam kiểm soát, Manila đòi chủ quyền đối với 20, đó là những đảo nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của Philippines theo Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển UNCLOS 1982, Bắc Kinh đòi chủ quyền đối với toàn bộ 29 đảo mà Việt Nam kiểm soát, Malaysia đòi hai. Còn Đài Loan, dù tuyên bố chủ quyền theo bằng chứng lịch sử giống như lập luận của Trung Quốc, nhưng trên thực tế, Đài Bắc tỏ ra kín đáo về chủ đề này.Cuối cùng, phải nhắc đến một loạt bãi cạn tuy không bị chiếm nhưng thuộc ảnh hưởng trực tiếp với mức độ hiện diện khác nhau của Đài Loan, Malaysia, Việt Nam, Philippines, Trung Quốc. Chúng ta thấy là nhìn chung, Trung Quốc và Việt Nam tuyên bố chủ quyền đối với hầu hết quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa. Riêng ở Trường Sa, Việt Nam kiểm soát nhiều đảo nhất so với các nước khác.RFI : Việt Nam cũng âm thầm bồi đắp, củng cố các đảo và đá do Việt Nam quản lý. Việt Nam có những công trình gì trên những thực thể này ? Những công trình bồi đắp đó có phù hợp với luật biển quốc tế, cũng như phán quyết năm 2016 của Tòa Trọng Tài Thường Trực La Haye ? Laurent Gédéon : Những họa động cải tạo thường xuyên được tiến hành từ khoảng 10 năm nay đối với các điền đồn đảo của Việt Nam cho thấy quyết tâm của Hà Nội biến những căn cứ này trở nên vững chắc hơn trước một cuộc tấn công hoặc hoặc bị phong tỏa và tăng cường năng lực răn đe trước đe dọa tấn công từ các công trình của Trung Quốc trong trường hợp xảy ra xung đột.Việt Nam có khoảng 50 tiền đồn trải dài trên 29 đảo lớn, nhỏ. Những tiền đồn này lại được chia thành ba loại : các đảo nhỏ đồn trú, các công trình bằng bê tông trên mỏm các bãi cạn, các nhà giàn biệt lập (DK) dựng trên đá ngầm, còn được gọi là Dịch vụ-Khoa học kỹ thuật.Nhìn chung, trên hầu hết các đảo do Việt Nam kiểm soát, người ta thấy các công trình hạ tầng sau : hệ thống phòng không, hệ thống bảo vệ bờ biển, boong-ke, sân bay trực thăng, hệ thống tên lửa tầm ngắn và tầm trung, trạm radar (radome) tiếp nhận và phân tích sóng điện tử, các tòa nhà hành chính, hệ thống đường hầm.Những công trình này thường dẫn đến việc phải mở rộng diện tích của đảo hoặc đá ngầm bằng cách bồi đắp. Về điểm này, Việt Nam đi theo bước của Trung Quốc, nước cũng tiến hành bồi đắp các đảo nhỏ mà họ kiểm soát, cho dù Việt Nam tiến hành ở quy mô nhỏ hơn. Năm 2022, Việt Nam đã thúc đẩy và mở rộng các công trình bồi đắp và hiện có tổng diện tích khoảng 2,2 km² ở Trường Sa. Để so sánh, tổng diện tích bồi đắp của Trung Quốc hiện khoảng 13 km². Đài Loan và Phillipines cũng có các hoạt động tương tự nhưng ở quy mô nhỏ hơn.Thông qua những hoạt động bồi đắp này, Bắc Kinh cũng như Hà Nội tìm cách tăng diện tích các đảo mà họ kiểm soát bởi ít nhất hai lý do sau. Một mặt là để tăng cường khả năng phòng thủ và tấn công của những vùng đất này. Mặt khác, tạo các đảo nhân tạo mà quy chế có thể sẽ được công nhận trong tương lai trong trường hợp luật quốc tế thay đổi.Về mặt luật pháp quốc tế, chúng ta thấy là Tòa Án Trọng Tài Thường Trực, trong phán quyết ngày 12/07/2016, nêu rõ : « Tòa án nhận thấy các hoạt động cải tạo đất ở quy mô lớn và xây dựng các đảo nhân không phù hợp với nghĩa vụ của một quốc gia thành viên trong quá trình giải quyết tranh chấp, trong chừng mực mà Trung Quốc đã gây ra những tác hại không thể khắc phục được đối với môi trường biển, xây dựng một đảo nhân tạo lớn trong vùng đặc quyền kinh tế của Philippines và tiêu hủy bằng chứng về điều kiện tự nhiên của các cấu trúc ở Biển Đông vốn là một phần tranh chấp giữa các Bên ».Phán quyết các thẩm phán để ngỏ khả năng Việt Nam cũng có thể bị chỉ trích giống như Trung Quốc vì đã tiến hành hoạt động bồi đắp gây hậu quả cho môi trường bởi vì những hoạt động đó thay đổi lâu dài hiện trạng ban đầu của các đảo. Để Việt Nam được hưởng lợi ngoài những lợi ích chiến lược từ những công trình đã thực hiện thì sẽ phải cần đến sự thay đổi của luật pháp quốc tế trong khi sự thay đổi đó hiện giờ chưa nằm trong chương trình nghị sự.RFI : Trung Quốc bị chỉ trích mạnh mẽ vì bồi đắp và quân sự hóa các thực thể mà họ chiếm đóng ở Trường Sa. Tuy nhiên, các nước có tranh chấp ở trong vùng, trong đó có Việt Nam, cũng bồi đắp. Có lý do nào giải thích cho việc những nước này ít bị chỉ trích hơn, hoặc ít bị để ý hơn ? Laurent Gédéon : Theo tôi, có nhiều lý do có thể giải thích cho việc Việt Nam, cũng như là Philippines hoặc Đài Loan, ít bị chỉ trích hơn về các hoạt động quân sự hóa và bồi đắp các đảo so với Trung Quốc.Trước tiên là việc Trung Quốc hiện giờ bị coi là bá chủ ở trong vùng. Bắc Kinh bị cáo buộc có những tham vọng bành trướng. Tâm lý này càng được củng cố bởi Trung Quốc thường xuyên tuyên bố những yêu sách lãnh thổ hoặc công bố các tài liệu chính thức không chút úp mở nào, ví dụ bản đồ biên giới mới nhất của Trung Quốc đã khiến nhiều nước láng giềng ở Biển Đông phản đối. Trong bối cảnh đó, mọi hoạt động của Trung Quốc trên thực địa đều bị đánh giá là nhằm mục tiêu tấn công.Tiếp theo, Việt Nam vẫn luôn được coi là bên bị đe dọa, chứ không phải là mối đe dọa, bất chấp những tuyên bố hợp pháp hóa yêu sách chủ quyền của Việt Nam. Sự bất cân xứng chiến lược giữa Trung Quốc và Việt Nam khiến người ta tin rằng các công trình do Việt Nam thực hiện là nằm trong khuôn khổ tự vệ chính đáng và ngăn cản những tham vọng bành trướng của Bắc Kinh. Do đó, hành động của Việt nam được xem như có tính chính đáng về mặt đạo đức với báo chí cũng như với giới phân tích.Thiện chí của dư luận đối với Việt Nam được củng cố bởi thực tế Việt Nam là đối tượng được Hoa Kỳ chú ý về mặt địa-chính trị, nhân tố gián tiếp nhưng đóng vai trò lớn trong cuộc xung đột này. Đối với Washington, Hà Nội là quân bài quan trọng trong cuộc cạnh tranh giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc mà bằng chứng mới nhất là chuyến thăm của tổng thống Mỹ Joe Biden tới Việt Nam. Bối cảnh này cũng tạo những kết quả tích cực cho hình ảnh chung của Việt Nam ở nước ngoài.Dù những yếu tố này là không thể bàn cãi nhưng vẫn có hai lưu ý, theo tôi, là quan trọng. Thứ nhất, cần phải nhớ là những công trình này mang lại giá trị thực về mặt chiến lược cho các đảo và đá mà các nước kiểm soát. Vấn đề đặt ra là việc sử dụng chúng giả sử trong trường hợp sức mạnh Trung Quốc suy giảm, ví dụ sau một cuộc xung đột trong vùng mà Trung Quốc xử lý kém. Liệu những công trình đó có thể phục vụ cho Việt Nam để áp đặt sự chia sẻ vùng ảnh hưởng đối với Philippines hay Malaysia không ? Câu hỏi này cần được đặt ra.Lưu ý thứ hai là bằng cách thay đổi cấp độ phân tích và thoát khỏi cách tiếp cận thuần túy khu vực, chúng ta có thể hiểu các hành động của Trung Quốc ở Biển Đông như một phần của cơ chế rộng hơn, đó là chống lại ảnh hưởng của Mỹ. Cách lập luận này khiến chúng ta coi những hành động này (bồi đắp…) như là những yếu tố của một chiến lược rộng hơn để bảo vệ Biển Đông. Nhìn từ quan điểm của Trung Quốc, việc đó được coi là xây dựng một chuỗi phòng thủ. Lập luận này không chỉ làm thay đổi bản chất của việc Trung Quốc xây dựng các cơ sở hạ tầng làm biến đổi nguyên trạng ở Biển Đông mà nếu một ngày nào đó, các quốc gia trong muốn tiến hành đàm phán với Trung Quốc thì cũng cần phải tính đến yếu tố này.RFI : Trong trường hợp Việt Nam và Philippines đạt được một thỏa thuận song phương giải quyết tranh chấp để cùng đối phó với Trung Quốc, Bắc Kinh có để yên không bởi vì họ đòi chủ quyền đối với hầu hết Biển Đông ? Liệu Trung Quốc có khả năng cố tình tạo xô xát trên biển để răn đe hai nước ?Laurent Gédéon : Tôi nghĩ là rất có thể là dù không phản đối nhưng Trung Quốc sẽ từ chối tham gia vào một giải pháp chung mà Việt Nam và Philippines đề xuất. Chúng ta thấy là Bắc Kinh thường xuyên ưu tiên các cuộc gặp song phương thay vì các cuộc đàm phán đa phương như trường hợp bế tắc của các cuộc đàm phán về Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC) từ năm 2002. Mối quan hệ song phương cho phép Trung Quốc gia tăng thế bất cân xứng với đối tác và áp đặt lập trường của họ. Vì thế, có rất ít khả năng Bắc Kinh tham gia vòng đàm phán ba bên với Hà Nội và Manila.Cũng có thể là Trung Quốc cảm thấy ở thế yếu trước bộ đôi Việt Nam - Philippines, hai nước này chắc chắn được Mỹ và Nhật Bản trực tiếp ủng hộ một mặt nhất định về ngoại giao. Trong những điều kiện này, chúng ta có thể giả định mà không sợ nhầm lẫn lớn, là Bắc Kinh sẽ sử dụng chiến lược đe dọa, như cách họ nhiều lần thể hiện đối với Việt Nam hoặc Philippines. Để làm được điều này, Trung Quốc có một lực lượng tấn công đáng kể thông qua đội đánh cá hiện vẫn đóng vai trò bình phong cho các hoạt động chiến lược của nước này ở Biển Đông. Dĩ nhiên, tình hình sẽ khác hoàn toàn nếu Trung Quốc suy yếu, bất kể lý do là gì, nhưng hiện giờ đây vẫn chỉ đơn thuần là một giả thuyết.RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn nhà nghiên cứu Laurent Gédéon, giảng viên Trường Sư phạm Lyon, Pháp.
10/9/202310 minutes, 38 seconds
Episode Artwork

Biển Đông : Việt Nam có chịu "nhượng" chủ quyền để cùng Philippines chống Trung Quốc ?

Philippines muốn đạt được một thỏa thuận với Việt Nam nhằm tăng cường hợp tác hàng hải ở Biển Đông. Đích thân tổng thống Marcos Jr. bày tỏ mong muốn này ngày 10/08/2023 trong buổi hội đàm chia tay với đại sứ Việt Nam mãn nhiệm Hoàng Huy Chung. Mục tiêu sâu xa là đoàn kết để đối phó với đối thủ mạnh hơn là Trung Quốc. Tuy nhiên, một thỏa thuận như vậy có thể sẽ kéo theo những vấn đề chủ quyền chồng lấn giữa hai nước trong vùng quần đảo Trường Sa ở Biển Đông. Nhiều chuyên gia nước ngoài từng gợi ý rằng Việt Nam, Philippines, Malaysia - ba nước chính có tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông - nên ngồi lại đàm phán với nhau để hình thành một mặt trận chung, mạnh mẽ hơn để đối phó với Trung Quốc.Tuy nhiên, liệu Hà Nội có sẵn sàng xem lại những đòi hỏi chủ quyền không ? Những đòi hỏi chủ quyền của Việt Nam có phù hợp với Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển ? Việt Nam được lợi gì khi tăng cường hợp tác hàng hải với Philippines ? RFI Tiếng Việt đặt câu hỏi với nhà nghiên cứu Laurent Gédéon, giảng viên Trường Sư phạm Lyon (Ecole normale supérieure de Lyon), Pháp.RFI : Việt Nam khẳng định chủ quyền đối với toàn bộ quần đảo Trường Sa, chồng lấn với một số đảo mà Philippines tuyên bố chủ quyền. Trước hết, xin ông giải thích Việt Nam và Philippines tranh chấp những gì ở Biển Đông ? Hai nước này có tranh chấp gì với bên thứ ba ? Laurent Gédéon : Trước tiên cần xác định được là chúng ta đang bàn về điều gì khi nhắc đến Biển Đông, đặc biệt là về quần đảo Trường Sa. Đó là một quần đảo với nhiều bãi đá ngầm mà về nguyên tắc là không phù hợp với một đời sống tự túc tại đây. Sáu quốc gia tuyên bố chủ quyền với toàn bộ hoặc một phần quần đảo, gồm Việt Nam, Trung Quốc, Đài Loan, Philippines, Brunei và Malaysia. Để khẳng định chủ quyền, những nước này đưa quân đội đến đồn trú tại một hoặc nhiều đảo, trừ Brunei.Nước đòi chủ quyền nhiều nhất là Trung Quốc với “đường 9 đoạn”, khiến quốc gia này thành đối thủ với 5 nước còn lại. Việt Nam cũng tương tự, đòi chủ quyền với toàn bộ quần đảo, giống như Đài Loan. Nhìn chung ba nước khác tuyên bố chủ quyền trong vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của họ.Liên quan đến Việt Nam và Philippines, cả hai nước cùng đòi chủ quyền ở quần đảo Trường Sa nhưng với quy mô khác nhau. Như đã nói, Việt Nam khẳng định chủ quyền đối với toàn bộ quần đảo Trường Sa. Những tuyên bố này được thể hiện trong các bản đồ chính thức hoặc không chính thức được xuất bản trong nước và thông qua những tuyên bố thường xuyên của các lãnh đạo chính trị.Phía Philippines chỉ đòi hỏi chủ quyền đối với những hòn đảo nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của họ. Tình trạng này tạo ra sự chồng chéo về tham vọng của Hà Nội và Manila. Và các yêu sách chồng chéo này tạo ra sự cạnh tranh giữa hai nước.RFI : Phán quyết của Tòa Trọng Tài Thường Trực La Haye (PCA) áp dụng được như nào đối với những tuyên bố chủ quyền của Việt Nam ? Laurent Gédéon : Để hiểu phán quyết của Tòa Trọng Tài Thường Trực La Haye liên quan như nào đến Việt Nam, cần phải nhắc lại là Hà Nội khẳng định chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa chủ yếu dựa trên những lập luận lịch sử, trong đó có kiến ​​thức cổ xưa khẳng định sự tồn tại của hai quần đảo này là do ngư dân Việt Nam thường xuyên lui tới.Tuy nhiên, nếu như Việt Nam có thể chứng minh được rằng quần đảo Hoàng Sa được hoàng đế Gia Long trực tiếp quản lý vào năm 1816, sau đó được hoàng đế Minh Mạng xác nhận vào năm 1833 thì đối với quần đảo Trường Sa lại khó hơn. Cần nhớ rằng Pháp tuyên bố quần đảo Trường Sa là “vùng đất vô danh” (terra nullius) vào tháng 09/1930 khi chiếm hữu chúng và sau này mới trao lại cho chính quyền Việt Nam. Đọc thêm : Đưa vấn đề Biển Đông ra PCA: Việt Nam thận trọng cân nhắc thiệt, hơnNgoài ra, còn có một điểm khác cần nêu lên trước khi đề cập đến yêu sách chủ quyền của Việt Nam, đó là phán quyết của Tòa Trọng Tài Thường Trực La Haye ngày 12/07/2016 chú ý đến hai điểm rất quan trọng.Thứ nhất, Tòa nhấn mạnh đến tính vô hiệu các quyền lịch sử. Tòa cho rằng kể cả Trung Quốc cũng khẳng định có các quyền lịch sử đối với tài nguyên ở các vùng biển ở Biển Đông nhưng các quyền này đã bị vô hiệu vì chúng không phù hợp với các vùng đặc quyền kinh tế được quy định trong Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển (UNCLOS 1982, còn gọi là công ước Montego Bay). Như vậy, rõ ràng là tòa đã vô hiệu hóa về mặt pháp lý “đường 9 đoạn” của Bắc Kinh.Điểm quan trọng thứ hai trong phán quyết, đó là không công nhận các đá ngầm là đảo. Điều 121 của UNCLOS khẳng định “những đá ngầmkhông thích hợp cho con người tựsinh sống hoặc không có đời sống kinh tế riêng sẽ không có vùng đặc quyền kinh tế hoặc thềm lục địa”. Khi viện dẫn điều này, Tòa Trọng Tài đã nêu rõ rằng “những cấu trúc nổi khi thủy triều lên cao tạo ra quyền ít nhất đối với lãnh hải 12 hải lý trong khi cấu trúc chìm khi thủy triều lên cao sẽ không tạo ra quyền như vậy”.Nói một cách khác, một đá ngầm với các điều kiện tự nhiên của chúng không thể trở thành một đá và càng không thể được coi là đảo theo luật pháp quốc tế. Điều này áp dụng đối với cả trường hợp Trung Quốc đã bồi đắp để một số thực thể ngầm nổi lên mặt nước. Chỉ tình trạng tự nhiên ban đầu mới có giá trị về luật. Nhìn từ lập trường của Tòa, những công trình bồi đắp do Bắc Kinh tiến hành ở Biển Đông không tạo ra các vùng đặc quyền kinh tế và càng không thể có thềm lục địa quanh những hòn đảo nhân tạo này. Tóm lại, theo Tòa Trọng Tài Thường Trực, chỉ có những vùng đặc quyền do bờ biển của các nước tạo ra là hợp pháp.Tuy nhiên, phán quyết của Tòa lại đặt ra vài vấn đề cho Việt Nam. Thứ nhất về các vùng đặc quyền kinh tế (EEZ), bởi vì khác với Trung Quốc, Việt Nam không phản đối thẩm quyền của Tòa Trọng Tài Thường Trực liên quan đến Biển Đông. Việt Nam công nhận tính hợp lệ của vùng đặc quyền kinh tế và tuyên bố quyền kiểm soát các vùng đặc quyền kinh tế của mình. Chúng ta nhớ rằng Hà Nội đã kịch liệt phản đối bất kỳ hành động thăm dò nào của tàu Trung Quốc diễn ra trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, như trường hợp của tầu Hải Dương 8 vào tháng 07/2019. Hệ quả là Việt Nam khó có thể phản đối Manila kiểm soát vùng đặc quyền kinh tế của Philippines cho dù bao gồm một số đảo thuộc quần đảo Trường Sa mà Việt Nam tuyên bố chủ quyền. Đọc thêm : Hà Nội nêu đích danh tàu Trung Quốc xâm phạm vùng biển Việt NamKhó khăn thứ hai liên quan đến các đảo. Giả sử có một điều lệ cho phép Việt Nam giữ chủ quyền đối với các đảo ở quần đảo Trường Sa, phán quyết của Tòa cũng quy định rằng việc đó sẽ không bao giờ tạo ra vùng đặc quyền kinh tế. Điều này sẽ hạn chế khả năng tận dụng lợi thế của Việt Nam.Khó khăn thứ ba liên quan đến tuyên bố chủ quyền đối với toàn bộ quần đảo Trường Sa. Vì lập luận của Việt Nam tương tự với Trung Quốc, có nghĩa là những bằng chứng lịch sử, nên giả sử Hà Nội viện đến Tòa Trọng Tài Thường Trực thì Tòa cũng sẽ không ra phán quyết có lợi cho họ. Điều này khiến Việt Nam rơi vào tình trạng bế tắc pháp lý. Cho nên nếu muốn duy trì yêu sách và được luật pháp quốc tế công nhận, Việt Nam sẽ không có lựa chọn nào khác ngoài việc xem xét lại lập luận của mình để đưa ra những yếu tố mới được chấp nhận về mặt pháp lý.RFI : Việt Nam luôn tuyên bố chủ quyền đối với toàn bộ quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa. Việt Nam sẵn sàng « nhân nhượng » phần nào với Philippines ? Laurent Gédéon : Về yêu sách chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa có lẽ Việt Nam phải đàm phán trực tiếp với Trung Quốc trong bối cảnh cán cân vô cùng bất lợi cho Việt Nam, song đòi hỏi chủ quyền của Hà Nội đối với quần đảo Trường Sa còn phức tạp hơn nhiều, do nhiều yếu tố : Khó lập được mối liên hệ lịch sử rõ ràng của Việt Nam với Trường Sa, có nhiều nhân tố liên quan, khoảng cách địa lý không đều giữa các quốc gia với quần đảo không hẳn có lợi cho những nước nằm ở xa nhất, như trường hợp Việt Nam.Nếu bám vào khuôn khổ pháp lý mà chúng ta đã đề cập thì Việt Nam khó có thể bỏ qua đàm phán với Philippines. Nếu các cuộc đàm phán như vậy diễn ra một ngày nào đó, rất có khả năng là chúng sẽ dẫn đến việc chia sẻ các vùng chủ quyền. Thực vậy, Việt Nam khó có thể phản đối giá trị pháp lý của những tuyên bố chủ quyền của Philippines đối với các đảo nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của nước này, trừ khi đi ngược lại với luật pháp quốc tế - điều mà Hà Nội vẫn dựa vào đó để khẳng định vùng đặc quyền kinh tế mình, như chúng ta đã đề cập ở trên. Đọc thêm :Biển Đông: Việt Nam trước áp lực của Trung Quốc về đàm phán song phươngNgoài ra còn phải bổ sung thêm một điểm quan trọng về địa-chính trị. Chúng ta thấy từ vài năm nay, căng thẳng gia tăng thường xuyên ở khu vực Đài Loan. Hoa Kỳ gia tăng ủng hộ hòn đảo, đồng thời củng cố các thỏa thuận quân sự với Manila, cho phép Mỹ tiếp cận 9 căn cứ của Philippines. Trước tình hình đó, Trung Quốc liên tục nỗ lực cải thiện năng lực quân sự và thường xuyên đe dọa can thiệp vũ trang vào Đài Loan. Đến lúc nào đó, tình hình ngày càng căng thẳng này có thể sẽ dẫn tới xung đột.Trong trường hợp xảy ra xung đột Đài Loan, nếu như không có gì cho thấy Biển Đông sẽ bị ảnh hưởng trực tiếp thì Philippines gần như chắc chắn sẽ có liên quan trực tiếp. Giả sử cuộc xung đột này khiến Trung Quốc yếu đi, Philippines có thể được lợi từ việc sát cánh với Hoa Kỳ, có nghĩa là Washington sẽ ủng hộ về ngoại giao đối với các yêu cầu chủ quyền của Manila. Điều này có thể sẽ xảy ra ngay cả khi lập trường chính thức của Hoa Kỳ là không đứng về bên nào trong tranh chấp chủ quyền quần đảo. Do đó có thể thấy lợi ích của một thỏa thuận sớm giữa Philippines và Việt Nam vì nếu không, vị thế cũng lợi ích của Việt Nam có thể bị suy yếu trong trường hợp xảy ra xung đột.RFI : Một thỏa thuận như vậy có thể coi là bí mật quốc gia, như Việt Nam và Trung Quốc - hai nước có hệ thống chính trị tương đồng, đã áp dụng. Tuy nhiên với Philippines thì lại khác, thỏa thuận có thể được công bố. Trong trường hợp đó, Việt Nam sẽ phải vận động người dân như thế nào trong khi Hà Nội luôn khẳng định chủ quyền đối với cả Hoàng Sa và Trường Sa ?Laurent Gédéon : Theo tôi, khó hình dung ra được là có thể giữ bí mật một thỏa thuận như vậy nếu xét tới bối cảnh chính trị - xã hội rất khác nhau giữa Việt Nam và Philippines. Tôi nghĩ là nếu có một thỏa thuận như vậy, chính quyền Việt Nam cần giảng giải cho người dân bằng cách nhấn mạnh đến việc phân chia các vùng chủ quyền sẽ không gây tổn hại đến lợi ích kinh tế và chiến lược của đất nước và sẽ tạo ra những lợi thế vồn không thể có được trong cảnh bế tắc.Ngoài ra, không có gì cấm hình dung rằng một thỏa thuận chính thức về việc phân chia chủ quyền có thể được bổ sung thêm các thỏa thuận khác cho phép hai nước sử dụng chung một số nguồn tài nguyên. Nếu mối quan hệ giữa Hà Nội và Manila là đáng tin cậy thì điều này có thể thực hiện được và sẽ cho phép dư luận Việt Nam hiểu rõ hơn về lợi ích của một cuộc đàm phán như vậy.Đó là sự đảo ngược hoàn toàn những phát biểu hiện nay, mà theo tôi, để làm được việc này đòi hỏi quyết tâm chính trị rõ ràng và cần một quá trình chuẩn bị trước kỹ lưỡng, lâu dài bởi vì dư luận Việt Nam sẽ phải mất vài năm để quen với cách nhìn nhận khác về quần đảo Trường Sa cùng với những thách thức liên quan đến chủ quyền Trường Sa. Nhưng tôi nghĩ là điều này có thể sẽ thuận lợi bởi lập trường của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa, ngược lại sẽ không thay đổi.RFI : Các cuộc tập trận gần đây giữa Philippines và các nước Mỹ, Nhật Bản, Úc ở Biển Đông nhằm thể hiện cứng rắn trước những hành động quấy rối và yêu sách của Trung Quốc. Tuy nhiên, việc này cũng có tác động phần nào đến Việt Nam, một bên có tranh chấp chủ quyền ở trong vùng ?Laurent Gédéon : Đúng vậy, những sự kiện này có tác động rõ ràng đối với Việt Nam. Từ nhiều năm nay, Hoa Kỳ tìm cách tập hợp các nước trong vùng phản đối những yêu sách hàng hải của Bắc Kinh trong một cấu trúc an ninh do Washington điều hành. Nhưng cho đến giờ, Hà Nội vẫn không muốn tham gia một cơ chế như vậy. Nhưng trên bình diện địa-chính trị, hoàn toàn có thể tự hỏi là Hà Nội sẽ được gì khi xích lại gần với Hoa Kỳ trong trường hợp Mỹ-Trung xảy ra xung đột.Đây là một ván cược. Việc đặt cược vào thắt chặt quan hệ chiến lược Mỹ-Việt rõ ràng là đầy gay góc với Hà Nội với hai khả năng có thể xảy ra. Trường hợp thứ nhất, Trung Quốc ra khỏi xung đột ở thế mạnh. Trong giả thuyết này, nếu sát cánh quá lộ liễu với Washington, Việt Nam có nguy cơ phải trả giá, nhất là về kinh tế - lĩnh vực vốn kết nối chặt chẽ hai nước.Ở giả thuyết thứ hai, Trung Quốc thoát khỏi xung đột trên thế yếu. Trong trường hợp này, Việt Nam có thể được lợi từ cuộc xung đột, kể cả đối quần đảo Hoàng Sa. Còn đối với quần đảo Trường Sa, Hà Nội vẫn không thể không đàm phán với Manila. Nhưng cuộc đàm phán này có thể sẽ cân bằng hơn và Hoa Kỳ có thể sẽ đóng vai trò trọng tài hơn là ủng hộ Manila. Do đó, theo tôi, Hà Nội sẽ phải tính toán tỉ lệ thiệt/hơn khi sát cánh với Washington. Đọc thêm : Biển Đông: Philippines tăng cường liên minh với Mỹ, Nhật, ÚcTóm lại, dù là với bất kỳ kịch bản nào, chính sách thận trọng và giữ khoảng cách của Hà Nội, hợp lý trong bối cảnh hiện tại, có lẽ sẽ phản tác dụng trong trường hợp nổ ra xung đột và có điều chỉnh lớn về cân bằng địa chính trị trong vùng.Điều gần như chắc chắn là hiện nay, căn cứ vào lập trường bất di bất dịch của Bắc Kinh về Biển Đông và nhìn vào chiến lược kiềm chế Trung Quốc của Mỹ, Việt Nam có lẽ không có cơ hội nào giành lại chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa thông qua việc đàm phán với nước láng giềng và trong mọi trường hợp sẽ rơi vào thế yếu trước Philippines về Trường Sa nếu như không có đàm phán trước với Manila hoặc xích lại gần với Washington.Do đó, chừng nào những vấn đề này được Hà Nội coi là một thách thức quan trọng, tôi cho rằng việc cần điều chỉnh các trục ngoại giao của Việt Nam có lẽ việc cần thiết để nâng cao vị thế và những tuyến bố chủ quyền của Việt Nam trong trung hạn.RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn nhà nghiên cứu Laurent Gédéon, giảng viên Trường Sư phạm Lyon. 
10/2/202312 minutes, 45 seconds
Episode Artwork

Việt Nam và Mỹ tăng cường hợp tác trong lĩnh vực bán dẫn

Nhân chuyến viếng thăm của tổng thống Mỹ Joe Biden tại Việt Nam hai ngày 10 và 11/09, Washington và Hà Nội đã nâng cấp quan hệ song phương lên thành “Đối tác chiến lược toàn diện”. Đặc biệt, trong bản tuyên bố về nâng cấp quan hệ, hai nước đã thiết lập “Quan hệ đối tác mới về bán dẫn nhằm hỗ trợ phát triển chuỗi cung ứng bán dẫn bền vững, linh hoạt cho doanh nghiệp, người tiêu dùng và người lao động Hoa Kỳ”. Theo bản tuyên bố, Hoa Kỳ công nhận "tiềm năng của Việt Nam với vai trò quan trọng trong việc thiết lập chuỗi cung ứng bán dẫn”. Trong khuôn khổ Quỹ Đổi mới sáng tạo và An ninh Công nghệ Quốc tế (Quỹ ITSI), Hoa Kỳ sẽ hợp tác với Việt Nam “để phát triển hơn nữa hệ sinh thái bán dẫn, khung pháp lý, cũng như lực lượng lao động và nhu cầu phát triển cơ sở hạ tầng hiện nay của Việt Nam.”Nói chung, Mỹ có kế hoạch biến Việt Nam thành cường quốc về chip bán dẫn và giúp Việt Nam đa dạng hóa chuỗi cung ứng chất bán dẫn. Nhưng vấn đề là Việt Nam phải cấp tốc đào tạo một đội ngũ chuyên gia, kỹ sư để đáp ứng nhu về nhân lực của ngành này.RFI Tiếng Việt phỏng vấn chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan về vấn đề này.RFI: Thưa chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan, hợp tác giữa Hoa Kỳ và Việt Nam trong lĩnh vực bán dẫn quan trọng đến mức đã được lãnh đạo hai nước nêu lên ngay trong phần đầu tiên của bản tuyên bố về nâng cấp quan hệ lên thành “đối tác chiến lược toàn diện”. Vậy theo bà, vì sao Hoa Kỳ đánh giá Việt Nam là một quốc gia "có tiềm năng lớn" để tham gia vào chuỗi cung ứng bán dẫn cho ngành công nghiệp Mỹ?Phạm Chi Lan: Chắc phía Mỹ cũng đã căn cứ vào việc theo dõi sự phát triển của Việt Nam trong những năm gần đây, đặc biệt là từ khi tập đoàn Intel vào Việt Nam năm 2003 để đầu tư vào dự án đầu tiên về công nghệ cao ở Việt Nam. Vào thời gian đó, Intel đã bỏ ra mấy năm trời để đàm phán với Việt Nam, tham khảo rất kỹ thị trường Việt Nam về các mặt, làm việc với chính phủ trung ương, với chính quyền các cấp, các bộ ngành liên quan, kể cả với các trường, là những nơi đào tạo nguồn nhân lực, rồi mới đi đến quyết định đó.Lúc đó tôi có được thủ tướng Phan Văn Khải đưa vào tổ công tác đặc biệt để làm việc với Intel, đứng đầu là ông Nguyễn Mại, từng là phó chủ nhiệm Ủy ban nhà nước về đầu tư, rất thông thạo về đầu tư nước ngoài. Chúng tôi đàm phán với Intel trên cơ sở là xem xét tất cả các yêu cầu của Intel, đối chiếu với khả năng của Việt Nam, xem có thể đáp ứng được gì. Bất cứ những gì mà trong phạm vi quyền hạn của chính phủ có thể tạo điều kiện được, thì theo chỉ đạo của thủ tướng Phan Văn Khải,  chúng tôi cố gắng làm tối đa. Thậm chí có những gì luật chưa quy định rõ thì chính phủ có thể đề nghị thêm với Quốc Hội để làm rõ về pháp luật, để từ đó Intel có thể đầu tư vào Việt Nam. Còn về những mặt mà Việt Nam còn thiếu hụt, như nguồn nhân lực, thì thúc đẩy các trường cố gắng đáp ứng được cho Intel.Chính vì thấy năng lực và thiện chí của phía Việt Nam tích cực giải quyết các vấn đề như vậy, cho nên Intel đã quyết định chọn Việt Nam trong, khi họ có 3 sự lựa chọn khác đang cân nhắc trong khu vực: Hàng Châu ( Trung Quốc ), Thái Lan và Ấn Độ. Cả ba đều có ưu thế so với Việt Nam, nhưng cuối cùng Intel chọn Việt Nam. Sau Intel, các tập đoàn công nghệ của các nước, nhất là Nhật Bản và Hàn Quốc, đã vào Việt Nam khá nhiều. Các công ty Hoa Kỳ trong những năm gần đây cũng đã quan tâm và có nhiều cuộc trao đổi với Việt Nam. Như vậy, càng ngày càng thấy rõ hơn khả năng của Việt Nam trong ngành công nghiệp như điện tử, mà điển hình là thành công của Samsung ở Việt Nam, có thể cho thấy Việt Nam có năng lực về lĩnh vực này. Trong những năm gần đây, lực lượng lao động của Việt Nam, với những người trẻ, đi học ở các nước rất nhiều, kể cả Hoa Kỳ, Nhật Bản, Úc, Hàn Quốc, các nước châu Âu, tức là những nước có nền tảng công nghệ cao. Từ đó, Việt Nam có cả một lực lượng những người trẻ là một nguồn nhân lực bổ sung rất tốt cho Việt Nam.Trong nước cũng vậy, ở các trường, nhiều em học sinh trẻ tham gia vào các ngành công nghệ thông tin cũng như công nghiệp điện tử đang chiếm tỷ lệ ngày càng cao. RFI: Thưa bà Phạm Chi Lan, có một vấn đề mà nhiều chuyên gia đã nêu lên đó là tình trạng thiếu nhân lực cho các ngành công nghệ cao như bán dẫn. Chủ tịch của tập đoàn FPT, ông Trương Gia Bình đã cho biết là Việt Nam cần phải đào tạo gấp từ 30.000 đến 50.000 chuyên gia bán dẫn để đáp ứng nhu cầu của ngành này. Theo bà thì liệu Việt Nam có thể nhanh chóng giải quyết tình trạng thiếu hụt nhân lực đó?Phạm Chi Lan: Các tập đoàn về công nghệ cũng thường hay nói như vậy. Nhưng trên thực tế, một khi đã có hướng rõ ràng, có nhà đầu tư vào làm, cần nguồn nhân lực trong lĩnh vực này, thì nguồn nhân lực đó ở Việt Nam có thể xuất hiện nhanh chóng trong vòng vài năm. Trong thời gian xây dựng nhà máy, chuẩn bị các cơ sở vật chất, những người muốn tham gia gia vào ngành đó sẽ tự chuẩn bị cho họ, ráo riết đi học cho kịp thời gian. Đó cũng là cơ hội công việc với tương lai tốt mà họ đã khát khao chờ đợi từ lâu. Họ sẽ không bỏ lỡ thời cơ. Các doanh nghiệp có thể yên tâm là Việt Nam sẽ nhanh chóng đáp ứng được.Những con số như ông Trương Gia Bình đưa ra thì cũng có cơ sở thôi, nhưng đó là bởi vì lâu nay ở Việt Nam đã có doanh nghiệp nào thật sự làm trong lĩnh vực này đâu! Chưa có ai đặt ra nhu cầu về nhân lực với một tiến độ rõ ràng: bao giờ cần, cần một nguồn nhân lực như thế nào. Nếu có nhà đầu tư nào đưa ra như vậy thì cái sự sẵn sàng đó sẽ cao hơn.Tôi nghĩ là thật ra các trường cũng đã học được bài học đầu tiên từ việc Intel vào Việt Nam. Tôi nhớ mãi lúc ấy Intel đã gặp 7 trường ở Sài Gòn để tìm khoảng 2.000 người làm việc cho Intel, nhưng trong đợt đầu tiên chỉ tuyển chọn được 90 người, số còn lại thiếu về mặt này hay mặt  khác, hoặc về tiếng Anh, hoặc là về kỹ năng chuyên môn, cần thời gian đào tạo thêm. Nhưng đó là khi họ vừa bước chân vào, đang chuẩn bị nhà máy, nhưng sau đó, khi hình thành nhà máy thì dần dần Intel có đủ nguồn nhân lực cần thiết.Samsung sau này cũng vậy: Khi chính phủ khuyến khích Samsung lập cơ sở R&D ( Nghiên cứu và Phát triển ) ở Việt Nam, ban đầu họ cũng có chút ngần ngại, không biết có đủ nguồn nhân lực không. Nhưng bây giờ khi cơ sở đó hình thành thì nguồn nhân lực đó ở Việt Nam đã có đầy đủ, sẵn sàng làm việc cho Samsung. RFI: Thưa bà Phạm Chi Lan, ý định của Hoa Kỳ rõ ràng biến Việt Nam thành một nơi cung ứng sản phẩm bán dẫn cho thị trường Mỹ, nhằm bớt phụ thuộc vào nguồn cung ứng của Trung Quốc. Nhưng phải làm sao để Việt Nam không tiếp tục chỉ là một nơi sản xuất hàng hóa cho nước khác, tức là phải làm sao bảo đảm việc chuyển giao công nghệ thông qua hợp tác với Mỹ, để Việt Nam có thể dần dần nâng cao giá trị của nền kinh tế trong chuỗi cung ứng quốc tế?Phạm Chi Lan: Tôi nghĩ là phía Việt Nam đã thấm bài học của việc thu hút đầu tư nước ngoài trong mấy chục năm qua. Rất nhiều dự án đầu tư ban đầu đều cam kết chuyển giao công nghệ, nhưng trên thực tế không làm được bao nhiêu. Tổng kết 30 năm đầu tư nước ngoài ở Việt Nam, hay nghị quyết về FDI của Bộ Chính trị của khóa 12 cũng đã nêu lên khá rõ điều đó và đã yêu cầu có những chỉnh sửa để làm sao thu hút được chuyển giao công nghệ, đòi hỏi được các nhà đầu tư đã cam kết chuyển giao công nghệ phải thực hiện cam kết của họ thì mới được nhận ưu đãi. Đây không chỉ là yêu cầu lớn   của các lãnh đạo mà còn của người dân Việt Nam, nhất là những người trẻ. Họ sẽ không chấp nhận Việt Nam chỉ là nơi cung cấp lao động giá rẻ, chuyên làm thuê cho bên ngoài. Bây giờ gia đình những người trẻ ở Việt Nam rất chịu khó cho con em đi học ở các nơi để tiếp nhận các nguồn công nghệ, các kỹ năng tốt hơn, cũng với mục tiêu là sau này về các em sẽ làm những vị trí khác so với trước và có thể tham gia vào quá trình đổi mới, sáng tạo của chính người Việt Nam. Chẳng hạn như bạn Lương Việt Quốc đã về lập công ty RealTime Robotics, chế tạo những drone rất thành công ở Việt Nam, với những kỹ sư trè hoàn toàn được đào tạo ở Việt Nam, tạo những tấm gương rất tốt cho những người trẻ ở Việt Nam, chứng minh Việt Nam có thể tự mình nghiên cứu làm chủ được các sáng tạo công nghệ. Trong giai đoạn hiện nay của sự phát triển, rõ ràng Việt Nam vẫn cần tham gia tiếp vào chuỗi cung ứng trên toàn cầu và với một vị trí tốt hơn, cao hơn so với trước đây là chỉ làm trên cơ sở lao động giá rẻ, kỹ năng rất thấp và giá trị gia tăng không bao nhiêu, rồi tiến dần đến việc người Việt Nam làm chủ được một số lĩnh vực.RFI: Như vậy, theo bà, Việt Nam có thể tận dụng được những thế mạnh của Hoa Kỳ để xây dựng một ngành công nghiệp bán dẫn trình độ cao?Phạm Chi Lan: Hoa Kỳ có thế mạnh rất lớn, kỹ năng rất lớn và cách thức chuyển gao công nghệ của Hoa Kỳ cũng có những cái cởi mở và rõ ràng hơn so với một số quốc gia khác, cho nên tôi tin là sẽ làm được. Tôi nghĩ là các công ty Hoa Kỳ đến Việt Nam với một tinh thần hợp tác tốt và nhất là hiệp định mới có cam kết nhất cả ở cấp nhà nước với nhau, chắc chắn sẽ tạo thuận lợi cho các công ty, các doanh nghiệp và cá nhân những người lao động, những người trẻ tham gia vào quá trình cũng sẽ biết cách làm việc với nhau để tạo được lợi ích cao nhất cho cả hai bên. 
9/25/202310 minutes, 37 seconds
Episode Artwork

Thêm Việt Nam, Mỹ mở rộng mạng lưới đối trọng với Trung Quốc ở Biển Đông

Việt Nam là nước tiếp theo trong ASEAN thắt chặt quan hệ với Hoa Kỳ trong bối cảnh Bắc Kinh không ngừng hăm dọa, bành trướng ở Biển Đông, bằng chứng mới nhất là Bản đồ tiêu chuẩn năm 2023 của bộ Tài Nguyên Thiên Nhiên Trung Quốc giúp lãnh thổ nước này « phình » thêm. Quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện Việt - Mỹ được tổng thống Joe Biden coi là « bước đi vô cùng thiết yếu đối với hai nước », « vào lúc chúng ta phải đương đầu với thách thức có tác động lớn tới quan hệ trong khu vực và trên thế giới ».Chính sự hung hăng, cậy nước lớn của Trung Quốc khiến nhiều nước Đông Nam Á (Philippines, Việt Nam, Indonesia) có tranh chấp chủ quyền với Bắc Kinh ở Biển Đông phải thắt chặt hợp tác với bên thứ ba (Nhật Bản, Hàn Quốc, Úc, Ấn Độ, Mỹ) để thể hiện quyết tâm răn đe trước những đòi hỏi chủ quyền ngày càng lớn của nước láng giềng khổng lồ nhưng cũng là đối tác thương mại quan trọng.Việt - Mỹ : Hai nước cựu thù thành đối tác chiến lượcNgày 10/09/2023 đánh dấu cột mốc lịch sử cho quan hệ song phương Mỹ-Việt. Tổng thống Joe Biden công du Hà Nội theo lời mời của tổng bí thư đảng Cộng Sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng. Hai nhà lãnh đạo ra Tuyên bố chung về nâng cấp quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ lên Đối tác Chiến lược Toàn diện. Sau 50 năm, cựu thù Mỹ trở thành một trong 5 nước hàng đầu trong hệ thống phân cấp quan hệ đối ngoại chính thức của Việt Nam.Trả lời RFI Tiếng Việt qua thư điện tử ngày 11/09, giáo sư Alexander Vuving, Trung tâm Nghiên cứu An ninh châu Á-Thái Bình Dương Daniel K. Inoue (DKI APCSS) tại Hawaii, Hoa Kỳ đánh giá về tầm quan trọng và lợi ích của thỏa thuận quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện đối với hai nước :« Quan hệ đối tác chiến lược toàn diện giữa Hoa Kỳ và Việt Nam sẽ nâng Hoa Kỳ lên vị trí hàng đầu trong hệ thống phân cấp quan hệ đối ngoại chính thức của Việt Nam. Nó cũng sẽ nâng Mỹ lên ngang hàng với Trung Quốc và Nga trong hệ thống phân cấp này. Sự « cân bằng » giữa các cường quốc này là điều chưa từng có trong lịch sử nước Việt Nam cộng sản. Có một quy tắc bất thành văn về cấp cao nhất trong hệ thống phân cấp quan hệ đối ngoại của Việt Nam là nó được dành cho những quốc gia không gây ra mối đe dọa nào đối với sự lãnh đạo của đảng Cộng Sản ở Việt Nam. Nâng Hoa Kỳ lên hàng đầu này, Hà Nội cho thấy rằng họ không còn coi Washington là mối đe dọa đối với chế độ của mình. Mối quan hệ hợp tác được nâng cao giữa Hoa Kỳ và Việt Nam sẽ phần nào khắc phục cán cân quyền lực trong vùng ở Đông Nam Á, bao gồm cả Biển Đông. Khi Hoa Kỳ coi Việt Nam là một « quốc gia xoay trục » ở châu Á, mối quan hệ đối tác được nâng cao với Việt Nam sẽ tạo ra sự cân bằng quyền lực thuận lợi hơn (hoặc ít bất lợi hơn) cho Washington ở vùng Ấn Độ-Thái Bình Dương ». Đọc thêm :Việt Nam và Mỹ cảnh báo việc "sử dụng vũ lực" ở Biển ĐôngTheo nhật báo New York Times, trong suốt chuyến thăm cấp Nhà nước của nguyên thủ Mỹ, cả hai nhà lãnh đạo không trực tiếp nhắc đến Trung Quốc khi phát biểu. Thế nhưng, chính Trung Quốc là lý do ngầm để Mỹ-Việt quyết định nâng cấp quan hệ song phương trong bối cảnh tổng thống Biden cố thiết lập một mạng lưới đối tác trong vùng để ngăn cản hành động hung hăng của Bắc Kinh.Việt Nam rõ ràng sẵn sàng mạo hiểm chọc giận Bắc Kinh bằng cách nâng cao mối quan hệ với Washington. Tại sao Hà Nội lại làm như vậy ? Giáo sư Alexander Vuving phân tích :« Sự quyết đoán ngày càng tăng của Bắc Kinh ở Biển Đông, cùng với ảnh hưởng của họ ngày càng tăng ở Cam Bốt và Lào, đã khiến Việt Nam không có « chiều sâu chiến lược ». Việc Việt Nam nâng cao mối quan hệ với Hoa Kỳ là một phản ứng trước tình hình này. Nó sẽ tạo ra một đối trọng phù hợp hơn với Trung Quốc. Để giảm thiểu nguy cơ chọc giận Trung Quốc, Việt Nam đã thực hiện chiến dịch ngoại giao nhằm trấn an Bắc Kinh. Chuyến thăm Trung Quốc của người đứng đầu đảng Cộng Sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng năm ngoái (2022) đã phá vỡ quy định kéo dài hàng chục năm rằng điểm đến đầu tiên ở nước ngoài của một người đứng đầu đảng Cộng Sản Việt Nam sau khi đắc cử hoặc tái tranh cử tại Đại hội đảng Cộng Sản Việt Nam là Lào chứ không phải Trung Quốc. Hai tuần trước chuyến thăm Việt Nam của Biden, ông Nguyễn Phú Trọng đã tới cửa khẩu (Hữu Nghị) với Trung Quốc, gặp đại sứ Trung Quốc và ca ngợi tình hữu nghị với Trung Quốc. Một tuần trước chuyến thăm của Biden cũng chứng kiến ​​hai sự kiện khác trong quan hệ Việt-Trung : Bí thư Đảng Cộng sản Trọng tiếp ông Lưu Kiến Siêu, trưởng ban liên lạc đối ngoại trung ương đảng cộng sản Trung Quốc, và hai bộ trưởng quốc phòng Việt Nam và Trung Quốc gặp nhau tại biên giới Trung-Việt ». Đọc thêm : Báo chí Trung Quốc: Chuyến thăm Việt Nam của TT Mỹ "chỉ mang tính tượng trưng"Ngày 05/09, khi tiếp Lưu Kiến Siêu, trưởng ban Đối ngoại đảng Cộng Sản Trung Quốc, ông Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh luôn luôn « coi trọng và ưu tiên hàng đầu phát triển quan hệ Việt-Trung ». Chính những hoạt động « trấn an », « xoa dịu » này là cơ sở để giới chuyên gia Trung Quốc cố giảm thiểu tầm quan trọng của sự kiện Mỹ-Việt nâng cấp quan hệ lên hàng Đối tác Chiến lược Toàn diện. Ngay khi ông Trọng và ông Biden ra tuyên bố nâng cấp quan hệ song phương, Hoàn Cầu thời báo đã đăng nay một bài nhận định của các chuyên gia Trung Quốc cho rằng Việt Nam sẽ không « đi quá xa » vì nước này không đặt quan hệ Trung-Việt làm đối trọng với quan hệ Mỹ-Việt. Trong ngày công du thứ hai của tổng thống Biden, cũng Hoàn Cầu thời báo trích nhận định của chuyên gia Hu Xijin cho rằng « Washington không nên kỳ vọng biến Việt Nam thành Philippines thứ hai ».Nhiều nước Đông Nam tìm đến Mỹ để làm đối trọng với Trung QuốcPhilippines là nước thay đổi thái độ rõ ràng và triệt để kể từ khi ông Ferdinand Marcos Jr. trở thành tổng thống, khác với những lo ngại trước đó của giới chuyên gia về quá khứ thân Trung Quốc của dòng họ Marcos. Trong chuyến công du Washington của tân tổng thống Philippines, ông Joe Biden khẳng định cam kết của Mỹ trong việc bảo vệ đồng minh, kể cả ở Biển Đông, là « vững chắc như thép ».Quân đội Mỹ được tiếp cận tổng cộng 9 căn cứ của Philippines. Quân đội hai nước thường xuyên tập trận chung thủy-lục-không quân, thêm vào đó là các cuộc tập trận đa phương cùng với các đồng minh và đối tác Úc, Nhật Bản, New Zealand, Ấn Độ. Ngoài quân sự, Mỹ và Philippines còn tăng cường hợp tác kinh tế, thúc đẩy phát triển công nghệ cao. Đọc thêm : Liên minh Mỹ-Nhật-Philippines đang được hình thành để đối phó với Trung Quốc?Trước đó, Washington đã đưa Seoul và Tokyo xích lại gần nhau hơn, ký các hiệp ước quốc phòng ở Thái Bình Dương. Có thể nói, Hoa Kỳ dường như đã đạt được một số thành công quan trọng ở châu Á trong năm 2023. Vậy bước tiếp theo của chính quyền Biden là gì để tiếp tục tăng cường liên minh ở châu Á vào thời điểm này ? Giáo sư Alexander Vuving phân tích :« Tại cuộc họp ASEAN gần đây nhất, Hoa Kỳ và Indonesia đã công bố ý định nâng quan hệ song phương lên « quan hệ đối tác chiến lược toàn diện ». Tôi nghĩ đây là một bước đi đúng hướng. Cả Việt Nam và Indonesia đều nằm trong số « các quốc gia xoay chiều » ở châu Á, do đó, điều quan trọng là Mỹ phải ngang hàng với Trung Quốc trong quan hệ đối ngoại của các quốc gia này. (Indonesia cũng là một « đối tác chiến lược toàn diện » của Trung Quốc.) Ngoài quan hệ song phương với các quốc gia chủ chốt trong khu vực, Washington phải thúc đẩy việc thành lập nhiều nhóm « tiểu phương » tập trung hợp tác trong một số lĩnh vực quan trọng như biến đổi khí hậu, khoáng sản chiến lược, chuỗi cung ứng, trí thông minh nhân tạo hoặc an ninh mạng. Ví dụ, Hoa Kỳ có thể bắt đầu một nhóm mới với các quốc gia có tầm quan trọng chiến lược, dễ bị tổn thương hơn trước biến đổi khí hậu như Việt Nam và Indonesia, cũng như các quốc gia có cùng quan điểm nhưng có đủ nguồn lực để chống lại biến đổi khí hậu như Nhật Bản, Đức hoặc Úc.Không nước thứ ba nào muốn đứng về phía nào trong cuộc cạnh tranh quyền lực lớn, nhưng hầu hết các nước trong khu vực đều rất cần sự hợp tác quốc tế trong nhiều lĩnh vực quan trọng cho sự thịnh vượng và an ninh của họ. Tận dụng những nhu cầu này của các nước trong khu vực là chìa khóa cho sự cạnh tranh giữa các cường quốc ». Đọc thêm : Thỏa thuận Việt Nam - Indonesia: Một hướng giải quyết tranh chấp Biển Đông?Vế an ninh luôn được Hoa Kỳ nhấn mạnh trong hợp tác với các đối tác trong vùng nhưng không phải là lĩnh vực duy nhất trong Chiến lược Ấn Độ-Thái Bình Dương công bố năm 2021. Chiến lược được coi là một « bước tiến lịch sử nhằm khôi phục vai trò lãnh đạo của Hoa Kỳ ở Ấn Độ-Thái Bình Dương, đồng thời điều chỉnh vai trò của mình cho phù hợp với thế kỷ 21 ». Theo trang web của Đại sứ quán Mỹ ở Việt Nam, năm 2022, « Hoa Kỳ đã tiến hành hiện đại hóa các liên minh lâu đời của mình, củng cố các mối quan hệ đối tác mới nổi, cũng như tạo dựng các liên kết mang tính sáng tạo cùng với các đồng minh và đối tác nhằm đối phó với những thách thức cấp bách, từ việc cạnh tranh với Trung Quốc cho tới biến đổi khí hậu và ứng phó với đại dịch ».Chính sách hung hăng của Trung Quốc bị phản tác dụng ?Trong khi Hoa Kỳ cố thể hiện là một đối tác « sẵn sàng hợp tác với mỗi nước », Trung Quốc lại quyết liệt bảo vệ chủ quyền, lợi ích bất chấp phản đối của các nước làng giềng, sự kiện mới nhất là Bản đồ tiêu chuẩn năm 2023 của bộ Tài Nguyên Thiên Nhiên Trung Quốc gồm « 10 đoạn », gộp hầu hết Biển Đông và cả Đài Loan, cùng với hai phần lãnh thổ có tranh chấp với Ấn Độ và kể cả phần diện tích của Nga trên hòn đảo Bolshoy Ussuiysky ở sông Amur. Đọc thêm : Việt Nam, Malaysia và Philippines phản đối bản đồ mới của Trung QuốcSự tự tin thái quá này lại gây phản tác dụng và càng tạo cớ chính đáng để Mỹ tăng cường hiện diện ở Biển Đông, theo phân tích ngày 12/09 của nhà nghiên cứu Pascal Boniface, người sáng lập Viện Nghiên cứu Chiến lược và Quan hệ Quốc tế (IRIS) :« Bản đồ này một lần nữa nhấn mạnh đến những đòi hỏi chủ quyền lãnh hải của Trung Quốc lại khiến các nước láng giềng quan ngại. Thực vậy, mong muốn khẳng định sức mạnh ngày càng quyết liệt của Trung Quốc lại dẫn đến hệ quả các nước láng giềng, lúc đầu có thể không quá lo lắng về sự trỗi dậy được coi là « ôn hòa » của Trung Quốc nhưng giờ cho rằng sự trỗi dậy đó không « ôn hòa » như Bắc Kinh khẳng định.Những quan ngại đó cuối cùng mang lại kết quả tức thì, đó là yêu cầu Mỹ « bảo trợ ». Hành động của Trung Quốc lại phần nào giúp tái hợp thức hóa cho sự gia tăng hiện diện của Mỹ theo yêu cầu của một số nước trong vùng. Ông Tập Cận Bình tự tin vào bản thân, tin vào quyền lực của ông, thượng đỉnh BRICS dường như củng cố thêm quyền lực cho ông. Ông có thể tự cho phép không đến dự thượng đỉnh G20 ở Ấn Độ. Nhưng chúng ta cũng tự hỏi liệu mong muốn mãnh liệt thúc đẩy sức mạnh Trung Quốc lại không gây phản tác dụng ngay đối với cả lợi ích của Trung Quốc. Nếu không tính đến những phản ứng của các nước láng giềng, không chú ý đến môi trường quốc tế thì Bắc Kinh cũng sẽ phải chịu những hạn chế trong quá trình trỗi dậy, trong khi điều đó không phải là chủ đích của ông. Thế nhưng, điều này ngày càng được thấy rõ và giúp hợp thức hóa tuyên bố, của nhiều nước trong vùng, coi Trung Quốc không phải là một cường quốc « ôn hòa » mà là một đối thủ, thậm chí là một mối đe dọa tiềm tàng ».
9/18/20239 minutes, 33 seconds
Episode Artwork

Thời điểm thích hợp để Việt Nam nâng cấp quan hệ với Mỹ

Nhân chuyến thăm Việt Nam của tổng thống Mỹ Joe Biden, hôm qua, 10/09/2023, Hà Nội và Washington đã nâng cấp quan hệ song phương lên thành “đối tác chiến lược toàn diện”, mức cao nhất trong hệ thống quan hệ đối ngoại của Hà Nội. Nếu như việc nâng cấp quan hệ vẫn là yêu cầu từ lâu của Hoa Kỳ, về phía Việt Nam, đây là một diễn tiến ngoạn mục, bởi cho đến gần đây Hà Nội vẫn rất ngần ngại thắt chặt hơn nữa bang giao với Mỹ, vì sợ phản ứng từ Trung Quốc.  Trả lời RFI Việt ngữ, nhà nghiên cứu Lê Hồng Hiệp, Viện Nghiên Cứu Đông Nam Á, Singapore, cho rằng thời điểm hiện nay là thích hợp để Việt Nam nâng cấp quan hệ với Mỹ mà không gặp trở ngại nào và cũng không gặp phản ứng mạnh từ phía Trung Quốc. Sau đây mời quý vị theo dõi bài phỏng vấn với nhà nghiên cứu Lê Hồng Hiệp. RFI: Xin chào anh Lê Hồng Hiệp. Trước hết theo anh, những lý do gì khiến Việt Nam nay mạnh dạn nâng cấp quan hệ với Mỹ sau một thời gian chần chừ:Lê Hồng Hiệp: Việc Việt Nam nâng cấp quan hệ với Mỹ thì có nhiều lý do. Thật sự Mỹ và Việt Nam xứng đáng là đối tác chiến lược toàn diện của nhau. Hiện tại Việt Nam đã thiết lập quan hệ đối tác chiến lược với bốn quốc gia là Nga, Trung Quốc, Ấn Độ và Hàn Quốc. So với các đối tác này thì Mỹ hoàn toàn là ngang tầm, thậm chí quan trọng hơn đối với Việt Nam về kinh tế và chiến lược. Chính vì vậy mà việc Việt Nam quyết định nâng cấp quan hệ với Mỹ lên đến mức ngang với các nước kia là hoàn toàn hợp lý. Ngoài ra, về mặt thời điểm, thứ nhất là hai nước đang kỷ niệm 10 năm quan hệ đối tác toàn diện, một thời điểm, một cái cớ rất phù hợp để hai bên có thể nâng cấp quan hệ mà không gây ra phản ứng từ các đối tác khác, đặc biệt là từ phía Trung Quốc.Thứ hai, về phía tính toán của Việt Nam, năm nay cũng là năm phù hợp, vì nếu Việt Nam chờ đợi thêm thì có thể có những yếu tố bất định mà Việt Nam không thể lường trước được. Ví dụ như năm sau, Mỹ sẽ bầu tổng thống, chúng ta không thể biết chắc chắn là chính quyền của Mỹ sẽ có gì thay đổi hay không, và nếu có thay đổi, thì liệu Việt Nam có còn là một ưu tiên trong chính sách đối ngoại của Mỹ hay không.Cạnh tranh Mỹ-Trung đang có xu hướng ngày càng gay gắt, nếu Việt Nam trì hoãn việc nâng cấp quan hệ với Mỹ, thì nếu trong tương lai, cạnh tranh Mỹ -Trung xấu đi, việc Việt Nam quyết định nâng cấp quan hệ với Mỹ có thể dẫn đến những phản ứng tiêu cực từ phía Trung Quốc, vì có thể bị xem là  chọn đứng về phía Mỹ để chống Trung Quốc.   Ngoài ra, còn có các lợi ích tiềm năng mà Việt Nam có thể mong đợi nhận được từ việc nâng cấp quan hệ, như là từ thương mại, đầu tư, công nghệ hay hợp tác chống biến đổi khí hậu và đặc biệt là những hỗ trợ của Mỹ trong lĩnh vực an ninh, quốc phòng.RFI: Ngược lại, đối với Hoa Kỳ, việc nâng cấp quan hệ với Việt Nam lên thành “đối tác chiến lược toàn diện” mang lại những mối lợi  gì?Lê Hồng Hiệp: Về kinh tế, Việt Nam đang có vai trò ngày càng quan trọng đối với Hoa Kỳ. Năm vừa rồi, Việt Nam đã trở thành đối tác thương mại lớn thứ bảy của Hoa Kỳ bên cạnh các đối tác lớn truyền thống của họ. Điều này càng trở nên rõ ràng hơn trong bối cảnh cạnh tranh Mỹ-Trung dẫn đến các mâu thuẫn về thương mại và đầu tư, dẫn đến việc nhiều công ty của Mỹ đã chuyển các cơ sở sản xuất của họ qua các nước khác, trong đó có Việt Nam, biến Việt Nam thành một mắt xích ngày càng quan trọng trong chuỗi cung ứng toàn cầu, phục vụ cho nền kinh tế Mỹ cũng như là các công ty đa quốc gia của Mỹ. Về mặt chiến lược, Việt Nam đóng vai trò ngày càng quan trọng trong khu vực, đặc biệt là trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược Mỹ-Trung, Mỹ-Nga ngày càng gay gắt. Hoa Kỳ coi Việt Nam ngày càng quan trọng trong tính toán của họ đối với việc xử lý quan hệ với Trung Quốc và Nga. Không thể biến Việt Nam thành đồng minh quân sự thì họ cũng muốn Việt Nam trở thành một đối tác có thể hỗ trợ các mục tiêu chiến lược của Mỹ, hoặc bằng mọi cách ngăn Việt Nam ngả về phía Trung Quốc hay Nga và qua đó tạo ưu thế chiến lược cho Mỹ và các đồng minh trong việc ứng phó với các đối thủ chiến lược này.Việc nâng cấp quan hệ với Việt Nam cũng phù hợp với tầm nhìn về Ấn Độ-Thái Bình Dương của chính quyền Biden, vốn ưu tiên phát triển quan hệ với các nước chủ chốt trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương, trong đó có Việt Nam, Indonesia hay Singapore…RFI: Trong một thời gian dài Việt Nam đã rất ngần ngại nâng cấp quan hệ với Mỹ vì sợ phản ứng của Trung Quốc. Nay Hà Nội đã quyết định nâng quan hệ lên thành “đối tác chiến lược toàn diện”, chắc là Việt Nam đã có lường trước phản ứng của Trung Quốc cũng như đã có cách “hóa giải” phản ứng đó?Lê Hồng Hiệp: Có lẽ các nhà hoạch định chính sách ở Hà Nội đã xác định là nếu nâng cấp quan hệ với Mỹ lên thành “đối tác chiến lược toàn diện” thì sẽ khó mà gây ra các phản ứng quá mức từ phía Bắc Kinh. Thứ nhất, đối tác chiến lược toàn diện chủ yếu là một tuyên bố chính trị, chứ không phải là một liên minh quân sự. Cho nên nó không gây ra các mối đe dọa trực tiếp hay tức thì đối với Trung Quốc. Hiện giờ, quan hệ giữa Việt Nam với Trung Quốc rất là tốt. Quan hệ song phương, ngoài vấn đề Biển Đông đang có căng thẳng, thì đang được quản lý tốt, hầu như không có những vấn đề quá lớn giữa hai nước. Vì vậy, khó có khả năng Trung Quốc sử dụng các biện pháp mạnh để trừng phạt Việt Nam về việc nâng cấp quan hệ với Hoa Kỳ.Ngoài ra, việc nâng cấp quan hệ với Hoa Kỳ cũng không phải là điều gì quá ghê gớm đối với Trung Quốc, vì bản thân Trung Quốc đã là “đối tác chiến lược toàn diện” của Việt Nam từ 15 năm nay, thậm chí còn ở mức cao hơn một chút, vì về mặt chính thức   đó là "đối tác hợp tác chiến lược toàn diện”, có thêm yếu tố “hợp tác” có nghĩa là cao hơn đối tác với Mỹ một bậc.Bản thân Việt Nam vẫn luôn khẳng định giữ thế cân bằng chiến lược giữa các nước lớn, đặc biệt là giữa Mỹ và Trung Quốc. Cuối năm ngoái, tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã là lãnh đạo ngoại quốc đầu tiên đến thăm Trung Quốc sau Đại hội 20 của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Và nếu như chúng ta nhìn vào cách làm của Việt Nam từ trước đến nay thì chúng ta cũng có thể dự đoán được là sau chuyến thăm của ông Biden đến Hà Nội thì có rất là nhiều khả năng là Việt Nam sẽ đón tiếp chủ tịch Tập Cận Bình. Có một dấu hiệu cho thấy điều đấy sẽ sớm xảy ra, đó là ông Lưu Kiến Siêu, Trưởng ban Đối ngoại đảng Cộng sản Trung Quốc đã sang thăm Hà Nội và gặp các lãnh đạo Việt Nam. Có thể chuyến thăm của ông Lưu Kiến Siêu là một phần của kế hoạch chuẩn bị cho chuyến thăm của ông Tập Cận Bình sang Việt Nam. Có thể nói là Việt Nam đã rất khéo léo trong việc giữ cân bằng trong quan hệ giữa Mỹ với Trung Quốc và đã trấn an Trung Quốc về việc nâng cấp quan hệ với Mỹ. Tất cả những điều này đã góp phần giúp Việt Nam cảm thấy tự tin để nâng cấp quan hệ với Hoa Kỳ mà không lo ngại các hành động trả đũa từ phía Trung Quốc.RFI: Mặc dù "đối tác chiến lược toàn diện" chỉ mang tính chất là một tuyên bố chính trị, chứ không phải là một liên minh, nhưng với quan hệ mới này thì vị thế của Việt Nam trong cuộc đối đầu với Trung Quốc trên vấn đề chủ quyền Biển Đông có thể được nâng cao thêm?Lê Hồng Hiệp: Theo tôi, có nhiều khả năng là Việt Nam sẽ có một vị thế tốt hơn, một đòn bẫy lớn hơn trong việc ứng phó với Trung Quốc trên Biển Đông sau khi nâng cấp quan hệ với Mỹ. Khi nâng cấp quan hệ, Mỹ có hứa sẽ hỗ trợ Việt Nam hiện đại hóa quân đội và đặc biệt là giúp Việt Nam nâng cao năng lực thu thập thông tin tình báo trên biển, bên cạnh những hoạt động mà lâu nay Mỹ vẫn hỗ trợ Việt Nam, đó là nâng cao năng lực trên biển, thông qua việc chuyển giao các tàu tuần duyên cho Việt Nam, hay hỗ trợ Việt Nam một số trang thiết bị để giúp Việt Nam ứng phó tốt hơn với các áp lực trên biển.Trong thời gian tới, tôi nghĩ là các hoạt động này sẽ được duy trì và thậm chí được nâng cao. Cũng sẽ có thể có việc chuyển giao các trang thiết bị, thậm chí vũ khí mới trong khuôn khổ "đối tác chiến lược toàn diện" này, giúp Việt Nam có năng lực tốt hơn trong việc ứng phó với các thách thức trên Biển Đông. Có nhiều khả năng là Mỹ, với tư cách "đối tác chiến lược toàn diện" của Việt Nam, sẽ hỗ trợ Việt Nam tốt hơn trên các diễn đàn quốc tế, hay trong những trường hợp mà Việt Nam có những sự cố trên biển với Trung Quốc, như vào năm 2014 khi xảy ra vụ giàn khoan 981, Mỹ đã là một trong những nước đã mạnh mẽ ủng hộ lập trường của Việt Nam, đã có những tuyên bố, hành động cụ thể để giúp Việt Nam ứng phó với khủng hoảng đó và gây sức ép để Trung Quốc rút giàn khoan ra khỏi vùng biển Việt Nam.
9/11/202310 minutes, 8 seconds
Episode Artwork

Việt - Mỹ thắt chặt quan hệ, không để Trung Quốc "lộng hành" ở Biển Đông

Tổng thống Mỹ không dự cuộc họp thượng đỉnh với ASEAN dù Indonesia, nước chủ tịch luân phiên ASEAN, cố tình đẩy sớm ngày họp để thuận cho lịch trình công du châu Á của ông Biden, nhưng chủ nhân Nhà Trắng lại đến thăm Hà Nội ngày 10/09/2023. Quyết định này cho thấy Washington đề cao vai trò của Việt Nam, đồng thời mong muốn nâng cấp quan hệ với Hà Nội lên hàng « đối tác chiến lược toàn diện ». Theo thông cáo của Nhà Trắng, tổng bí thư đảng Cộng Sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng và tổng thống Mỹ Joe Biden sẽ thảo luận các phương cách « thắt chặt hợp tác quan hệ giữa hai nước ». Nhưng giới chuyên gia có ý kiến khác biệt về khả năng nâng cấp quan hệ song phương.  Trong trường hợp hai bên nâng cấp quan hệ lên thành « đối tác chiến lược toàn diện », đây sẽ là một thắng lợi ngoại giao của Hoa Kỳ trong việc gia tăng ảnh hưởng ở Đông Nam Á, theo trang The Diplomat. Còn nhà nghiên cứu Lê Hồng Hiệp tại Singapore cho rằng đó sẽ là « bước đột phá đáng chú ý », vì Hà Nội chỉ ký thỏa thuận hợp tác ở cấp cao nhất với các nước được đánh giá có tầm quan trọng cho an ninh, thịnh vượng và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.  Đọc thêm : Liệu Việt Nam có thể nâng cấp quan hệ với Mỹ lên thành "đối tác chiến lược toàn diện" ?Chuyến công du Việt Nam của tổng thống Mỹ có ý nghĩa như nào trong bối cảnh hiện nay ? Khả năng và rào cản trong việc nâng cấp quan hệ song phương ? RFI Tiếng Việt đặt câu hỏi với giáo sư Alexander Vuving, Trung tâm Nghiên cứu An ninh châu Á-Thái Bình Dương Daniel K. Inouye (DKI APCSS), tại Hawaii, Hoa Kỳ.RFI : Tổng thống Mỹ công du Việt Nam ngày 10/09 tới đây. Xin giáo sư cho biết về bối cảnh chuyến công du ?G.S. Alexander Vuving : Thứ nhất, mục đích chuyến công du của tổng thống Biden sang Việt Nam là để nâng cấp quan hệ lên tầm chiến lược trong bối cảnh cả Mỹ và Việt Nam đều muốn nâng cấp quan hệ lên tầm chiến lược. Mỹ muốn ngay từ khoảng năm 2010-2011. Còn Việt Nam, phải đến tận khoảng 2018-2019 mới cho rằng đó là chuyện cần thiết.Nhưng để có được ngày hôm nay, cũng phải trải qua rất nhiều thời kỳ, bởi vì có những lúc do sức khỏe của các lãnh đạo, rồi lịch trình của các lãnh đạo không cho phép nên không gặp được nhau. Thực vậy, muốn nâng cấp quan hệ lên tầm chiến lược, Việt Nam và Mỹ cần có cuộc gặp cấp cao giữa tổng thống Mỹ và tổng bí thư đảng Cộng Sản Việt Nam. Mãi cho đến đầu năm 2023, tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng và tổng thống Biden mới điện đàm với nhau. Trong cuộc điện đàm, hai ông đồng ý gặp nhau và sẽ nâng cấp quan hệ khi điều kiện cho phép. Trên đây là bối cảnh quan hệ song phương Mỹ-Việt. Đọc thêm : Dù rắc rối nghi thức, Mỹ chấp nhận tiếp Nguyễn Phú TrọngTuy nhiên còn có bối cảnh rộng hơn, tức là thời kỳ hậu Chiến tranh lạnh đã chấm dứt, đặc biệt là từ cuộc thương chiến giữa Mỹ và Trung Quốc, việc Nga xâm lược Ukraina. Tất cả những sự kiện đó cho thấy thời kỳ hậu Chiến tranh lạnh đã kết thúc và hiện giờ chúng ta đang ở một thời kỳ mới. Có nhiều người gọi là Chiến tranh lạnh lần thứ hai hoặc cũng có cách khác. Cho nên phải đặt vấn đề nâng cấp quan hệ Việt-Mỹ trong bối cảnh của một thời kỳ mới mà chúng ta vẫn chưa biết phải gọi tên như thế nào, nhưng là sau thời kỳ hậu Chiến tranh lạnh.RFI : Ông Biden không tham dự các cuộc họp thượng đỉnh với ASEAN dù khối này đã cố tình đẩy lên sớm hơn kỳ họp lần này nhưng chọn công du Việt Nam. Quyết định này cho thấy tầm quan trọng như thế nào của Việt Nam ?G.S. Alexander Vuving : Theo tôi, tầm quan trọng của Việt Nam đối với Hoa Kỳ xuất phát từ một số yếu tố chính : vị trí địa lý, tiềm năng kinh tế, sức đề kháng của Việt Nam đối với trung Quốc.Về vị trí địa lý, Việt Nam án ngữ con đường giao thông huyết mạch nhất của châu Á, chính là con đường đi qua Biển Đông, đồng thời cũng là con đường giao thông tấp nập nhất nối giữa Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương. Việt Nam cũng án ngữ cửa ngõ phía Nam của Trung Quốc thông sang Đông Nam Á, cả trên biển lẫn trên đất liền. Và Việt Nam có vị trí địa lý rất đặc biệt, tương đối bản lề giữa Đông Nam Á và Đông Bắc Á. Về tiềm năng kinh tế, Việt Nam có dân số khá lớn, nhân lực rất dồi dào, đồng thời rất năng động. Ngoài ra còn có chính sách kinh tế tương đối thân thiện với nhà đầu tư. Độ mở của nền kinh tế rất cao. Việt Nam có rất nhiều hiệp định thương mại với rất nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là với hầu hết các thị trường lớn trên thế giới, có lẽ chỉ trừ Mỹ.  Đọc thêm : Việt Nam muốn thành “cứ điểm” sản xuất thế giới nhưng thiếu cơ sở hạ tầngĐiểm thứ ba cũng rất quan trọng. So với nhiều nước khác trên thế giới, Việt Nam có sức đề kháng rất lớn đối với bá quyền của Trung Quốc. Sức đề kháng này đã được tôi luyện trong hàng nghìn năm lịch sử, trong quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc. Việt Nam biết rằng làm chư hầu của Trung Quốc sẽ như thế nào, cho nên không bao giờ muốn rơi vào cảnh đó. Và so với nhiều nước khác trên thế giới, Việt Nam tương đối hiểu Trung Quốc và cũng tương đối biết cách đối xử với Trung Quốc hơn. Đây chỉ là tương đối. Điều đó không có nghĩa là lúc nào Việt Nam cũng đối xử với Trung Quốc một cách hợp lý nhất.RFI : Trả lời họp báo ngày 29/08, phát ngôn viên bộ Ngoại Giao việt Nam cho biết : «Chúng tôi tin rằng các chuyến thăm của lãnh đạo cấp cao hai nước sẽ làm sâu sắc hơn nữa quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ, đưa quan hệ hai nước phát triển ổn định, thực chất và lâu dài trên tất cả các lĩnh vực ». Liệu đây có phải là «thời điểm thích hợp» để nâng cấp quan hệ ngoại giao song phương như đề nghị của Mỹ ? G.S. Alexander Vuving : Mỹ muốn nâng quan hệ Việt-Mỹ thẳng từ « đối tác toàn diện » lên thành « đối tác chiến lược toàn diện ». Cá nhân tôi cho rằng thời điểm thích hợp để Mỹ và Việt Nam có một quan hệ đối tác chiến lược toàn diện là từ lâu rồi, chứ không phải chờ đến ngày hôm nay. Việt Nam muốn cân bằng quan hệ với các nước lớn, đặc biệt là với các nước có ảnh hưởng trong khu vực. Việt Nam đã có quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với Trung Quốc từ năm 2008, với Nga từ năm 2012 và với Ấn Độ từ năm 2016. Ngoài ra còn có quan hệ đối tác chiến lược sâu rộng với Nhật Bản từ năm 2014. Chỉ còn với mỗi Mỹ vẫn còn là « đối tác toàn diện », thấp hơn cả « đối tác chiến lược » một nấc. Lẽ ra là phải khoảng từ 2014-2015, Việt Nam đã cần có mối quan hệ « đối tác chiến lược toàn diện » với Mỹ rồi. Nhưng vì nhiều lý do nên vẫn chưa có. Tất nhiên, « cân bằng » không có nghĩa là với bên này hay bên kia phải có mối quan hệ như nhau. Giữa Việt Nam và Mỹ, lợi ích chiến lược của hai nước đã rất tương đồng trong khá nhiều khía cạnh, đặc biệt là cán cân quyền lực trong khu vực. Cả Mỹ và Việt Nam đều không muốn Trung Quốc lộng hành ở Biển Đông và không muốn Trung Quốc bá chủ Đông Nam Á. Cả Mỹ và Việt Nam đều muốn tôn trọng luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước Quốc tế về Luật biển, ở Biển Đông, và cũng muốn có một cán cân lực lượng tương đối cân bằng ở khu vực Đông Nam Á, không để một nước nào lộng hành và bá chủ khu vực này được. Có lợi ích chiến lược tương đồng như vậy trong khi quan hệ Mỹ-Việt Nam lại ở mức thấp như thế thì quả là bất cập.  Đọc thêm : Hoa Kỳ khẳng định hậu thuẫn Việt Nam bảo vệ chủ quyền ở Biển ĐôngTuy nhiên, ở Việt Nam có hai luồng tư tưởng chính về việc phát triển quan hệ với Mỹ. Một luồng quan điểm chủ trương đi từ từ, "rón rén" trong quan hệ với Mỹ. Bởi vì họ lo ngại rằng đi xa và nhanh với Mỹ sẽ làm hỏng quan hệ với một số cường quốc khác, như Trung Quốc và Nga hoặc làm mất ổn định chính trị trong nước. Luồng quan điểm thứ hai lại cho rằng mối quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với Mỹ chẳng hạn sẽ giúp làm tăng thêm thế đứng của Việt Nam trong quan hệ với các nước khác và các cường quốc khác. Đồng thời cũng buộc chặt hơn những cam kết của Mỹ đối với việc « tôn trọng độc, lập chủ quyền và chế độ chính trị » của Việt Nam. Thực vậy, khi Mỹ và Việt Nam có quan hệ đối tác chiến lược toàn diện, trong đó có một cam kết là Mỹ sẽ « tôn trọng độc lập, chủ quyền và chế độ chính trị » của Việt Nam. Khi quan hệ được nâng cao, Mỹ cũng sẽ nâng cao cam kết đó hơn. Điều này tốt hơn cho Việt Nam cả trong đối nội lẫn trong đối ngoại. Cho nên cái gọi là « thời điểm thích hợp » đối với Việt Nam cũng đồng thời phản ánh cuộc tranh luận giữa hai luồng quan điểm này trong nội bộ lãnh đạo Việt Nam.RFI : Nếu căn cứ vào tình hình hiện nay thì có lẽ chưa phải là « thời điểm thích hợp ». « Yếu tố Trung Quốc » có đóng vai trò nào không ?  G.S. Alexander Vuving : Theo như tôi nói ở trên, yếu tố cản trở thực chất là nhận thức quan điểm của những lãnh đạo chủ trương đi từ từ. Tất nhiên trong nhận thức quan điểm của họ có yếu tố đối nội và đối ngoại. Yếu tố đối nội là liệu quan hệ thân mật hơn với Mỹ có ảnh hưởng đến nội trị không. Còn yếu tố đối ngoại là liệu quan hệ với Mỹ sẽ ảnh hưởng thế nào tới quan hệ với Trung Quốc và Nga là hai cường quốc chống Mỹ. « Nhân tố Trung Quốc » rất quan trọng ở chỗ : Một mặt, tăng cường quan hệ với Mỹ thực ra sẽ nhằm gia tăng đối trọng với Trung Quốc. Thường thì mỗi khi Trung Quốc gia tăng gây hấn, Việt Nam lại có phản ứng là cố gắng tăng cường quan hệ với Mỹ. Mặt khác, quan hệ giữa Việt Nam và Mỹ được tăng cường thì cũng tạo xung lực cho Trung Quốc gia tăng gây hấn, bởi vì Trung Quốc rất bực tức khi thấy Việt Nam và Mỹ quan hệ nồng ấm với nhau. Trung Quốc đã sử dụng biện pháp vừa đe dọa vừa gây sức ép đối với Việt Nam trong vấn đề này, chẳng hạn ngay tháng 04/2022, sau khi Nga xâm lược Ukraina khoảng một tháng rưỡi, có một cuộc điện đàm giữa ngoại trưởng Trung Quốc Vương Nghị và ngoại trưởng Việt Nam Bùi Thanh Sơn. Ông Vương Nghị nói rằng Mỹ, cùng với chiến lược Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương của họ, là nhân tố lớn nhất gây bất ổn, gây chia rẽ trong khu vực. Ông Vương Nghị cũng nói bóng gió rằng nếu tư duy theo kiểu Chiến tranh lạnh thì có thể sẽ dẫn đến một thảm họa Ukraina khác trong khu vực này, ý nói bóng gió « Việt Nam đừng đi với Mỹ », « Đi với Mỹ là có thể gây ra thảm họa Ukraina nữa ».  Đọc thêm : “Yếu tố Trung Quốc” trong quan hệ Mỹ-ViệtNgoài đe dọa, Trung Quốc đồng thời gây sức ép. Rất nhiều lần từ nhiều năm nay, lãnh đạo Trung Quốc luôn luôn nói với lãnh đạo Việt Nam là hai nước phải cùng nhau xây dựng một cộng đồng chung vận mệnh, muốn Việt Nam tham gia vào những sáng kiến toàn cầu gần đây của Trung Quốc, như sáng kiến an ninh toàn cầu, sáng kiến phát triển toàn cầu, văn minh toàn cầu… Việt Nam không muốn gia nhập quỹ đạo Trung Quốc, nhưng Việt Nam cũng phải có cách để xử lý chuyện này êm thấm, nên Việt Nam cũng ỡm ờ, không nói rõ là không muốn tham gia nhưng cuối cùng Việt Nam cũng chưa hề khẳng định là tham gia sáng kiến an ninh toàn cầu của Trung Quốc, cũng không hề khẳng định tham gia cộng đồng chung vận mệnh của Trung Quốc.Tóm lại, Việt Nam cũng phải tìm điểm cân bằng giữa những phản ứng trái chiều. Một mặt, quan hệ với Mỹ là để cân bằng áp lực của Trung Quốc. Mặt khác cũng phải làm thế nào để không gây ra những phản ứng bất lợi từ phía Trung Quốc. Cho nên mỗi khi Việt Nam tiến một bước trong quan hệ với Mỹ, Việt Nam lại phải tìm cách vuốt ve Trung Quốc để họ đỡ bực bội.  Đọc thêm : Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng, lãnh đạo nước ngoài đầu tiên đến Trung Quốc sau Đại hội Đảng Ví dụ trước chuyến đi của ông Biden đến Việt Nam, tổng bí thư Việt Nam Nguyễn Phú Trọng đã đi Trung Quốc vào cuối năm 2022. Đây là chuyến thăm phá lệ vì thông thường, từ mấy chục năm nay, sau khi được bầu làm tổng bí thư, chuyến công du nước ngoài đầu tiên của tổng bí thư là sang Lào. Đây là lần đầu tiên ông Nguyễn Phú Trọng phá lệ, ông đi Trung Quốc trước. Thực ra ông chỉ đi Trung Quốc vì sức khỏe không cho phép đi nhiều.RFI : Mối quan hệ được nâng cấp cũng được xem là gắn kết về khía cạnh an ninh và quốc phòng. Trong trường hợp Việt Nam « chưa rõ ràng », hoạt động hợp tác về an ninh, quốc phòng, đặc biệt là ở Biển Đông, sẽ đi theo hướng như nào ? G.S. Alexander Vuving : Thực ra, an ninh quốc phòng được cả Việt Nam và Mỹ coi là một trụ cột quan trọng của mối quan hệ. Thế nhưng, trong vấn đề quan hệ quốc phòng, Việt Nam có chủ trương « Bốn Không » (không đi với nước này để chống lại nước kia, không tham gia liên minh quân sự, không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự ở Việt Nam, không sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế).  Đọc thêm : Nga hụt hơi xích gần với Trung Quốc buộc Việt Nam cân nhắc nâng cấp quan hệ với Mỹ ?Chính vì thế vấn đề hợp tác an ninh, quốc phòng giữa Mỹ và Việt Nam có những hạn chế rất lớn, bởi vì Việt Nam không muốn cho Trung Quốc thấy rằng Việt Nam đi với Mỹ để chống lại Trung Quốc. Việt Nam cũng không muốn cho Trung Quốc thấy rằng Việt Nam muốn sử dụng vũ lực trong quan hệ với quốc tế. Cho nên Việt Nam phải làm thế nào để Trung Quốc cảm giác là Việt Nam không muốn chiến tranh với Trung Quốc. Chẳng hạn trong những cuộc đối đầu ở Biển Đông khi Trung Quốc đưa tầu thuyền xuống để cản trở, phá hoại những hoạt động kinh tế của Việt Nam ở Biển Đông, Việt Nam cũng đưa những lực lượng « không quân sự » ra tiếp cận, như kiểm ngư, cùng lắm là cảnh sát biển, chứ không phải Hải Quân. Bản thân Việt Nam nói là nâng cấp quốc phòng nhưng thực ra không đủ sức để răn đe Trung Quốc.Tóm lại, hợp tác an ninh quốc phòng giữa Việt Nam và Mỹ có những giới hạn rất lớn để Việt Nam thực hiện chính sách « Bốn Không » của mình.RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn giáo sư Alexander Vuving, Trung tâm Nghiên cứu An ninh châu Á-Thái Bình Dương, Hawaii, Hoa Kỳ.
9/4/202311 minutes, 23 seconds
Episode Artwork

Quan hệ Trung-Việt: Bắc Kinh và Hà Nội cố trở lại con đường hòa dịu

Ngày 13/07/2023, bên lề hội nghị ngoại trưởng ASEAN tại Jakarta, bộ trưởng Ngoại Giao Việt Nam Bùi Thanh Sơn đã gặp ông Vương Nghị, Chủ nhiệm Văn phòng Ủy ban Công tác Đối ngoại Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, lãnh đạo cao cấp của ngành ngoại giao Trung Quốc.  Cuộc gặp giữa ông Bùi Thanh Sơn với ông Vương Nghị và trước đó là chuyến đi Trung Quốc của thủ tướng Phạm Minh Chính ( 25/06 đến 28/06 ) phải chăng cho thấy là quan hệ Việt-Trung đang hòa dịu trở lại sau những căng thẳng trong tháng 5 ở Biển Đông do vụ các tàu của Trung Quốc xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam?Trả lời RFI Việt ngữ ngày 20/07/2023, nhà nghiên cứu Vũ Xuân Khang, Đại học Boston, Hoa Kỳ, nhận định: "Điều này thực sự không thể nhận xét được, do lịch trình các cuộc gặp cấp cao giữa hai bên có thể đã được lên kế hoạch từ trước. Tuy vậy, việc Việt Nam, Trung Quốc vẫn có các cuộc gặp mặt cấp cao là một tín hiệu tốt cho thấy hai nước vẫn đang kiểm soát các bất đồng trên biển, tránh để ảnh hưởng đến các mặt khác của quan hệ Việt-Trung. Việt Nam mong muốn hòa bình ổn định để phát triển kinh tế, nên giữ một mối quan hệ hữu hảo với Trung Quốc là điều rất quan trọng".Đúng là thị trường Trung Quốc quá quan trọng đối với Việt Nam nên Hà Nội không thể để cho căng thẳng kéo dài. Theo tường trình của Thông tấn xã Việt Nam, trong cuộc gặp với ông Vương Nghị hôm 13/07, ông Bùi Thanh Sơn đề nghị Trung Quốc “tiếp tục mở rộng nhập khẩu hàng hóa và đẩy nhanh tiến độ mở cửa thị trường cho các mặt hàng của Việt Nam, nhất là nông thủy sản và hoa quả; phối hợp duy trì thông quan thông suốt trong bối cảnh nông sản Việt Nam đang vào cao điểm thu hoạch”Có qua thì phải có lại, trong cuộc gặp với bộ trưởng Ngoại Giao Việt Nam, lãnh đạo ngoại giao Trung Quốc đã đề nghị hai bên “tăng cường kết nối chất lượng cao” giữa Sáng kiến “Vành đai, Con đường” với Khuôn khổ “Hai hành lang, một vành đai”. Ông Vương Nghị còn cam kết “sẽ tạo thuận lợi để Việt Nam tận dụng hiệu quả hơn các nguồn vốn hỗ trợ của Trung Quốc”.Theo hướng hòa dịu trong quan hệ, trong cuộc gặp giữa lãnh đạo ngoại giao của Việt Nam và Trung Quốc, hai bên đã “nhất trí sẽ thực hiện tốt các thỏa thuận và nhận thức chung cấp cao; kiểm soát và xử lý thỏa đáng bất đồng; nỗ lực duy trì hòa bình, ổn định trên biển”. Hai nước cũng cam kết sẽ cùng với các nước ASEAN “phấn đấu sớm đạt một Bộ Quy tắc ứng xử trên Biển Đông (COC) thực chất, hiệu lực, phù hợp luật pháp quốc tế, bao gồm các công ước quốc tế về biển, góp phần bảo đảm hòa bình, ổn định và tự do hàng hải ở khu vực cũng như quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của các bên.” Hai bên cũng khẳng định “sẽ phát huy vai trò của các cơ chế song phương trong các vấn đề biên giới lãnh thổ, lãnh hải”.Trong bài viết đăng ngày 14/07/2023, nhật báo Hồng Kông South China Morning Post nhắc lại là vào đầu tháng này, các nhà ngoại giao Trung Quốc và Việt Nam cũng đã gặp nhau tại thành phố Quảng Châu trong khuôn khổ đàm phán của nhóm công tác về vùng biển ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ và nhóm công tác về hợp tác cùng phát triển trên biển. Đây là cuộc gặp trực tiếp đầu tiên giữa các thành viên của hai nhóm này kể từ năm 2020. Theo thông báo của phía Việt Nam, trong các cuộc đàm phán đó, hai bên đã “nhất trí nỗ lực thúc đẩy hợp tác trên biển, trong đó có việc sớm đàm phán ký kết Hiệp định mới về hợp tác nghề cá Vịnh Bắc Bộ”. Theo thông cáo của phía Trung Quốc, hai bên còn “nhất trí” thúc đẩy hợp tác dầu khí ở “vùng biển không tranh chấp” ở Biển Đông. Tuy nhiên, theo South China Morning Post, các nhà quan sát cho rằng có rất ít cơ hội để thỏa hiệp trong hợp tác dầu khí giữa Việt Nam và Trung Quốc do những tranh chấp chủ quyền đã kéo dài nhiều năm giữa hai nước. Cuộc gặp tại Jakarta diễn ra trong bối cảnh mà tranh chấp chủ quyền Biển Đông tiếp tục khuấy động quan hệ Việt-Trung. Vào đầu tháng 7, Hà Nội đã ra quyết định cấm chiếu ở Việt Nam bộ phim Barbie do hãng phim Mỹ Warner Bros sản xuất vì trong phim này có hình ảnh “đường lưỡi bò”, tức là bản đồ mà Trung Quốc tự vẽ nên để áp đặt chủ quyền của họ lên phần lớn Biển Đông. Trên trang mạng Eurasia Review ngày 13/07, nhà nghiên cứu James Borton, đại học Johns Hopkins, Hoa Kỳ, nhắc lại năm nay là kỷ niệm 15 năm quan hệ “đối tác chiến lược toàn diện” giữa Việt Nam với Trung Quốc và cũng là kỷ niệm 10 quan hệ “đối tác toàn diện” giữa Việt Nam với Hoa Kỳ. James Borton nhấn mạnh cả Bắc Kinh lẫn Washington đều đang ve vãn Việt Nam, nhưng trong cuộc đua này phía Mỹ có vẻ yếu thế hơn. Ông trích nhận định của giáo sư Victor Abuza, Đại học Chiến tranh Quốc gia ở Washington: “ Bắc Kinh nay tin tưởng hơn rằng Việt Nam hành xử một cách độc lập và vẫn từ chối có bất kỳ hành động nào có thể bị Bắc Kinh xem là chống lại các lợi ích của Trung Quốc”.Chính sách của Việt Nam “đi dây” giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ đã một lần nữa được thể hiện rõ qua việc thủ tướng Phạm Minh Chính đã chọn đúng ngày hàng không mẫu hạm Ronald Reagan của Mỹ bắt đầu chuyến viếng thăm Việt Nam 25/06 để mở chuyến công du Trung Quốc. Phải chăng Hà Nội muốn trấn an Bắc Kinh là Việt Nam không có ý đồ gì chống Trung Quốc? Nhà nghiên cứu Vũ Xuân Khang giải thích: "Đúng là như vậy. Chính sách đối ngoại của Việt Nam từ sau chiến tranh Lạnh là giữ thế trung lập và cân bằng trên trường quốc tế. Nguồn gốc của chính sách này đến từ chính sách chảy máu trắng Việt Nam của Trung Quốc trong giai đoạn 1979-1991. Việt Nam hiểu rằng Trung Quốc sẽ có các biện pháp trừng phạt Việt Nam nếu Trung Quốc thấy là Hà Nội đang liên kết với một nước khác để chống Trung Quốc. Việt Nam không muốn có bất kỳ sự hiểu lầm nào nên chuyến thăm nhằm khẳng định cam kết với đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, không dựa vào nước khác để chống Trung Quốc."Theo Vũ Xuân Khang, các chuyến thăm của một hàng không mẫu hạm Hoa Kỳ sẽ trấn an Hà Nội về cam kết của Hoa Kỳ đối với sự ổn định khu vực và chứng tỏ rằng Việt Nam không đơn độc. Tuy nhiên, câu hỏi lớn vẫn còn:  Các căn cứ hải quân của Việt Nam có thể được sử dụng về mặt chiến lược trong việc quản lý các mối quan hệ với Trung Quốc không? Nhà nghiên cứu Vũ Xuân Khang nhấn mạnh: "Cần phải phân tích kỹ tầm quan trọng của các quân cảng của Việt Nam. Về mặt quân sự, các quân cảng của Việt Nam có vị trí địa lý quan trọng khi hướng thẳng ra biển Đông. Trong quá khứ các cường quốc như Mỹ hay Liên Xô đã sử dụng các quân cảng này như một địa điểm dừng chân cho các hạm đội tiếp nhiên liệu hay thu thập thông tin tình báo. Tuy nhiên tầm quan trọng về quân sự không thể thay thế được tầm quan trọng về chính trị, thứ bị chi phối bởi tổng thể quan hệ Việt-Trung. Việt Nam vẫn là một nước nhỏ so với Trung Quốc, do đó, các quân cảng của Việt Nam, mặc dù có vị trí địa lý tốt, không thể nào giúp Việt Nam san bằng vị thế nước nhỏ của mình, nhất là khi Trung Quốc có đường biên giới trên bộ dài 1300 km và có thể đặt áp lực quân sự trên bộ trực tiếp lên Việt Nam, nơi mà các quân cảng không có nhiều giá trị. Cần nhắc lại là khi Việt Nam cho Liên Xô thuê Cam Ranh, Trung Quốc đã đặt áp lực quân sự rất lớn dưới chính sách chảy máu trắng Việt Nam bắt Hà Nội phải quy phục Bắc Kinh trong giai đoạn 1979-1991. Và với vị thế là nước lớn, Trung Quốc đã thành công đặt áp lực lên Việt Nam rút quân khỏi Campuchia và từ bỏ chính sách đối ngoại chống Trung Quốc, bất chấp sự hiện diện của Liên Xô ở Cam Ranh.Điều này cho thấy là Trung Quốc không ngần ngại khi Việt Nam đón tàu của Mỹ hay các nước đồng mình vì Trung Quốc có đủ khả năng để trừng phạt Việt Nam nếu Hà Nội có bất kỳ ý đồ nào sử dụng quân cảng của mình để chống Trung Quốc. Nói cách khác thì chính vì các quân cảng của Việt Nam không thể làm thay đổi tổng thể quan hệ Việt-Trung nên Trung Quốc cũng không có phản đối gì nhiều vì họ hiểu tương quan quân sự Việt-Trung không bao giờ có thể bị san bằng bởi một vài quân cảng cả. Tất nhiên Trung Quốc cũng không muốn đẩy Việt Nam vào thế phải chống Trung Quốc, nhưng điều này không có nghĩa Trung Quốc phải sợ các quân cảng của Việt Nam. Trung Quốc vẫn sẽ tiếp tục thực hiện chính sách "tằm ăn dâu" nhằm mở rộng ảnh hưởng trên biển Đông.
8/28/20238 minutes, 47 seconds
Episode Artwork

Cùng bị Trung Quốc đe dọa chủ quyền, Việt Nam - Ấn Độ thắt chặt hợp tác quốc phòng

Việt Nam được New Delhi khẳng định là « một quốc gia bạn hữu », khi « lần đầu tiên, Ấn Độ tặng một tầu hộ tống » INS Kirpan. Món quà được bàn giao ở cảng Cam Ranh ngày 22/07/2023, cùng với những hoạt động huấn luyện, là sự kiện đặc biệt ý nghĩa, được Hải Quân Ấn Độ nhấn mạnh là « phản ánh cam kết của Ấn Độ hỗ trợ các đối tác có chung chí hướng nâng cao năng lực và tiềm lực quốc phòng ». Chính sự hung hăng đòi chủ quyền trên biển và trên bộ, cũng như chính sách đối ngoại hiếu chiến của Bắc Kinh đã buộc Hà Nội và New Delhi thắt chặt hợp tác quân sự để cùng đối phó với một đối thủ chung là Trung Quốc, dù không nêu tên.Không chỉ hung hăng, « bắt nạt » tầu dân sự và hải cảnh của các nước ở Biển Đông, Trung Quốc gia tăng bồi đắp các đảo nhân tạo, trong đó theo thông tin ngày 16/08 của AP, sự kiện mới nhất là xây đường băng mới trên đảo Tri Tôn, mà Việt Nam tuyên bố chủ quyền. Ấn Độ và Trung Quốc tranh chấp lãnh thổ ở khu vực Ladakh, trên dãy Himalaya, với đỉnh điểm là vụ xung đột đẫm máu tháng 06/2020. Bất đồng vẫn chưa được giải quyết sau 19 vòng đàm phán, kết thúc hôm 16/08, dù hai bên nhất trí kiềm chế, « duy trì hòa bình và ổn định » dọc Đường Kiểm soát Thực tế (LAC).Ngoài ra, Ấn Độ còn là đối tác quốc phòng quan trọng đối với Việt Nam trong bối cảnh khó nhập vũ khí từ Nga do nước này bị phương Tây cấm vận và sa lầy trong cuộc chiến ở Ukraina. Để hiểu hơn về mối quan hệ vững bền này, cũng như tiềm năng hợp tác song phương, RFI Tiếng Việt đặt câu hỏi với nghiên cứu sinh Nguyễn Thế Phương, chuyên về an ninh hàng hải và các vấn đề hải quân, Đại học New South Wales, Úc.RFI : Việt Nam là nước đầu tiên được Ấn Độ tặng tầu hộ tống (INS Kirpan) theo lời hứa của bộ trưởng Quốc Phòng Ấn Độ khi tiếp đồng nhiệm Việt Nam ở New Delhi. Sự kiện này có ý nghĩa như thế nào đối với cả hai bên ?Nguyễn Thế Phương : Việc Ấn Độ tặng tầu hộ tống Kirpan cho Việt Nam nên đặt trong bối cảnh : sự trỗi dậy của Trung Quốc, mối quan hệ hợp tác vừa truyền thống vừa hướng tới tương lai giữa Việt Nam và Ấn Độ. Cả Ấn Độ và Việt Nam đều gặp phải những cái vấn đề rất lớn, đặc biệt là liên quan tới lãnh thổ, lãnh hải với Trung Quốc. Cả hai quốc gia đều coi Trung Quốc là một mối đe dọa an ninh tương đối rõ ràng ở hiện tại, cũng như là trong tương lai gần.Đối với Ấn Độ, từ sau vụ đụng độ giữa Ấn Độ và Trung Quốc ở Ladak năm 2020, trong nội bộ Ấn Độ bắt đầu thảo luận lại về nền tảng căn bản của chính sách đối ngoại, tương đối ôn hòa, tức là theo nguyên tắc không liên kết. Nhưng từ sau sự kiện Ladak, Ấn Độ nhận ra rằng với nền tảng đối ngoại cũ, dường như không ổn lắm.Đối với Việt Nam, Ấn Độ được cho là một trong những đối tác quan trọng, đáng tin cậy nhất của Việt Nam. Bởi vì rõ ràng là quan hệ an ninh quốc phòng, nói gì thì nói, cũng là mối quan hệ mang tính nhạy cảm. Một trong số các đối tác quốc tế mà Việt Nam có thể thoải mái nhất trong việc hợp tác an ninh quốc phòng là Ấn Độ. Có rất nhiều lý do. Ấn Độ và Việt Nam có một mối quan hệ đối ngoại từ những năm 1945, tức là mối quan hệ truyền thống vững chắc. Cả hai nước đều có xu hướng đối ngoại, gọi là không liên kết.Ở hiện tại, mối quan hệ giữa hai quốc gia là ngang hàng với Trung Quốc, tức là quan hệ đối tác chiến lược toàn diện. Và trong quan hệ an ninh quốc phòng, Việt Nam không e ngại Ấn Độ. Điểm này khá khác với phương Tây bởi vì khi hợp tác với phương Tây, luôn có vấn đề nhân quyền và một số vấn đề chính trị nhạy cảm có thể khiến cho quan hệ hợp tác quốc phòng an ninh bị chững lại. Trong quan hệ Việt Nam-Ấn Độ không có điểm này. Cho nên, tiềm năng đi tới trong lai rộng hơn rất nhiều so với phương Tây. Hạn chế duy nhất vẫn chỉ là một số hạn chế về mặt kỹ thuật và khả năng mà Việt Nam và Ấn Độ trao cho nhau trong mối quan hệ về an ninh-quốc phòng.RFI : Ấn Độ có vai trò như nào trong việc giúp Việt Nam đa dạng hóa hợp tác quốc phòng theo tinh thần « Bốn Không » và làm đối trọng với Trung Quốc ?Nguyễn Thế Phương : Từ trước tới nay, cả hai bên đã có một số dự án liên quan đến hợp tác quốc phòng-an ninh. Việc Ấn Độ trao tầu cho Việt Nam đáng lẽ nên xảy ra từ năm 2011 khi chủ tịch nước Việt Nam lúc đó là Trương Tấn Sang thăm Ấn Độ và ông có mấy đề xuất với Ấn Độ. Đa số các đề xuất đó đã được thực hiện, ví dụ Ấn Độ đào tạo thủy thủ tầu ngầm, phi công máy bay chiến đấu cho Việt Nam, đồng thời hai bên cũng trao đổi một số vấn đề mang tính kỹ thuật và hợp tác về công nghệ quốc phòng.Chủ tịch nước Trương Tấn Sang lúc đó cũng yêu cầu Ấn Độ có thể tặng lại một tầu hải quân nào đó cho Việt Nam nhưng Ấn Độ đã không đồng ý bởi vì trong giai đoạn đó, Ấn Độ đi theo chính sách ngoại giao không liên kết, họ cũng không muốn chọc giận Trung Quốc và không muốn làm tình hình căng thẳng. Nhưng tới hiện tại, năm 2023, Ấn Độ đã đồng ý với đề nghị mà Việt Nam đưa ra 12 năm trước đó. Việc này cho thấy sự biến chuyển tương đối lớn trong cách tiếp cận của Ấn Độ đối với tình hình trong khu vực, cũng như chính sách đối ngoại, quốc phòng của Ấn Độ.   Đọc thêm : Chính sách quốc phòng "Bốn Không" của Việt Nam và thực tế ở Biển ĐôngẤn Độ có mối quan hệ khá chặt chẽ với Nga. Họ cũng có mối quan hệ an ninh, quốc phòng rất tốt với phương Tây, đặc biệt là Mỹ. Vậy điểm mà Việt Nam có thể học hỏi ở đây là gì ? Thứ nhất, Ấn Độ có kinh nghiệm trong việc tiếp xúc với hai hệ thống công nghệ quốc phòng. Và điều này đặc biệt quan trọng với Việt Nam trong bối cảnh Việt Nam đang cố gắng đa dạng hóa nguồn cung quốc phòng, ngoài Nga. Sắp tới, Việt Nam có thể mua một số trang thiết bị vũ khí, cũng như là tiếp nhận công nghệ công nghiệp quốc phòng của các nước phương Tây, với hệ vũ khí phương Tây. Và với kinh nghiệm của Ấn Độ, họ có thể giúp Việt Nam điều hòa hai công nghệ vũ khí đó lại với nhau để tạo ra một hệ thống vũ khí phù hợp với đặc trưng, cách đánh và chiến thuật của Việt Nam. Về việc này, Ấn Độ và Israel rất có kinh nghiệm.  Thứ hai, Ấn Độ có kinh nghiệm trong việc phát triển nền quốc phòng nội địa khá hiệu quả. Đây cũng là điều Việt Nam cần học hỏi vì bản thân của một nền quốc phòng mạnh là khi có thể tự sản xuất các loại vũ khí quan trọng cho riêng mình mà không cần phải mua. Khi chiến tranh xảy ra, họ có thể có đủ khả năng duy trì khả năng chiến đấu. Công nghiệp quốc phòng và nền tảng công nghiệp quốc phòng là điểm mạnh của Ấn Độ. Họ cũng mong muốn xuất khẩu một số loại vũ khí nội địa sang Việt Nam. Điều này hiện nay chưa diễn ra được nhưng sắp tới hoàn toàn có thể là Ấn Độ cung cấp một số loại vũ khí cho Việt Nam.  Điểm thứ ba mà Việt Nam có thể hợp tác với Ấn Độ là về mặt an ninh hàng hải. Không chỉ liên quan đến vũ khí mà còn có thể là trao đổi về mặt chiến thuật-chiến lược. Các tầu hải quân Ấn Độ thăm Việt Nam, cũng như là tập trận với Hải Quân Việt Nam hoặc trong các vấn đề liên quan tới chống cướp biển, bảo vệ những tuyến đường biển quan trọng. Khi mà Việt Nam, cũng như ASEAN, là một trong những đối tác quan trọng của Ấn Độ, đặt trong bối cảnh « chính sách hướng Đông », vấn đề an ninh hàng hải trỗi dậy, đồng thời cũng phù hợp với bối cảnh Hải Quân Trung Quốc hiện diện ngày càng nhiều ở Ấn Độ Dương, khu vực mà bản thân Ấn Độ cho là vùng ảnh hưởng của mình.  Có thể tạm gọi là ba lĩnh vực quốc phòng mà Ấn Độ và Việt Nam có thể hợp tác sâu hơn trong tương lai. Ngoài ra, hoàn toàn có thể mở rộng ra những hợp tác mới, ví dụ an ninh mạng, vệ tinh, tích hợp công nghệ của thời đại 4.0 vào quốc phòng như IA… Đó là những mảng cụ thể trong hợp tác an ninh, quốc phòng mà cả hai quốc gia Ấn Độ-Việt Nam có thể tiếp tục đẩy mạnh hơn nữa trong tương lai. RFI : Ấn Độ tiếp tục hợp tác quốc phòng với Nga. Liệu đây có phải là cách đi vòng giúp Việt Nam tiếp tục trang bị hoặc mua thiết bị bảo trì của Nga để tránh các biện pháp trừng phạt của phương Tây ? Nguyễn Thế Phương : Nói là « đi vòng » cũng không hoàn toàn chính xác bởi vĩ vũ khí Nga ở Ấn Độ hiện tại đã thay đổi một chút cho phù hợp với cách đánh của Ấn Độ, cho nên trong một số trường hợp cũng không hoàn toàn phù hợp.Nhưng vấn đề căn bản ở đây không hoàn toàn là vũ khí mà nằm ở những thiết bị và phụ tùng có liên quan. Trước đây, Việt Nam phải mua trực tiếp từ Nga. Nhưng trong bối cảnh hiện tại, khi mà Nga bị cấm vận và khả năng sản xuất của ngành công nghiệp quốc phòng Nga hiện tập trung chủ yếu cho cuộc chiến, Việt Nam khó tiếp cận được những phụ tùng như vậy. Và Ấn Độ là một trong những đối tác có thể thay thế cho Nga trong vấn đề về phụ tùng, bảo trì, bảo dưỡng. Còn toàn bộ vũ khí thì có vẻ hơi khó bởi vì trong một số hợp đồng quốc phòng có một số điều kiện ràng buộc ví dụ như không được bán vũ khí cho bên thứ ba. Đọc thêm : Nga nướng vũ khí ở Ukraina, Việt Nam lo nguồn cung thiếu hụtĐiểm quan trọng cần nhấn mạnh ở đây, như đã nói ở trên, thứ nhất đó là kinh nghiệm của Ấn Độ trong việc chế tạo các loại vũ khí hệ Nga. Cái này Việt Nam có thể tiếp cận được. Thứ hai là phụ tùng thay thế mà Việt Nam có thể mua từ Ấn Độ, thay thế cho nguồn cung hiện bị thắt chặt từ Nga. Đây là hai điểm liên quan tới Nga mà Việt Nam có thể tận dụng trong mối quan hệ quốc phòng đang lên giữa hai nước.  RFI : Ấn Độ cũng thắt chặt hợp tức quân sự với Mỹ, chế tạo vũ khí chung. Việt Nam có thể tiếp cận nguồn cung vũ khí này, như đã làm với Israel, trong khi Hoa Kỳ vẫn chưa chính thức bật đèn xanh bán vũ khí cho Việt Nam, còn Hà Nội cũng tránh mua trực tiếp để tránh khiến Bắc Kinh giận dữ ?Nguyễn Thế Phương : Điểm này đúng. Việt Nam có thể tiếp cận và coi Ấn Độ là một trong những nhà cung cấp vũ khí quốc phòng trong tương lai. Nhưng ở đây cũng có một số điểm yếu. Về mặt truyền thống, Việt Nam hiếm khi mua một loại vũ khí tích hợp nhiều loại công nghệ khác nhau. Hợp đồng Brahmos là ví dụ cụ thể nhất vì Brahmos vừa có công nghệ Ấn Độ, vừa có cả công nghệ Nga. Tuy nhiên, tiềm năng vẫn là có.  Vế thứ hai liên quan đến việc Hoa Kỳ chưa chính thức bật đèn xanh bán vũ khí cho Việt Nam và Hà Nội cũng tránh mua trực tiếp vũ khí Mỹ để tránh làm Bắc Kinh phật lòng, cũng hoàn toàn không hẳn, mà là đến từ bản thân nhu cầu và mong muốn của Việt Nam. Các công ty quốc phòng Hoa Kỳ liên tục qua Việt Nam và họ liên tục làm truyền thông để thuyết phục Việt Nam mua. Nhưng vấn đề là Việt Nam chưa muốn, chứ không phải là Hoa Kỳ chưa bật đèn xanh.Một truyền thống từ trước đến giờ mà chưa bao giờ bị phá vỡ là Việt Nam không bao giờ mua vũ khí, tạm gọi là « vũ khí nóng », tức là có thể đánh nhau được, của Mỹ và của Trung Quốc. Truyền thống này trong tương lai chắc cũng khó có thể bị phá vỡ. Đọc thêm : Việt Nam gia tăng hợp tác quân sự với Israel nhằm làm chủ công nghệ quốc phòngViệt Nam có thể mua một số loại vũ khí hạng nhẹ như đồ dành cho huấn luyện, thiết bị cảnh báo kiểm soát. Hoặc là Việt Nam mua đồ đã qua sử dụng của một nước khác, như Nhật mua đồ của Mỹ, sau một khoảng thời gian dài Nhật muốn chuyển qua cho Việt Nam. Việt Nam nhập đồ « second hand », chứ không mua trực tiếp của Mỹ. Còn đối với Trung Quốc, Việt Nam sẽ chỉ mua một số thiết bị không tác động đến tác chiến, như gần đây có thông tin Việt Nam mua một số công cụ máy móc cho công binh để phục vụ cho các chương trình gìn giữ hòa bình với nước ngoài.Vậy vai trò của Ấn Độ là gì ? Đó là Ấn Độ, cũng giống như Hàn Quốc và Nhật Bản, có thể tiếp cận công nghệ vũ khí của phương Tây và với nền công nghiệp quốc phòng mạnh của những quốc gia đó, trong đó có Ấn Độ, họ có thể tự tạo ra các loại vũ khí « made in India », « made in Japan » hoặc « made in Korea » mà Việt Nam có thể tiếp cận theo hướng trung gian như vậy. Do đó, vai trò của Ấn Độ ở đây có liên quan tới bán các loại vũ khí mà Ấn Độ sản xuất, trong đó có công nghệ Mỹ, cho Việt Nam và giúp cho Việt Nam có thể tiếp cận được một số công nghệ lõi, công nghệ nguồn có yếu tố phương Tây, giúp cho Việt Nam có thể phát triển toàn bộ nền công nghiệp quốc phòng nội địa của Việt Nam hiện tại.  RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn nghiên cứu sinh Nguyễn Thế Phương, Đại học New South Wales, Úc.
8/21/202311 minutes, 43 seconds
Episode Artwork

Nguy cơ khủng hoảng Việt- Đức lần 2 nếu cựu chủ tịch công ty AIC bị "bắt cóc"

Berlin cảnh giác cao độ về khả năng mật vụ Việt Nam bắt cóc bà Nguyễn Thị Thanh Nhàn, cựu chủ tịch Hội đồng Quản trị kiêm tổng giám đốc Công ty Cổ phần Tiến bộ Quốc tế - AIC, ngay trên lãnh thổ Đức. Nữ doanh nhân 56 tuổi bị truy nã trong ba vụ án hình sự liên quan đến đấu thầu, hối lộ. Theo nhiều cơ quan truyền thông Slovakia và Đức, bà Nhàn đã ở Đức « được vài tháng ». Bà Nguyễn Thị Thanh Nhàn bị cáo buộc lũng đoạn đấu thầu trong các gói thầu tại Bệnh viện Đồng Nai, Trung tâm Công nghệ sinh học thành phố Hồ Chí Minh và các đơn vị liên quan, Bệnh viện Sản-Nhi Quảng Ninh. Vào cuối năm 2022, bà Nhàn bị kết án vắng mặt tổng cộng 30 năm tù trong vụ đầu tiên. Hai vụ tiếp theo vẫn đang trong quá trình xét xử.Vào tháng 05/2022, khi xác định bà Nhàn đã bỏ trốn, cơ quan Cảnh sát điều tra bộ Công An phát lệnh truy nã bà Nhàn và 7 người khác gồm cấp dưới tại công ty AIC và lãnh đạo một số doanh nghiệp thân quen. Theo trang TAZ của Đức, bà Nhàn dường như đã đến Nhật Bản, sau đó qua Luân Đôn (Anh) và đã đến Đức từ vài tháng nay.Trang Thoibao.de hôm 11/08 cho biết Việt Nam đã gửi cho Đức đơn yêu cầu dẫn độ bà Nhàn, nhưng Sở Tư pháp Liên bang Đức đã bác đơn này. Đồng thời, bộ Ngoại Giao Đức được cho là đã cảnh cáo Việt Nam là « sẽ không tha thứ cho bất kỳ sự can thiệp nào của các quốc gia nước ngoài trên lãnh thổ Đức ». Cảnh sát Đức cũng đã liên lạc trực tiếp với bà Nhàn và cảnh báo về tình trạng nguy hiểm của bà.Liệu một vụ bắt cóc thứ hai có khả năng xảy ra hay không ? Trong trường hợp xảy ra, việc này sẽ tác động đến quan hệ ngoại giao Việt Nam và Đức như thế nào ? RFI Tiếng Việt đặt câu hỏi với nhà báo Trung Khoa của trang Thoibao.de tại Berlin.RFI : Một số cơ quan truyền thông Slovakia và Đức đưa tin là bà Nguyễn Thị Thanh Nhàn, nguyên chủ tịch HĐQT kiêm TGĐ Công ty AIC đang ở Đức. Xin anh cho biết những thông tin mới nhất về vụ việc ! Nhà báo Trung Khoa : Những thông tin mà tôi tổng hợp và nhận được thì rất nhiều. Đầu tiên, chúng ta cũng biết thông tin bà Nguyễn Thị Thanh Nhàn bỏ trốn đã được công bố, sau đó Việt Nam đã phát lệnh truy nã. Thông tin gần đây nhất mà chúng tôi nhận được là bà Nguyễn Thị Thanh Nhàn đã sang Đức.Sau đó, các tờ báo của Đức, của quốc tế lần lượt đưa tin sau khi họ hỏi chính quyền Đức. Họ được biết những thông tin rất nhạy cảm. Những thông tin này được đưa ra và đăng trên các tạp chí, cũng như là trên Đài truyền hình Slovakia RTVS tối 05/08, cũng như là trên báo TAZ của Đức vào ngày 06/08, trong đó có rất nhiều thông tin đặc biệt về việc bà Nguyễn Thị Thanh Nhàn đang ở Đức.RFI : Có tin nói rằng đề nghị dẫn độ bà Nhàn từ phía Việt Nam nhưng từ chối. Liệu có lý do nào giải thích quyết định của Đức ?  Nhà báo Trung Khoa : Tôi nghĩ chính quyền Đức từ chối bởi vì lần trước khi vụ án ông Trịnh Xuân Thanh xảy ra vào năm 2017, khi đó phía việt Nam cũng đã đề nghị dẫn độ nhưng bà thủ tướng Angela Merkel lúc đó trả lời rằng việc này là do bên cơ quan Tư pháp làm. Dường như Việt Nam không đợi được các cơ quan Tư pháp của Đức làm việc tiếp mà họ đã bắt cóc.Vụ việc của bà Nguyễn Thị Thanh Nhàn khá giống với trường hợp của ông Trịnh Xuân Thanh trước đây. Tuy nhiên, bà Nguyễn Thị Thanh Nhà là người có nhiều mối quan hệ và nhiều thông tin quan trọng hơn ông Trịnh Xuân Thanh rất nhiều. Và bà cũng không đi một mình mà đi cùng với rất nhiều cộng sự của bà. Trước khi việc truy tố diễn ra ở Việt Nam, bà Nhàn đã chuẩn bị rất kỹ.Ở Đức là tam quyền phân lập. Đức chưa có hiệp định về dẫn độ, giữa hai nước cũng chưa có hiệp định tương trợ tư pháp. Còn phía Việt Nam  cũng đang rất cố gắng để tìm cách đưa bà Nguyễn Thị Thanh Nhàn về. Nhưng phía Đức, đó là Nhà nước pháp quyền nên bà Nguyễn Thị Thanh Nhàn chắc chắn sẽ có những luật sư để bảo vệ bà chống dẫn độ về Việt Nam.RFI : Anh nghĩ Đức sẽ phản ứng như thế nào nếu xảy ra trường hợp bắt cóc thứ 2 ? Việt Nam có khả năng làm không sau khi đã xảy ra sự cố, căng thẳng ngoại giao và bị chỉ trích sau vụ bắt cóc lần trước ? Nhà báo Trung Khoa : Rõ ràng là những thông tin mà báo chí Đức đã đăng tải sau khi họ có những nguồn tin từ nội bộ chính phủ Đức đưa ra là phía Đức đã cảnh báo phía Việt Nam là không được làm vụ bắt cóc lần nữa. Nếu Việt Nam vẫn cố tình làm thì đương nhiên nước Đức, một Nhà nước pháp quyền, nói rõ là sẽ không chấp nhận và dung thứ cho bất cứ hành động nào như vậy trên đất nước Đức nữa.Đầu tiên nếu Việt Nam bắt có thì có thể phía Đức sẽ trục xuất ông đại sứ hiện nay của Việt Nam tại Đức chẳng hạn. Còn chuyện chấm dứt quan hệ với Việt Nam, tôi nghĩ chắc là không, bởi vì Đức cũng có những mối quan hệ và những mối quan tâm về mặt chiến lược tại Việt Nam. Nhưng những chương trình, những dự án hỗ trợ Việt Nam hoặc những công việc khác của chính phủ Đức với Việt Nam và giữa hai nước sẽ bị đóng băng trong thời gian rất dài.Tôi nghĩ rằng phía Việt Nam, không phải là một Nhà nước pháp quyền, cho nên họ sẵn sàng làm bất cứ điều gì, miễn là đạt được mục đích của mình. Qua những sự việc đã diễn ra từ trước đến nay, chúng ta có nhiều bằng chứng rõ ràng. Cho nên phía Đức, mặc dù đã cảnh báo như vậy, nhưng họ cũng đã gặp gỡ trực tiếp bà Nhàn, theo như báo chí Đức đăng tải, để cảnh báo bà cẩn thận với những cơ quan của Việt Nam. Họ có thể tiếp cận và tìm cách đưa bà về Việt Nam hoặc là có những hành động bất hợp pháp tại Đức.RFI : Liệu anh có những thông tin là phía Việt Nam đang tiến hành những thủ tục và hợp tác với Đức như thế nào để phía Đức đồng ý đưa bà Nhàn về Việt Nam ? Nhà báo Trung Khoa : Đương nhiên, như đã nói, phía Việt Nam luôn tìm mọi cách để đưa bà Nhàn về, không chỉ ở Đức mà ở bất cứ nước nào, nếu họ phát hiện bà Nguyễn Thị Thanh Nhàn đang ở quốc gia đó.Việc đưa bà Nhàn về, nếu dùng các thủ tục pháp lý, cũng phải trải qua những quy trình rất rõ ràng, minh bạch. Và bà Nguyễn Thị Thanh Nhàn cũng có những luật sư của bà để bảo vệ cho thân chủ. Tôi nghĩ rằng việc đưa bà Nhàn về theo hình thức đó là rất khó, bởi vì nước Đức là một Nhà nước pháp quyền, họ sẽ thực hiện theo đúng Hiến Pháp, cũng như pháp luật của họ.RFI : Nhưng trong trường hợp như vậy, có thể có những ý kiến cho rằng Đức dung túng, bao che cho một tội phạm đang bị truy nã ở Việt Nam !Nhà báo Trung Khoa : Phải nói là khi bà Nguyễn Thị Thanh Nhàn sang Đức, cũng giống như trường hợp ông Trịnh Xuân Thanh khi sang đến Đức, lúc đó họ chưa hề bị lệnh truy nã nào và cũng chưa bị truy tố. Vậy thì không thể nói rằng bà là một tội phạm.Còn ở phía Đức, họ coi những tòa án ở Việt Nam là không độc lập, tức là đặt dưới sự lãnh đạo của đảng Cộng Sản Việt Nam, cho nên những quyết định của những tòa án đó thường mang tính chất là đã được định sẵn, mà người ta hay gọi là « án bỏ túi ». Cho nên, điều đó rất khó xảy ra đối với phía Đức, khi họ có thể là bằng sức ép nào đó của Việt Nam, để có thể dẫn độ bà Nhàn về Việt Nam theo như mong muốn của nhà cầm quyền ở Hà Nội. Đó là thông tin mà tôi nghĩ rằng sẽ diễn ra như vậy.Và vụ việc này chưa chấm dứt ở đây. Chắc chắn sẽ còn những thông tin mới trong thời gian sắp tới đối với vụ bà Nguyễn Thị Thanh Nhàn trốn ra nước ngoài và được báo chí Đức và quốc tế đăng tải là được phát hiện đang ở Đức.RFI Tiếng Việt xin cảm ơn nhà báo Trung Khoa tại Berlin !Khủng hoảng ngoại giao Đức-Việt sau vụ bắt cóc Trịnh Xuân ThanhÔng Trịnh Xuân Thanh bị bắt cóc ngay giữa thủ đô Berlin ngày 23/07/2017. Vụ bắt cóc được tính toán kỹ, ly kỳ, lợi dụng quan hệ ngoại giao với Slovakia để đưa Trịnh Xuân Thanh ra khỏi khối Schengen và về Việt Nam. Tư pháp Đức vẫn tiếp tục điều tra vụ việc.Trang tin Đức DW nhắc lại hôm 02/06/2022 : « Chính phủ Đức coi vụ bắt cóc là xâm phạm chủ quyền quốc gia. Đức cũng từng trục xuất hai nhà ngoại giao Việt Nam vì vụ bắt cóc và bày tỏ phản đối với đại sứ Việt Nam ». Sau sự kiện gây chấn động này, chính phủ Đức đã quyết định tạm đình chỉ quan hệ đối tác chiến lược với Việt Nam kể từ ngày 22/09/2017, sau đó là tạm đình chỉ hiệp định giữa hai nước về việc miễn thị thực (visa) đối với hộ chiếu ngoại giao Việt Nam.Ngày 01/11/2018, thứ trưởng thường trực bộ Ngoại Giao Việt Nam Bùi Thanh Sơn đã sang Berlin để đàm phán với phía Đức nhằm hàn gắn lại mối quan hệ ngoại giao đã bị khủng hoảng sau vụ bắt cóc Trịnh Xuân Thanh. Sau đó, khi được trang TAZ đặt câu hỏi, bộ Ngoại Giao Đức chỉ xác nhận là « có cuộc đàm phán tại bộ Ngoại Giao ngày hôm nay (thứ Năm ngày 01/11/2018) » trong « quá trình trao đổi chặt chẽ » với Việt Nam về « các vấn đề quốc tế và song phương ». Mối quan hệ Việt-Đức được cho là bước sang một chương mới với chuyến công du Hà Nội của thủ tướng Olaf Scholz trong hai ngày 13-14/11/2022. Nhưng chưa đầy một năm sau, sóng gió lại có thể nổi lên với vụ bà Nguyễn Thị Thanh Nhàn.
8/14/20238 minutes, 58 seconds
Episode Artwork

Du lịch Việt Nam đủ nguồn lực chuyên môn cao để hướng đến khách “giàu” ?

Việt Nam muốn tái cơ cấu ngành du lịch, trong đó chú trọng thị trường có khả năng chỉ trả cao. Một trong các nút thắt đầu tiên được tháo gỡ là chính sách nới lỏng thị thực có hiệu lực từ ngày 15/08/2023 được kỳ vọng sẽ giúp thu hút nhiều khách quốc tế hơn, trong khi tháng Bẩy đã là tháng kỷ lục đón hơn 1 triệu khách kể từ sau dịch Covid-19. Nếu nhìn vào thống kê số lượng và thành phần khách nước ngoài đến Việt Nam trong tháng 07, được trang Vietnamnet trích dẫn ngày 31/07, khách châu Âu đứng đầu trong số các châu lục, tăng 27% so với tháng 06. Các thị trường đóng góp chính là Anh, Pháp, Đức, tiếp theo phải kể đến Na Uy, Bỉ, Đan Mạch, Hà Lan, Tây Ban Nha, Hoa Kỳ, Nga… Chính sách nới lỏng thị thực được kỳ vọng sẽ mở đường cho rất nhiều luồng khách mới, đặc biệt là khách tự đi, gia đình, nhỏ lẻ.Chủ tịch Hiệp hội Du lịch Việt Nam Vũ Thế Bình, được trang Vietnamnet trích dẫn ngày 11/07, không phủ nhận là chính sách trên có thể tạo điều kiện dễ dàng hơn cho khách quốc tế đến Việt Nam nhưng cái khó là làm thể nào để khách ở dài ngày hơn, chi tiêu nhiều hơn. Theo ông, « nếu khách đến mà họ không thích thú, không chi nhiều tiên hơn, không ở dài ngày hơn thì việc thu hút về số lượng cũng không còn nhiều ý nghĩa ».Hiện tại, du lịch Việt Nam đã phải đối mặt với thách thức lớn nhất là chi phí cao hơn so với một số thị trường trong khu vực, như Thái Lan, Lào, Cam Bốt… Vẫn theo trang Vietnamnet, « du lịch Việt Nam vẫn nghĩ ngắn, muốn thu tiền ngay lập tức, đưa ra mức giá thu đủ nên thường cao », thêm vào đó là sự thiếu gắn kết giữa các ngành nghề nên thường đẩy giá chi phí (vận chuyển, nhà hàng…) dẫn đến « kết cục vẫn bị mang tiếng là đắt ».Ngoài thách thức về cơ cấu, cách làm du lịch, Việt Nam cũng cần xem lại việc bảo tồn di sản, thiên nhiên, có đội ngũ nhân viên chuyên môn cao, tạo được những chương trình khám phá đa dạng cho du khách, có như vậy mới hy vọng « trở thành thị trường du lịch sang trọng, đón được những vị khách chi trả cao và ở dài ngày ».Trả lời RFI Tiếng Việt, giáo sư địa lý Jean-Yves Puyo, của Đại học Pau et des Pays de l'Adour (UPPA), tham gia giảng dạy chuyên ngành « Địa lý và Du lịch » ở Việt Nam trong nhiều năm, nhận định một số điểm về du lịch Việt Nam.RFI : Giáo sư Jean-Yves Puyo, ông là nhà địa lý học, nhà nghiên cứu của Đại học Pau et des Pays de l'Adour (UPPA). Ông giảng dạy chuyên ngành du lịch trong nhiều năm ở thành phố Hồ Chí Minh trong khuôn khổ hợp tác đại học. Tại đây, ông được đề xuất tập trung vào chương trình đào tạo các nhà quản lý du lịch vì Việt Nam bị thiếu. Xin ông giải thích thêm về điều này !GS. Jean-Yves Puyo : Tôi là nhà địa lý. Trong 10 năm, tôi là đồng phụ trách bộ môn « Địa lý và Du lịch » thuộc Tổ chức Đại học Pháp ngữ (Agence universitaire de la Francophonie, AUF), lúc đó gọi là Văn phòng châu Á-Thái Bình Dương, còn hiện giờ Vùng châu Á-Thái Bình Dương. Đồng phụ trách với tôi lúc đó là bà Võ Sáng Xuân Lan, hiện làm trưởng Khoa Ngôn ngữ, Du lịch và Văn hóa Đại học Thái Bình Dương. Nhờ hoạt động này, tôi đối mặt với những câu hỏi lớn, những vấn đề lớn của ngành du lịch Việt Nam. Vấn đề đặt ra lúc đó là đào tạo sinh viên trẻ trong lĩnh vực này. Song song với hoạt động giảng dạy là hoạt động nghiên cứu nhằm tìm cách mang lại những hướng suy nghi khác nhau để thử dung hòa du lịch với những nhu cầu của các cộng đồng ở địa phương. Làm thế nào để du lịch cũng có thể giúp chống nghèo đói ? Trong khuôn khổ đó, chúng tôi đã tổ chức ba hội thảo quốc tế lớn từ năm 2008 đến 2011 và hiện vẫn có thể tìm thấy thông tin trên internet. Trong khuôn khổ chương trình « Địa lý và Du lịch », rất nhiều lần chúng tôi đã tập trung các nhà hoạt động trong ngành du lịch, kể cả từ các đô thị lớn là thành phố Hồ Chí Minh, cũng như những người Pháp, châu Âu phụ trách quản lý các tập đoàn lớn để hỏi về những nhu cầu của họ. Nhu cầu chủ yếu trong lĩnh vực đào tạo du lịch là các nhà quản lý. Có nghĩa là những sinh viên ở trình độ cao học, chứ không phải là những hướng dẫn viên có trình độ ngoại ngữ, như tiếng Anh, tiếng Tây Ban Nha hay tiếng Pháp. Có thể thấy các tập đoàn khách sạn, dù lớn hay nhỏ, thiếu và thực sự cần tuyển dụng thanh niên Việt Nam ở cấp quản lý.Xuất phát từ những nhu cầu trên, bà Võ Sáng Xuân Lan, đồng nghiệp của tôi, đã đào tạo hai nhà quản lý trẻ ở Đại học Văn Lang. Lúc đó, Tổ chức Đại học Pháp ngữ có nhiều chương trình học bổng đào tạo, hai sinh viên này đã được cấp học bổng sang Pháp học thạc sĩ chuyên ngành « Khách sạn và Quản lý », một người học ở Angers, một người ở Perpignan.Nhu cầu về quản lý vẫn còn rất rõ cho đến những năm 2016-2017. Tôi biết là Việt Nam đã rất cố gắng về ngành đạo tạo này nhưng hiện giờ, trừ phi tôi nhầm lẫn, vẫn còn phải được phát triển. RFI : Việt Nam có rất nhiều tiềm năng du lịch, nhưng dường như lại không được khai thác hết. Liệu có một số nguyên nhân giải thích cho việc này ? GS. Jean-Yves Puyo : Nguyên nhân có thể là do một phần hình ảnh mà Việt Nam mang lại cho hoạt động du lịch. Chúng ta biết là đa số các công ty lữ hành đề xuất « đi xuyên Việt » trong vòng 15 ngày, từ vịnh Hạ Long, Hà Nội, Huế, đến thành phố Hồ Chí Minh hay Bến Tre, đồng bằng sông Cửu Long chẳng hạn. Du khách mua « tour » kiểu này có cảm giác là họ đã đi hết Việt Nam trong 15 ngày. Dĩ nhiên là không phải như vậy ! Thế nên, tôi cho rằng khó khăn lớn nhất là khiến một người đã theo tour theo kiểu này quay trở lại. Thực vậy, chỉ trong 15 ngày, có rất nhiều địa điểm du lịch họ không đến, chẳng hạn họ không đi Đà Lạt hoặc không đến Phan Thiết hay Nha Trang… Cho nên, phải thay đổi một chút cách nghĩ là họ có thể đi hết Việt Nam chỉ trong vài ngày. Phải nghĩ cách làm thế nào nâng giá trị những khu vực khác ? Làm thế nào để đề xuất nhiều chương trình du lịch dài hơn, ví dụ 15 ngày ở miền bắc, 15 ngày ở miền trung, 15 ngày ở miền nam, để sau chuyến đi đầu tiên, du khách muốn trở lại. Tôi nghĩ đến đồng hương Pháp của mình, những người luôn hào hứng được quay lại Việt Nam. Nhưng phải kích thích được mong muốn trở lại khám phá những địa danh khác.Vì thế, có lẽ phải nghĩ đến các chương trình du lịch, không đề xuất « trọn gói » từ Bắc xuống Nam chỉ trong 15 ngày nữa vì điều đó khiến một du khách không đọc, hoặc không quan tâm, có cảm tưởng là họ đã xem được tất cả. Họ nghĩ là đã xong Việt Nam và giờ chuyển sang nước khác. RFI : Ông nêu ở trên về du lịch, có thể gọi là « đại trà », nhưng cũng phải nhắc đến nhiều du khách phương Tây đánh giá cao du lịch bền vững, du lịch sinh thái ở Việt Nam. Tuy nhiên, người ta cũng thấy hiện tượng bê tông hóa, đặc biệt là ở các thành phố lớn. Liệu đây có phải là một điểm tiêu cực hoặc làm giảm bớt sức hấp dẫn trong mắt họ không ? GS. Jean-Yves Puyo : Có. Đối với tôi, việc này hoàn toàn hiển nhiên. Đây là điểm cần rất nhiều thời gian để phân tích. Du khách đến Việt Nam là để tìm kiếm điều gì đó khác lạ, ví dụ một du khách Pháp có thể tìm thấy bãi biển đẹp gần nơi họ ở hơn rất nhiều là đến tận Việt Nam. Khi họ đến thành phố Hồ Chí Minh, họ không đến để nhìn thấy Bangkok mà họ đến vì một thành phố của Việt Nam. Thế mà hiện giờ, chúng ta thấy gì ở những trung tâm lịch sử ? Dù là ở thành phố Hồ Chí Minh hay ở Hà Nội, một số di tích ít nhiều được coi là di sản, phải thú nhận rằng chúng đã bị phá. Người ta chỉ giữ lại những địa danh biểu tượng nhất. Dĩ nhiên, ở thành phố Hồ Chí Minh, tôi nghĩ là sẽ không bao giờ người ta phá Nhà thờ lớn hay Bưu điện, người ta cũng sẽ không bao giờ phá khách sạn Majestic hoặc khách sạn Continental. Nhưng cũng ngay trong quận 1 trung tâm lịch sử này, những người biết đến lịch sử thành phố chỉ cần đi dạo một vòng cũng có thể lập được danh sách những tòa nhà có ý nghĩa quá khứ hoặc đại diện cho di sản văn hóa, di sản kiến trúc, đã bị phá. Và thay vào đó là gì ? Thay vào đó là những tòa nhà chọc trời. Đối với một du khách muốn khám phá góc di sản và lịch sử thì họ không muốn ngắm những tòa nhà mới đó. Vì thế tôi cho rằng sức hấp dẫn đã giảm rõ rệt. Nếu theo cách nhìn bi kịch của tôi, những gì đã bị phá thì biến mất vĩnh viễn, không thể lấy lại. Đối với tôi, những dự án hiện đại hóa các khu trung tâm thành phố này đã phá hủy một di sản kế thừa có giá trị di sản cao. Đây thực sự là một điểm tiêu cực. Và phải nhắc lại rằng du khách không đến Hà Nội hay thành phố Hồ Chí Minh để như lại nhìn thấy Bangkok với những tòa nhà chọc trời. RFI : Hiện có những ý kiến cho rằng thiếu địa điểm, hoạt động giải trí ở các thành phố ở Việt Nam, như Hà Nội. « Thiếu sót » này nên được giải thích như thế nào ? GS. Jean-Yves Puyo : Các thành phố lớn có thiếu địa điểm giải trí không, nhất là ở Hà Nội ? Thực sự tôi nghĩ là không, bởi vì du khách quan tâm đến hoạt động về đêm chẳng hạn, họ sẽ không đến Việt Nam mà đến Ibiza ví dụ thế, hoặc phải đến một số địa điểm rất nổi tiếng để vui chơi suốt đêm hoặc đến các sàn nhẩy… Liệu Việt Nam có lợi thực sự khi thử lá bài này không ? Thật lòng mà nói, tôi không nghĩ vậy, bởi vì để cạnh tranh được với những địa điểm du lịch đã rất nổi tiếng về giải trí, thì sẽ vô cùng khó cho Việt Nam. Và liệu họ có muốn điều này không ? Tôi cũng nghĩ là không. Nếu tôi ở vị trí đó, tôi sẽ nghĩ tổng quát hơn, ví dụ về việc làm thế nào để phát triển dòng du khách nước ngoài đến Việt Nam ? Tôi sẽ tập trung hơn vào các hạng mục di sản, văn hóa, môi trường và vẻ đẹp thiên nhiên. Và ở điểm này, có rất nhiều việc phải làm và theo tôi, nhiều việc hiện vẫn ít được phát triển. Tôi lấy ví dụ một đồng nghiệp của tôi, rất thích đi bộ dã ngoại và vừa đi du lịch Việt Nam về. Đáng tiếc là ông ấy có chút thất vọng về việc thiếu chương trình đi bộ dã ngoại và cũng hơi thất vọng về chuyến du lịch ở Việt Nam.RFI Tiếng Việt xin trân thành cảm giáo sư địa lý Jean-Yves Puyo, Đại học Pau et des Pays de l’Adour.
8/7/20239 minutes, 19 seconds
Episode Artwork

Chiến lược Ấn Độ-Thái Bình Dương : Việt Nam và ASEAN chọn lợi ích nhưng không chọn phe

« Ấn Độ-Thái Bình Dương là khu vực năng động nhất trên thế giới và tương lai của nó ảnh hưởng đến mọi người ở mọi nơi ». Nhận định này của Washington cũng là cơ sở để Mỹ, cũng như nhiều cường quốc khác, xây dựng chiến lược đối với khu vực có tầm địa-chiến lược quan trọng, trong đó có Biển Đông và khu vực Đông Nam Á. Các nước thành viên ASEAN trở thành trọng tâm trong các chiến lược Ấn Độ-Thái Bình Dương của Pháp (2018), Liên Hiệp Châu Âu (2021), Hoa Kỳ (2022), Hàn Quốc (2022), Nhật Bản (phiên bản mới 2023), cũng như mong muốn mở rộng « sự hiện diện rộng nhất, bao trùm nhất » của Anh Quốc trong khu vực. Ngoài mục đích an ninh, dù không nêu đích danh nhưng Trung Quốc luôn là « đối thủ » bị ngầm ngắm tới, những chiến lược này đặt trọng tâm vào hợp tác kinh tế, môi trường, bảo vệ sự hiện diện, lợi ích của họtrong khu vực và hạn chế ảnh hưởng của Bắc Kinh. Một « chủ nghĩa đế quốc mới » đang trỗi dậy ở khu vực Ấn Độ-Thái Bình Dương và châu Đại Dương, theo phát biểu của tổng thống Pháp tại Vanuatu nhân chuyến công du châu Đại Dương trong tuần qua, ám chỉ đến những nỗ lực bành trước của Trung Quốc. Để hiểu rõ hơn về khái niệm Ấn Độ-Thái Bình Dương và tầm quan trọng của khu vực, tạp chí Hérodote của Pháp, chuyên về địa lý và địa-chính trị, ra số đặc biệt quý II/2023 đề cập đến « Những cách nhìn địa-chính trị về vùng Ấn Độ-Thái Bình Dương ». Trả lời phỏng vấn của RFI Tiếng Việt, đồng chủ biên số đặc biệt, giám đốc nghiên cứu Benoît de Tréglodé, Viện Nghiên cứu Chiến lược (IRSEM), Trường Quân sự Pháp, nhận định trước những chiến lược Ấn Độ-Thái Bình Dương, Việt Nam và các nước Đông Nam Á chọn lợi ích nhưng không chọn phe.RFI :  Tạp chí Hérodote ra số đặc biệt về những thách thức địa-chính trị ở vùng Ấn Độ-Thái Bình Dương rộng lớn. Tại sao chủ đề này được đề cập riêng trong một số ?Benoît de Tréglodé : Hiện giờ, « Ấn Độ-Thái Bình Dương » là một khái niệm rất thịnh hành và được các chuyên gia về châu Á, cũng như tại các bộ và các đại sứ quán ở các nước châu Á sử dụng nhiều. Trước hết là do sự trỗi dậy, đúng hơn là nhờ vào việc ý thức được sự xác quyết của Trung Quốc, cũng như sự trỗi dậy của Ấn Độ ở châu Á, cùng những hệ quả có thể xảy ra đối với châu Âu, với Pháp, và nhất là sự hiện diện của Mỹ ở trong vùng và ở Ấn Độ Dương. Do đó phải suy nghĩ lại một cách tổng thể mối quan hệ của các nước phương Tây với châu Á. Châu Á, hiểu đơn thuần theo nghĩa địa lý, không còn đủ nữa. Từ giờ, vấn đề địa-chính trị gộp cả vế ngoại giao, kinh tế, chính trị, cần đến một vùng rộng hơn bao trùm tất cả. Chính vì thế, « Ấn Độ-Thái Bình Dương » xuất hiện như một khái niệm hơi ôm đồm một chút nhưng hiện giờ được sử dụng rất nhiều để suy nghĩ lại về mối quan hệ với châu Á.Ấn Độ-Thái Bình Dương hoàn toàn không có gì rõ ràng nếu chỉ nhìn về mặt địa lý, cho nên cần tập hợp được trong số đặc biệt này của tạp chí các nhà nghiên cứu có những cách nhìn tương đối khác nhau về cách hình thành khái niệm địa-chính trị này. Ấn Độ-Thái Bình Dương là một khái niệm chính trị, do đó phải để các nhà nghiên cứu nêu lên vấn đề này và kết nối khái niệm đó vào những thực tế lãnh thổ.RFI : Khoảng 10 chuyên gia Pháp và quốc tế chia sẻ quan điểm của họ trong số đặc biệt này. Điểm đặc biệt của họ là gì ?Benoît de Tréglodé : Trước tiên cần nhắc lại việc hình dung ra không gian Ấn Độ-Thái Bình Dương này nằm trong chủ trương mới về tương quan lực lượng của quốc gia đang thực sự tìm cách cải thiện tình hình của mình, thậm chí là chiếm ưu thế nào đó. Cho nên cần có những nhà nghiên cứu Pháp và nước ngoài suy nghĩ về khái niệm Ấn Độ-Thái Bình Dương, nhìn từ Nhật Bản, châu Âu hay từ Đông Nam Á, bởi vì mỗi quốc gia, mỗi một vùng nhỏ có cách nhìn khác nhau về khái niệm bao quát này. Thực thể địa lý này không tồn tại, mà đây là một thực thể chính trị được hình thành, hình dung và phát triển qua lập luận chính trị của các Nhà nước liên quan. Điều thú vị là trong thời gian đầu, mục đích của những người sử dụng rộng rãi khái niệm Ấn Độ-Thái Bình Dương này, như các nhà ngoại giao, các nhà quân sự, không giống nhau. Thực vậy, chúng ta biết là khái niệm xuất hiện trong khoảng những năm 2000 - 2010. Ý tưởng gộp cả hai vùng Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương thành một thực thể địa lý thực sự là vô cùng kỳ lạ đối với các nhà khoa học, cũng như đối với những người không có thói quen gộp cả hai vùng này với nhau. Nhưng nhìn từ quan điểm của các Nhà nước, từ các nhà hoạch định thì đó là nhằm tạo sự nhất quán cho một chính sách cấp vùng mà người ta gọi là « phương Đông » có độ phủ rộng hơn, để củng cố tính chính đáng cho chiến lược gây ảnh hưởng của họ. Và điều này là hoàn toàn mới, là hệ quả trực tiếp từ sự trỗi dậy của Trung Quốc, nước hiện trở thành một đối thủ cạnh tranh lớn đối với tất cả các nước phương Tây. Vì vậy, cần phải suy nghĩ lại một cách tổng thể về mối quan hệ ở khu vực địa lý vô cùng rộng lớn này. RFI : Việt Nam được đề cập như thế nào trong số tạp chí lần này ?   Benoît de Tréglodé : Chương mà tôi soạn thảo trong số này được dành để nói về Đông Nam Á trước thách thức Ấn Độ-Thái Bình Dương. Đông Nam Á, được nhìn từ cấp vùng là ASEAN, nhưng cũng từ các nước chủ đạo trong khu vực như Indonesia, Philippines, Việt Nam… Điều đáng chú ý là làm thế nào Việt Nam, làm thế nào Đông Nam Á thích ứng với khái niệm Ấn Độ-Thái Bình Dương, được các cường quốc thúc đẩy theo hướng cạnh tranh và đối đầu nhau. Chúng ta nghĩ ngay đến sự đối đầu giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc. Các nước Đông Nam Á vẫn nhắc lại khá thường xuyên rằng họ không muốn cảm thấy bị bắt làm con tin bởi sự phân định mới về không gian quốc tế này, một biện pháp mà có thể khiến họ nghĩ tới những lập luận và kí ức thời Chiến tranh lạnh chẳng hạn. Điều này đã được Singapore và các nước Đông Nam Á kiên quyết nhắc lại tại Đối thoại Shangri-La gần đây ở Singapore vào đầu tháng 6. Đối với đa số các nước trong vùng, không có chuyện phải chọn một phe Ấn Độ-Thái Bình Dương, kể cả bên thân Mỹ, để có thể « hạn chế hoặc kiềm chế ảnh hưởng của Trung Quốc ở trong vùng ». RFI : Cả Hoa Kỳ, Pháp, Liên Hiệp Châu Âu đều đề xuất những chiến lược riêng về Ấn Độ-Thái Bình Dương. Liệu những chiến lược đó có đặt những nước nhỏ trong vùng, ví dụ Việt Nam, vào thế khó xử, như ông nói là khó chọn phe, hay những nước này chỉ được lợi ?Benoît de Tréglodé : Hiện giờ, Ấn Độ-Thái Bình Dương trước hết là một khái niệm thực tiễn được các nước lớn sử dụng, đứng đầu là Hoa Kỳ, để có thể suy nghĩ toàn diện về chính sách gây ảnh hưởng của họ ở Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương. Đó chỉ là một cách diễn đạt để có thể duy trì sự hiện diện và sức ảnh hưởng vừa mang tính chính trị vừa mang tính chiến lược và kinh tế trên thế giới.Quan hệ quốc tế mọi thời đại đều được nuôi dưỡng từ những cuộc đối đầu và ngoại giao gây ảnh hưởng của nước này chống lại nước kia. Điều này không hoàn toàn mới. Khi đến Đông Nam Á, quả thật khái niệm Ấn Độ-Thái Bình Dương, chủ yếu do Mỹ, Nhật Bản và phần nào là Liên Hiệp Châu Âu hoặc Ấn Độ đề cao, bị đơn giản hóa đôi khi là quá mức để thuyết phục các nước trong vùng hợp tác nhiều hơn với họ và để hạn chế nguy cơ tiềm ẩn về sự trỗi dậy của Trung Quốc ở trong vùng.Thực ra, việc 10 nước Đông Nam Á khám phá « logic cân bằng » này trong khái niệm Ấn Độ-Thái Bình Dương không phải là mới mà chỉ là cập nhật lại logic trước đó. Đáp án vẫn như trước : triển khai một chính sách ngoại giao cân bằng để vừa tiếp tục hợp tác giữa nước này với nước khác mà không lợi dụng phe này chống phe kia. Ví dụ Việt Nam cho thấy rõ điều này. Hà Nội hiện giờ tranh thủ ý định xích lại gần hơn của Mỹ nhưng sẽ không đi quá xa. Họ biết rất rõ rằng họ không có lợi khi làm phật lòng nước láng giềng Trung Quốc khi cố tăng cường một cách lộ liễu quan hệ hợp tác với Hoa Kỳ. Khi đến thăm Hà Nội vào tháng 04/2023, ngoại trưởng Mỹ Antony Blinken đã không giấu ý định đề nghị chính quyền Việt Nam nâng cấp quan hệ đối tác quốc phòng, thành Đối tác chiến lược chứ không dừng ở Đối tác toàn diện. Đây là điểm nằm trong nguyện vọng của chính quyền Mỹ hiện diện trở lại ở trong vùng và tăng cường các mối quan hệ truyền thống của họ. Nhưng không ai ngờ nghệch cả. Tất cả các nước Đông Nam Á, cũng như ở Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương nói chung, duy trì mong muốn giữ thế cân bằng giữa các cường quốc và không muốn bị lôi vào một cuộc đối đầu không phải của họ.RFI : Ấn Độ cũng muốn hiện điện thường xuyên hơn ở Đông Nam Á và ở Biển Đông, cùng với các cường quốc khác, như Mỹ. Liệu việc này có gây thêm căng thẳng không có lợi cho các nước trong vùng, trong đó có Việt Nam ? Benoît de Tréglodé : Giải pháp là điều được tôi đề cập trong bài dành nói về Đông Nam Á. Một trong những hệ quả của việc tăng cường chiến lược Ấn Độ-Thái Bình Dương của phương Tây - tôi xin đặt Nhật Bản vào phía phương Tây cho tiện - ở khu vực Đông Nam Á, đó là sự thay đổi của tương quan lực lượng giữa các quốc đang đẩy các quốc gia Đông Nam Á thắt chặt cùng lúc mối quan hệ của họ với Washington và với Bắc Kinh để cân bằng hơn sức ảnh hưởng của hai cường quốc. Nhưng người ta lại có thể nghĩ rằng hoạt động tích cực trở lại của ngành ngoại giao Mỹ ở Jakarta, Kuala Lumpur, Singapour, Manila hay ở Hà Nội có lẽ đã làm gia tăng dần dần ảnh hưởng của Mỹ ở trong vùng. Các nước trong khu vực và các nhà lãnh đạo đã có chiến thuật khác nhau, một lựa chọn khác. Họ biết là tương lai chính trị của họ nằm trong khả năng duy trì sự ổn định xã hội ở trong nước. Và sự ổn định này lại được nuôi dưỡng bằng tăng trưởng kinh tế. Hiện sự tăng trưởng kinh tế này ở Đông Nam Á trước hết là từ Trung Quốc, nhưng đồng thời cũng nhờ Mỹ. Do đó, về mặt chiến lược, việc chọn phe có lẽ sẽ vô cùng mạo hiểm cho các quốc gia trong vùng. Tuy nhiên, việc lựa chọn cân bằng, từ chối để bị lôi vào đối đầu giữa các bên, nhất là trong các chiến lược Ấn Độ-Thái Bình Dương cuối cùng chính lại giúp củng cố chính sách gây ảnh hưởng của Trung Quốc trong khu vực.RFI Tiếng Việt xin trân thành cảm ơn giám đốc nghiên cứu Benoît de Tréglodé, Viện Nghiên cứu Chiến lược (IRSEM), Trường Quân sự Pháp, đồng chủ biên số đặc biệt về khu vực Ấn Độ-Thái Bình Dương của tạp chí Hérodote.
7/31/202310 minutes, 10 seconds
Episode Artwork

Thiếu điện gây cản trở cho tham vọng về môi trường của Việt Nam

Việt Nam được đánh giá cao tại Hội nghị COP26 về Khí hậu của Liên Hiệp Quốc ở Glasgow năm 2021 khi cam kết đạt mức phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050. Việt Nam cũng nằm trong số ba nước trên thế giới (Nam Phi và Indonesia) được nhóm G7 viện trợ (15,5 tỉ đô la) để giảm phụ thuộc vào các nhà máy nhiệt điện.  Nhưng từ đó, kế hoạch được ngưỡng mộ dường như giậm chân tại chỗ, trong khi tình trạng hạn hán do biến đổi khí hậu đang khiến Việt Nam thúc đẩy nguồn nhiệt điện.Hạn hán nghiêm trọng trong tháng 06/2023 đã khiến miền bắc Việt Nam chịu cảnh cắt điện luân phiên do các nhà máy thủy điện không có nước hoạt động. Thiếu điện ở miền Bắc đã được cảnh báo vài năm trước, theo ông Nguyễn Anh Tuấn, phó viện trưởng Viện Năng lượng và Môi trường, được trang VnExpress trích dẫn ngày 14/06/2023, nhưng để đưa vào được nguồn điện phải cần ít nhất 3-4 năm, thậm chí lâu hơn. Chưa kể nhiều dự  án nguồn điện lớn chậm tiến độ nhiều năm so với quy hoạch được phê duyệt.Điện là điều kiện cơ bản, tiên quyết để thu hút đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên, để đối phó với tình trạng thiếu điện do hạn hán có nguy cơ xảy ra thường xuyên hơn vì biến đổi khí hậu, nhiệt điện (than, dầu, khí) được đẩy mạnh hết công suất, và như vậy, chưa thể thực hiện ngay những tham vọng trung hòa khí phát thải. Ngoài ra, Quy hoạch điện VIII, được công bố sau thời gian dài trì hoãn, vẫn tập trung sử dụng nhiên liệu hóa thạch. Ngoài than, khí hóa lỏng trở thành một phần cơ bản của cơ cấu năng lượng, trong khi đây cũng là một nguồn nhiên liệu góp phần làm Trái đất nóng lên. Phải giải thích nghịch lý và vòng luẩn quẩn này như thế nào ? RFI Tiếng Việt đặt câu hỏi với ông Éric Mottet, giảng viên Trường Đại học Công giáo Lille, nhà nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Quan hệ Quốc tế và Chiến lược Pháp (IRIS).RFI : Nhóm G7 cam kết tài trợ cho Việt Nam 15,5 tỉ đô la Mỹ để giúp Việt Nam thực hiện mục tiêu trung hòa khí phát thải gây hiệu ứng nhà kính từ nay đến năm 2050. Nhóm G7 đặt ra những điều kiện gì ? Và Việt Nam cam kết gì ? Éric Mottet : Đúng là có một thỏa thuận giữa các nhà lãnh đạo Việt Nam với nhóm được gọi là “các đối tác quốc tế”. Hai bên nhất trí một hợp tác đối tác (JETP) trị giá 15,5 tỉ đô la đầu tư công và tư, từ 3 đến tối đa là 5 năm, có nghĩa là tới khoảng năm 2028. Điều thú vị trong hợp tác đối tác này là một nửa ngân sách là do các đối tác quốc tế công cấp, như Ngân hàng Phát triển châu Á. Nửa còn lại, khoảng 7,75 tỉ đô la, là từ các ngân hàng tư nhân của châu Âu, châu Á hoặc Mỹ. Nhưng khoản đầu tư 7,75 tỉ đô la, tương đương khoảng 50% tổng ngân sách, sẽ chỉ được giải ngân nếu như lĩnh vực công đầu tư ồ ạt vào các chương trình giúp Việt Nam bắt đầu chuyển đổi năng lượng. Đổi lại, Việt Nam phải đáp ứng những yêu cầu gì ? Thực ra những yêu cầu đó không quá đáng. Đây là điểm đáng ngạc nhiên. Nhóm G7 yêu cầu cho đến năm 2030, Việt Nam giảm 30% lượng khí thải CO2, tăng thêm 47-48% lượng điện từ năng lượng tái tạo và giảm lượng điện than. Và để thực hiện được những mục tiêu đó, các nước G7 sẽ hỗ trợ Việt Nam triển khai toàn bộ khung pháp lý mới, thực hiện chuyển hóa xanh, nền kinh tế xanh của Việt Nam. Việt Nam được yêu cầu cải thiện hiệu quả năng lượng và tăng cường mạng lưới điện. Cải thiện hiệu quả năng lượng có nghĩa là Việt Nam phải tiêu thụ ít điện hơn. Đây là điều mà chúng ta đã thấy phần nào trong thời gian vừa qua.RFI : Quy hoạch Điện VIII đặt trọng tâm vào sự kết hợp các loại năng lượng, trong đó có khí hóa lỏng (LNG). Tuy nhiên, việc vận chuyển và chuyển đổi khí LNG đặt ra vấn đề về phát thải khí CO2 ! Éric Mottet : Đúng là hiện giờ Việt Nam, ít hướng đến tiêu thụ khí hóa lỏng, đã triển khai một dự án đầy tham vọng bởi vì có đến 13 trạm vận hành sẽ được xây dựng để tiếp nhận khí hóa lỏng. Nhưng việc này cũng đặt ra vấn đề về chuyển đổi năng lượng của Việt Nam, như chị nêu. Đúng là khí hóa lỏng không gây ô nhiễm môi trường như than, ít hơn 50% so với than, nhưng sẽ phát thải nhiều khí CO2, kể cả khí metan, trong quá trình sản xuất, vận tải và tiêu thụ. Đó là một nguồn năng lượng gây ô nhiễm. Nhưng đáng tiếc, tôi cho rằng hiện giờ Việt Nam không có quá nhiều lựa chọn do khó khăn trong cung ứng khí đốt tự nhiên của Nga, bị trừng phạt do chiến tranh Ukraina. Nhưng qua sự kết hợp các nguồn năng lượng tương lai này, Việt Nam cho thấy quyết tâm đa dạng hóa các nguồn năng lượng tiềm năng, trong đó có khí hóa lỏng được xếp ngang với điện gió, điện mặt trời. Đúng là nghịch lý khi muốn sử dụng khí hóa lỏng để thúc đẩy quá trình chuyển đổi năng lượng. Nhưng phải nói là hầu hết các nước Đông Nam Á đều gộp khí hóa lỏng vào chiến lược chuyển đổi năng lượng của họ, cho nên Việt Nam không phải là trường hợp cá biệt. Đó là điều mà người ta thường thấy ở khắp châu Á.RFI : Miền bắc Việt Nam bị cắt điện luân phiên vào đầu mùa hè. Tình hình chỉ có thể ổn định trở lại vào cuối năm. Hạn hán là một trong nhưng nguyên nhân gây thiếu điện. Điện than được huy động để bù phần nào. Thế nhưng đây lại cũng là một nghịch lý giữa thực tế và mục tiêu môi trường được vạch ra trong chiến lược chung ?Éric Mottet : Tình trạng thiếu nước nghiêm trọng đã xảy ra, nhất là ở miền bắc Việt Nam nơi nhiều nhà máy thủy điện bị giảm sản lượng 30-40%. Vấn đề này là rất lớn bởi, vì cần biết là khoảng 40-50% điện ở miền bắc Việt Nam là nhờ vào thủy điện. Tình trạng này diễn ra theo chu kỳ, có nghĩa là sẽ kéo dài vài tháng, gây khó khăn cho sản xuất điện và kéo theo hệ quả nghiêm trọng về cung cấp.Ngoài khó khăn của thủy điện, phải nói thêm khó khăn về cung ứng than mà Việt Nam gặp phải, nhất là than nhập từ Indonesia không đến đúng hạn. Vừa bị hạn hán khiến sản lượng điện giảm, vừa bị chậm trễ trong nhập khẩu than nên các nhà máy nhiệt điện không hoạt động hết công suất, dẫn đến hệ quả là cắt điện hàng loạt, đôi khi không báo trước. Chúng ta đã thấy có rất nhiều phàn nàn từ các nhà công nghiệp nước ngoài gửi đến chính phủ Việt Nam để nói rằng chuyện cắt điện là không bình thường, hoặc nếu phải cắt thì ít ra họ phải được báo trước.Vấn đề này mang tính tình thế. Than được tiêu thụ nhiều hơn để sản xuất điện vì các nhà máy thủy điện không còn khả năng cung cấp đủ lượng điện cho tất cả các doanh nghiệp được thành lập ở Việt Nam trong những năm gần đây. Đúng là có một nghịch lý, nhưng chính phủ Việt Nam tỏ ra khá yên tâm, vì đây chỉ là vấn đề tạm thời. Tình hình sẽ cân bằng trở lại vào cuối năm, ít ra là hy vọng thế !RFI : Các loại hình năng lượng tái tạo đã phát triển ở Việt Nam từ nhiều năm qua, nhưng dường như không được khai thác một cách hợp lý. Người ta nói đến lãng phí. Phải giải thích hiện tượng này như thế nào, trong khi Việt Nam lại bị thiếu điện ?Éric Mottet : Đối với những người biết Việt Nam thì hiểu rằng việc này có lẽ do mạng lưới vận tải và lưu trữ điện và năng lượng vô cùng yếu kém. Theo một nghiên cứu mới được công bố, chính phủ Việt Nam thẩm định là từ nay đến năm 2030, có lẽ cần phải đầu tư 15 tỉ đô la để xây dựng và hiện đại hóa khoảng 36.000 km đường điện trung thế và cao thế. Ngoài ra, cũng cần kinh phí để xây dựng hoặc chuẩn hóa 170.000 trạm biến thế giúp lưu trữ phân phối điện. Chúng ta thấy rõ là có một nhu cầu lớn về mặt hiện đại hóa vấn đề tải điện. Đây đúng là một vấn đề lớn cho Việt Nam với những đợt cắt điện nghiêm trọng. Cho nên hiện giờ, Việt Nam đang cố dựa vào nhiều đối tác khắp thế giới. Tôi thấy Nga vừa mới ký một thỏa thuận với Việt Nam để hiện đại hóa hệ thống vận tải điện. Phải giải thích hiện tượng này như thế nào ư ? Hệ thống hiện đang đặt ra vấn đề và phần nào khiến cả chính phủ cũng như các đối tác chán nản. Chúng ta thấy hiện tượng thừa ở nhiều vùng sản xuất năng lượng tái tạo như năng lượng mặt trời. Nhưng mạng lưới điện đang bị quá tải và không thể quản lý được lượng điện dư thừa này hay đơn thuần là chỉ chuyển đến các khu vực tiêu thụ. Đây là một ví dụ về khó khăn, có những vùng sản xuất quá nhiều điện nhưng lại không thể chuyển điện đến những vùng bị thiếu, nhất là ở miền bắc hiện nay. Do đó, Việt Nam đang suy tính để cùng với các đối tác nước ngoài đầu tư những khoản tiền lớn để có thể chuyển điện từ vùng này sang vùng khác trong tương lai và tránh lặp lại vấn đề thiếu điện như ở miền Bắc Việt Nam hiện nay. RFI : Ông nêu ở trên là các nước G7 đề nghị Việt Nam giảm tiêu thụ điện. Chúng ta cũng đã nói đến tình trạng thiếu điện. Những vấn đề này có thể tác động đến sức hấp dẫn của Việt Nam đối với đầu tư và doanh nghiệp nước ngoài, trong khi Việt Nam vẫn còn bất cập về quỹ đất cho doanh nghiệp nước ngoài ? Éric Mottet : Về mặt chính thức, chính phủ Việt Nam đã yêu cầu các ngành công nghiệp giảm 2% lượng tiêu thụ năng lượng hàng năm cho đến năm 2030. Nhưng trên thực tế, chúng tôi đã trao đổi với một số người và họ cho biết một số ngành công nghiệp được yêu cầu giảm 10% lượng điện tiêu thụ, thay vì 2%. Việc này đã gây ra một vài căng thẳng nhỏ và lo lắng trong một số lĩnh vực công nghiệp mới chỉ bắt đầu hoạt động ở Việt Nam được vài năm, từ gia công đến các ngành công nghiệp nặng như luyện thép, sản xuất nhôm cần tiêu thụ lượng điện lớn. Công ty Điện lực Việt Nam bị yêu cầu giải trình và đưa ra biện pháp khắc phục. Nhiều lĩnh vực công nghiệp chất vấn Công ty Điện lực tại sao họ bị cắt điện và yêu cầu được bồi thường. Có thể nói là đang có một số vấn đề có thể rất nghiêm trọng trong tương lai đối với Việt Nam. Việt Nam đã triển khai chính sách tiếp nhận đầu tư nước ngoài trên toàn lãnh thổ nhưng hiện giờ lại không thể cung cấp điện theo tỉ lệ thông thường. Về lâu dài, việc này có thể khiến các tập đoàn lớn đã hoạt động ở Việt Nam như Samsung hay Apple dời một phần hoạt động khỏi đất nước. Và như vậy sẽ không thuyết phục được những doanh nghiệp khác đến Việt Nam hoạt động.Vì vậy, năng lượng là một vấn đề vô cùng nhạy cảm ở Việt Nam, có thể dẫn đến việc giảm đáng kể đầu tư vào Việt Nam và như vậy tác động đến phát triển kinh tế của đất nước. Cho nên cần phải theo dõi vấn đề này. Cách đây 3-4 năm, tôi nói vấn đề của Việt Nam liên quan đến đất đai, có nghĩa là quản lý đất như thế nào, hoặc việc thu hồi đất gây ra hàng loạt vấn đề. Hiện giờ, vấn đề đất đai vẫn còn đó, nhưng tôi cho là đã bị đẩy xuống hàng thứ hai, sau những khó khăn về năng lượng và cung cấp điện cho các nhà máy phải hoạt động 24/24 giờ để có thể có lãi.Chính phủ Việt Nam dường như hiểu hết vấn đề này. Họ đang cố tìm kiếm các đối tác nước ngoài để có thể giúp Việt Nam sản xuất điện một cách ổn định. Nhưng mọi chuyện chưa được giải quyết và sẽ cần đến những khoản đầu tư khổng lồ. Cần phải hiểu khoản đầu tư 15,5 tỉ đô la của nhóm G7 chủ yếu là các khoản vay, rất ít viện trợ. Dù có lãi suất rất ưu đãi so với tỉ giá trên thị trường chung, đó cũng là những khoản tiền phải hoàn trả.Tôi cho là tình hình hiện giờ khá là kịch tính. Nhưng chính phủ Việt Nam sẽ phải rất lanh lợi, mở rộng được các mối quan hệ đối tác trong nhiều lĩnh vực để có thể tiếp tục có chính sách phát triển dựa trên đầu tư trực tiếp nước ngoài, qua đó thu hút các công ty nước ngoài vào Việt Nam.RFI Tiếng Việt xin trân thành cảm ơn ông Éric Mottet, giảng viên Trường Đại học Công giáo Lille, nhà nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Quan hệ Quốc tế và Chiến lược Pháp (IRIS).
7/24/202310 minutes, 49 seconds
Episode Artwork

Việt Nam bảo vệ lợi ích trong bối cảnh xung đột nước lớn Nga - Mỹ - Trung ngày càng trầm trọng

Mỹ, Trung, Nga lại bộc lộ những căng thẳng, phức tạp tại Diễn đàn Khu vực ASEAN ngày 14/07/2023 ở Jakarta, Indonesia. Ngoại trưởng Hoa Kỳ Antony Blinken kêu gọi các nước Đông Nam Á đoàn kết trước chính sách mang tính « cưỡng ép » của Bắc Kinh. Trong khi  chưa bao giờ lên án Matxcơva xâm lược Ukraina, Trung Quốc thắt chặt hợp tác quân sự, kinh tế với Nga để làm đối trọng với Hoa Kỳ, trong đó phải kể đến cuộc tập trận đang diễn ra gần biển Nhật Bản. Tại Jakarta, ngoại trưởng Nga Sergei Lavrov nóng giận khi bị các nước phương Tây chỉ trích về cuộc xâm lược Ukraina. Mỹ bị Nga đổ trách nhiệm về mọi vấn đề trên thế giới. Còn Washington tiếp tục coi Trung Quốc là đối thủ chính về lâu dài dù luôn tìm cách kiểm soát căng thẳng để tránh bùng lên thành xung đột. Những chuyến công du Bắc Kinh của quan chức cấp cao Mỹ (ngoại trưởng Mỹ, bộ trưởng Tài Chính, đặc sứ Mỹ về biến đổi khí hậu) trong thời gian gần đây cho thấy Washington « chủ động tìm cách nói chuyện với Trung Quốc ». Về chuyến công du Bắc Kinh hai ngày 18-19/06 của ngoại trưởng Blinken, anh Nguyễn Thế Phương, nghiên cứu sinh chuyên về an ninh hàng hải và các vấn đề hải quân, Đại học New South Wales (Úc), nhận định với RFI Tiếng Việt, đó là nhằm « xoa dịu căng thẳng Đài Loan và giúp cho tình hình ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương dịu xuống một chút trong bối cảnh cuộc chiến của Nga ở Ukraina ».Indonesia, nước chủ nhà ASEAN 2023, cũng cảnh báo « Ấn Độ - Thái Bình Dương không nên là đấu trường mới » và khu vực « phải được ổn định ». ASEAN cũng không muốn trở thành « mặt trận ủy nhiệm cho những nước khác ». Mối quan hệ căng thẳng giữa Mỹ với Nga và Trung Quốc không có lợi cho các nước trong khu vực, đặc biệt là Việt Nam vì Hà Nội giữ quan hệ chặt chẽ với cả ba nước.Bắc Kinh muốn "hất cẳng" Mỹ khỏi những khu vực gần Trung QuốcĐiều này càng khiến Việt Nam phải duy trì được chính sách ngoại giao khéo léo, tinh tế hơn. Với Trung Quốc, Việt Nam ủng hộ chủ trương « hai bên cần tuân thủ sự đồng thuận… về xử lý thỏa đáng các vấn đề trên biển, tích cực triển khai, chú trọng hơn nữa hợp tác cùng có lợi… », theo phát biểu của ông Vương Nghị, người đứng đầu ngành ngoại giao Trung Quốc, khi gặp ngoại trưởng Việt Nam Bùi Thanh Sơn ở Jakarta.Đối với ASEAN, Trung Quốc tỏ thiện chí hơn khi nhất trí thúc đẩy việc đúc kết Bộ Quy tắc Ứng xử ở Biển Đông từ nay đến năm 2026. Tuy nhiên, Bắc Kinh muốn hất Mỹ ra khỏi khu vực khi tiếp tục yêu cầu hạn chế sự hiện diện và hoạt động của các nước không nằm trong vùng biển tranh chấp. Trung Quốc có thể gây sức ép đến mức nào ? Anh Nguyễn Thế Phương giải thích : « Trung Quốc luôn luôn, về cả ngoại giao cũng như thông qua những công cụ khác, yêu cầu Mỹ không được can dự vào công việc và những mối quan hệ quốc tế ở khu vực gần Trung Quốc. Trong một số trường hợp, họ phản ứng cực kỳ mạnh đối với những hành vi mà Trung Quốc diễn giải là Mỹ can thiệp quá nhiều vào tình hình an ninh cũng như chính trị ở khu vực, thứ nhất là ở khu vực Biển Đông, thứ hai là biển Hoa Đông và thứ ba là vấn đề Đài Loan.Nhưng vấn đề ở chỗ Mỹ sẽ tìm một số cách thức để họ có thể cân bằng mối quan hệ bởi vì cả hai bên đều cần nhau trong một số lĩnh vực từ kinh tế, tài chính cho tới một số vấn đề an ninh phi truyền thống, ví dụ biến đổi khí hậu, môi trường. Họ biết rằng họ đang cạnh tranh lẫn nhau, biết rằng trong một số trường hợp, họ đang giẫm chân lên nhau và những cạnh tranh này có thể căng thẳng hơn, nóng hơn. Nhưng về cốt lõi, cạnh tranh Mỹ-Trung trong khu vực và trên toàn cầu trong tương lai chắc chắn sẽ càng ngày càng tăng. Những việc họ đang làm chỉ là cố gắng không để cạnh tranh vượt ngoài tầm kiểm soát, đặc biệt trong vấn đề Đài Loan. Vì một trong những điểm mà nhiều nhà phân tích lo ngại nhất trong quan hệ Mỹ-Trung là xung đột Đài Loan bùng nổ ngay trong giai đoạn cuộc chiến Nga-Ukraina diễn ra. Nếu như vậy sẽ hoàn toàn không có lợi cho cả Trung Quốc, cả Mỹ và cho nền kinh tế toàn cầu nói chung vì nó sẽ tạo ra những khủng hoảng rất lớn.Cho nên những gì họ đang làm, những gì họ phát ngôn là cố gắng kiểm soát căng thẳng, kiểm soát cạnh tranh giữa hai siêu cường ở một mức độ mà cả hai bên đều có thể chấp nhận được, cũng như không ảnh hưởng tới lợi ích của toàn bộ khu vực nói chung, trong bối cảnh khu vực châu Á-Thái Bình Dương là cực tăng trưởng vô cùng quan trọng trên thế giới và trong bối cảnh cuộc chiến Nga-Ukraina đang xảy ra ».Nga suy yếu, Việt Nam mất đi một đối quan trọng với Trung Quốc và Mỹ Việt Nam duy trì quan hệ ngoại giao với Matxcơva, mới đây tiếp phó chủ tịch Hội đồng An ninh Quốc gia Nga Mevedev, sau đó là chánh án Tòa án Tối cao Liên bang Nga Lebedev. Chủ tịch Duma Quốc gia Vyacheslav Victorovich Volodin lẽ ra đã đến thăm Việt Nam ngày 25-26/06 nếu không xảy ra vụ binh biến của Wagner. Tuy nhiên, Nga đang dần phụ thuộc hơn vào Trung Quốc. Đây có phải là tín hiệu bất lợi cho Việt Nam không ? « Việc một trong những đối tác quan trọng nhất của Việt Nam từ sau năm 1975 tới giờ là Nga, thế mạnh về quốc phòng cũng như về ngoại giao của họ yếu đi, rõ ràng đó là một bất lợi. Bởi vì trong mảng quốc phòng an ninh cho tới cuộc chiến của Nga-Ukraina thì Nga được coi là một trong những đối tác giúp Việt Nam cân bằng với Trung Quốc, đặc biệt là trong những yếu tố mang tính quốc phòng bởi vì trước cuộc chiến Nga và Ukraina, 70% số vũ khí được Việt Nam nhập khẩu là từ Nga và trong một số lĩnh vực, ví dụ dầu khí và năng lượng, Việt Nam dựa vào công nghệ cũng như là những viện trợ của Nga rất là lớn.Cho nên, đứng dưới góc độ Việt Nam, việc Nga yếu đi cả về kinh tế lẫn mặt ngoại giao và quốc phòng, đó là điều hoàn toàn không có lợi, đặc biệt có thể nhận thấy rằng sau cuộc chiến Nga và Ukraina thì Nga đang dần dần phụ thuộc nhiều hơn vào Trung Quốc đặc biệt là về kinh tế và tài chính. Rõ ràng đứng dưới góc nhìn của Việt Nam, điều đó khiến cho Việt Nam mất đi một đối trọng tương đối quan trọng, không chỉ với Trung Quốc mà với cả Mỹ ». Để giảm những tác động tiêu cực rõ ràng từ cuộc chiến Nga và Ukraina, Việt Nam đã cố gắng đa dạng hóa các mối quan hệ quốc phòng an ninh, nhưng vẫn phải duy trì mối quan hệ nhất định với Matxcơva. Anh Nguyễn Thế Phương giải thích :« Có thể nói từ đầu tháng 6 tới nay là hàng loạt bước đi mà giới quan sát nhận định đó là những bước đi đa dạng hóa mối quan hệ ngoại giao quốc phòng của Việt Nam, không chỉ là với Trung Quốc, thủ tướng Phạm Minh Chính thăm Trung Quốc, không chỉ với Mỹ khi mà tàu sân bay Mỹ thăm Việt Nam, không chỉ với Nga mà còn với những nước khác như là Ấn Độ khi mà bộ trưởng Quốc Phòng Phan Văn Giang qua thăm Ấn Độ, với Nhật Bản khi mà tàu Izumo và nhóm tầu tác chiến thăm cảng Cam Ranh, với Hàn Quốc khi mà tổng thống Hàn Quốc qua thăm Việt Nam mới đây. Rõ ràng Nga vẫn sẽ đóng vai trò quan trọng bởi vì Nga, nói gì thì nói, cũng là một trong những mối quan hệ truyền thống với Việt Nam. Nga dù gì cũng là quốc gia đối tác chiến lược toàn diện nên đứng dưới góc độ lịch sử và ngoại giao, Việt Nam vẫn phải duy trì mối quan hệ nhất định với Nga nhưng đồng thời Việt Nam cũng đã cố gắng mở rộng quan hệ đối tác và sẽ cố gắng giảm bớt sự phụ thuộc về cả mặt năng lượng cũng như mặt an ninh quốc phòng đối với Nga và dần dần tìm những đối tác mới ngoài Nga trong việc nhập khẩu vũ khí cũng như trong vấn đề về chuyển giao các loại công nghệ quốc phòng, năng lượng mới từ các quốc gia khác ví dụ như Hàn Quốc, Nhật, Úc. Đúng, sự suy giảm vị thế của Nga khiến cho Việt Nam dần dần tách ra khỏi Nga và tìm cách đa dạng hóa những mối quan hệ khác, tìm những đối tác mới. Và như vậy sẽ tốt cho Việt Nam hơn là chỉ gắn vấn đề an ninh, quốc phòng chỉ vào một hoặc hai đối tác duy nhất ».Việt Nam bảo vệ lợi ích trong bối cảnh xung đột nước lớnCuộc phản công của Ukraina hiện tiến triển chậm do Nga đã có thời gian chuẩn bị phòng thủ, cho nên chiến tranh Ukraina sẽ còn kéo dài. Tuy nhiên, nếu đứng ra làm trung gian và giả sử hòa giải thành công, vị thế của Trung Quốc sẽ khác. Việc đó có tác động như nào đến Việt Nam, trong mối quan hệ với các bên tham chiến và với Hoa Kỳ ?« Thứ nhất, phải xác định là việc Trung Quốc có thể thành công đóng vai trò “trung gian hòa giải” giữa Nga và Ukraina là thấp lắm, nếu không muốn nói là cực thấp vì có hai vấn đề. Thứ nhất ai cũng biết rằng Trung Quốc là nước ủng hộ Nga về mặt ngoại giao, ai cũng biết rằng trong trường hợp chiến tranh kéo dài thì người hưởng lợi trong một số phạm vi vẫn là Trung Quốc. Cho nên uy tín của Trung Quốc ở thời điểm hiện tại là chưa đủ để có thể đóng một vai trò có ý nghĩa trong vấn đề giải quyết cuộc chiến Nga-Ukraina. Nói tóm lại là thấp, ít có khả năng xảy ra. Đó là vấn đề thứ nhất mà mình phải thống nhất quan điểm như vậy.Thứ hai, thực tế cũng không cần phải nói tới cuộc chiến Nga-Ukraina, tức là bây giờ Trung Quốc đang gia tăng ảnh hưởng ở những khu vực trước đây thuộc ảnh hưởng của Nga. Ví dụ Trung Á, đặc biệt gần đây Trung Quốc làm trung gian cho tái kết nối mối quan hệ ngoại giao giữa Ả Rập Xê Út và Iran, vốn là một lĩnh vực mà Mỹ có tiếng nói bởi vì dù sao Ả Rập Xê Út vẫn là đồng minh của Mỹ trong khu vực. Sự tham gia của Trung Quốc vào khả năng đàm phán giữa Nga và Ukraina là có, với một chính sách chủ động của Bắc Kinh trong vấn đề tăng cường ảnh hưởng của Trung Quốc trên toàn cầu nhưng thành công ở thời điểm hiện tại là không cao.Thực tế mà nói, tác động của cuộc chiến Nga-Ukraina tới Việt Nam chủ yếu ở thời điểm hiện tại liên quan tới vấn đề kinh tế nhiều hơn. Và vấn đề muôn thưở của Việt Nam vẫn là làm thế nào để bảo vệ lợi ích của Việt Nam trong bối cảnh xung đột nước lớn càng ngày càng trầm trọng hơn so với cách đây khoảng 5-10 năm. Rõ ràng xung đột Mỹ-Trung hiện tại đã nghiêm trọng hơn rất nhiều. Và chỉ cần một bước đi sai lầm, hoàn toàn lợi ích của các nước nhỏ, trong đó có Việt Nam, đặt trong bối cảnh cạnh tranh đó, sẽ bị ảnh hưởng rất lớn ».RFI Tiếng Việt xin trân thành cảm ơn anh Nguyễn Thế Phương, Đại học New South Wales, Úc.
7/17/20239 minutes, 36 seconds
Episode Artwork

Cấm chiếu Barbie, Việt Nam có phản ứng thái quá ?

Những người hâm mộ Barbie tại Việt Nam sẽ không thể đến rạp xem một trong những bộ phim Hollywood được mong đợi nhất mùa hè này. Phim Barbie đã bị cấm chiếu vì có sử dụng hình ảnh đường lưỡi bò - một yêu sách của Trung Quốc về chủ quyền trên Biển Đông, gây tranh chấp ở Đông Nam Á từ nhiều năm qua.   “Ai kiểm soát Biển Đông trong thế giới của búp bê Barbie ?” là câu hỏi mà Politico đặt ra, Barbie đã bị cuốn vào vòng xoáy địa chính trị trước thông tin Việt Nam cấm chiếu bộ phim của hãng Warner Bros. Cụ thể, hôm 03/07/2023, báo chí trong nước đưa tin Cục trưởng Cục Điện Ảnh Vi Kiến Thành xác nhận cấm trên toàn lãnh thổ Việt Nam phim Barbie “vì có chứa hình ảnh đường lưỡi bò”. Bản đồ thế giới, với những nét chì màu sắc của trẻ con và một số đường đứt đoạn, chỉ xuất hiện chưa đầy 2 giây trong trailer của phim Barbie. Yêu sách đường 9 đoạn của Trung Quốc, không chỉ gây tranh chấp chủ quyền với Việt Nam mà cả với Philippines, Malaysia, Brunei và Đài Loan, đã bị Tòa trọng Tài La Haye bác bỏ vào năm 2016, theo Công ước Liên Hiệp Quốc về luật biển 1982.Phim Barbie, quy tụ dàn diễn viên nổi tiếng như Margot Robbie, Ryan Gosling,… kể về cô búp bê Barbie, sống ở Barbie Land, bị đuổi khỏi vùng đất này vì có ngoại hình không hoàn hảo. Không còn nơi nào để đi nên cô đã quyết định rời khỏi thế giới của mình để đến khám phá sự thật của vũ trụ - thế giới của con người, đi tìm hạnh phúc của mình. Ngay sau thông báo cấm chiếu, tất cả lịch chiếu phim, các áp phích quảng cáo phim Barbie đã bị dỡ bỏ tại các rạp chiếu phim Việt, bất chấp lời giải thích từ hãng sản xuất Warner Bros., cho rằng bản đồ đó chỉ là “những hình ảnh do trẻ con vẽ nguệch ngoạc bằng chì màu, và không đưa ra bất cứ tuyên bố (về chủ quyền nào)”.  Phát ngôn viên bộ Ngoại Giao Việt Nam, Phạm Thu Hằng khẳng định với báo chí rằng “việc quảng bá, sử dụng các sản phẩm, ấn phẩm có 'đường 9 đoạn', là vi phạm các quy định và không được chấp nhận tại Việt Nam”.  Phản ứng của Hà Nội không phải đơn lẻ, Phillipines cũng xem xét cấm chiếu bộ phim này. Vụ việc đã thu hút sự chú ý của công luận trong nước và quốc tế, về một bộ phim Mỹ, được cho là “quảng cáo” yêu sách chủ quyền của Trung Quốc ở vùng biển tranh cãi.  Trang DailyMail của Anh trích dẫn lời của thượng nghị sĩ Ted Cruz về vụ việc, cho rằng ê kíp làm phim của đạo diễn Greta Gerwig “cố xoa dịu đảng Cộng Sản Trung Quốc”. Phát ngôn viên của thượng nghị sĩ Hoa Kỳ khẳng định “Trung Quốc muốn kiểm soát những gì mà người Mỹ nhìn, nghe, và cả suy nghĩ của họ, tận dụng thị trường điện ảnh khổng lồ ở Trung Quốc để ép buộc các công ty Mỹ đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền của đảng Cộng Sản Trung Quốc, giống như cách mà nhà sản xuất phim Barbie đã làm với bản đồ…” Trong mục tạp chí Việt Nam tuần này, RFI đã phỏng vấn chuyên gia Carl Thayer, giáo sư danh dự tại Đại học New South Wales ở Úc, ông cũng từng giảng dạy tại Học viện Quốc Phòng Úc.RFI : Việt Nam và Trung Quốc có quan hệ đối tác chiến lược toàn diện, nhưng vấn đề tranh chấp chủ quyền giữa hai nước làng giềng vẫn tồn tại từ nhiều năm qua. Gần đây, vài ngày sau khi thủ tướng Phạm Minh Chính kết thúc chuyến thăm  tại Trung Quốc, Việt Nam đã thông báo cấm chiếu phim Barbie của Hollywood vì có bản đồ chỉ ra yêu sách đường lưỡi bò. Theo ông, ý nghĩa thực sự của vụ việc này là gì  ? Carl Thayer: Nếu chúng ta nhìn lại xa hơn, tính đến cả chuyến thăm của tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đến Trung Quốc vào năm ngoái. Trong cả hai chuyến thăm của ông Trọng và ông Phạm Minh Chính, vấn đề về Biển Đông là một trong những chủ đề thảo luận chính. Việt Nam đã phải chịu áp lực từ Trung Quốc vào năm 2017, 2018, 2019, 2020, và đã phải nhượng bộ, từ bỏ hợp đồng với công ty khai thác dầu khí Repsol hay công ty dầu khí của Nga trên Biển Đông. Sau đó, tình hình có bớt căng căng thẳng, nhưng năm nay, Trung Quốc đúng là đã gia tăng áp lực, tăng cường hoạt động trên Biển Đông, gần như hàng ngày. Do vậy, Việt Nam đang làm cách tốt nhất về mặt ngoại giao để khiếu nại Trung Quốc, nhưng đồng thời cũng phải xét đến mối quan hệ quyền lực giữa hai bên.   Việt Nam lo ngại rằng yêu sách của Trung Quốc - một vấn đề khá nhạy cảm, có thể bị làm ngơ và có thể được chấp nhận một cách tự nhiên. Trong công pháp quốc tế, có một điều gọi là sự ưng thuận ( acquiescence), là khi một nước cố áp đặt một yêu sách nào đó, yêu cầu các nước khác không đến khu vực mà họ tuyên bố chủ quyền. Nếu không ai khiếu nại và làm như những gì được yêu cầu, điều này có nghĩa là họ đồng thuận với tuyên bố đó. Và nước đó, trong trường hợp này là Trung Quốc, có quyền để kiểm soát khu vực này.  RFI : Phản ứng của Việt Nam có tác dụng gì hay không, đối với đối nội và đối ngoại ?  Carl Thayer: Năm 2003, Việt Nam đã thông qua chính sách vừa đấu tranh, vừa hợp tác. Việc cấm chiếu phim là một hành động đấu tranh, dù nhỏ, để cho mọi người thấy là Việt Nam chống lại sự gây hấn của Trung Quốc ở biển Đông, chống lại một yêu sách bị tuyên bố là bất hợp pháp theo công pháp quốc tế. Theo tôi, trong bối cảnh nội bộ tại Việt Nam thì đây là một hành động quan trọng mà chính quyền Hà Nội phải làm.  Tuy nhiên, theo tôi, cấm chiếu phim Barbie là một phản ứng thái quá của Việt Nam, nhưng tôi có thể hiểu rằng nó giống như một vết thương đã đóng vảy rồi lại bị cậy ra. Là một chuyên gia, khi nhìn vào tấm bản đồ, tôi ngay lập tức thấy rằng bản đồ sử dụng trong phim có đường 9 đoạn, nhưng tôi cho rằng phần lớn mọi người trên thế giới không nhận ra điều này. Bộ phim không có thông điệp chính trị nào và Barbie cũng không liên quan đến mối quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc, cô ấy cũng không đi thăm các mỏ dầu ở Biển Đông.  Đối với việc cấm phim Barbie, phản ứng thái quá này phản tác dụng, vì ở bên ngoài lãnh thổ Việt Nam, nhiều người vốn đã mong chờ phim ra mắt, thì nay ngày càng nhiều người muốn đi xem phim đó và hỏi rằng họ đang tranh cãi về vấn đề gì ?  Trung Quốc sẽ không phải nói gì và chỉ ngồi đằng sau xem tất cả các tranh cãi đó. Vấn đề là không phải do chính phủ Trung Quốc hay một cơ quan nào đó của Bắc Kinh sản xuất ra bản đồ này. Họ không bán bản đồ có đường lưỡi bò cho tất cả các rạp chiếu phim trên thế giới, và không tuyên rằng : vì ai đã xem phim có bản đồ đó nên phải chấp nhận sự kiểm soát của Trung Quốc.  RFI : Yêu sách đường lưỡi bò của Trung Quốc không chỉ xâm phạm lãnh hải của Việt Nam mà của các nước trong khu vực như Brunei, Philiipines,…Liên quan đến việc kiểm duyệt sách báo và các ấn phẩm giải trí có chứa hình đường 9 đoạn, phải chăng Việt Nam là nước cứng rắn nhất. Philippines gần đây cũng đưa ra ý định cấm chiếu phim Barbie. Ông đánh giá như thế nào về phản ứng của các nước trong khu vực ?  Carl Thayer: Về phía Philippines, tôi nghĩ rằng đó là trường hợp đặc biệt vì dưới sự lãnh đạo của tổng thống Marcos, Philippines cũng như Việt Nam, đã có phản ứng mạnh mẽ trong việc chống lại sự đe doạ và quấy rối từ phía Trung Quốc, cứng rắn hơn nhiều so với chính phủ của Duterte trước đó. Việt Nam và Philippines là đối tác chiến lược nhưng quan hệ hai bên lại không được tốt đẹp như những gì được mong đợi. Sự cứng rắn của hai nước trong vấn đề với Trung Quốc là một cách thể hiện sự đoàn kết. Về phía Indonesia, đây là một trường hợp rất thú vị vì ngay từ ban đầu, quan điểm của Indonesia là : không tranh cãi với ai cả vì Indonesia đúng luật. Malaysia thì có phần yên ắng. Brunei là nước im lặng nhất. Vào năm 2009, hay 2019, 2020, nhiều nước đã khiếu nại về đường 9 đoạn, Malaysia là nước đầu tiên đệ trình bổ sung lên Ủy ban ranh giới thềm lục địa Liên Hiệp Quốc, Việt Nam, Indonesia cũng theo sau, Brunei chỉ có bộ Ngoại Giao đưa ra tuyên bố. Trường hợp của Philippines khá thú vị. Vào năm 2009, khi Trung Quốc lần đần đưa ra những yêu sách về đường 9 đoạn, Việt Nam và Malaysia đã đệ trình một khiếu nại chung, Philippines đã phản đối khiếu nại đó vì Việt Nam và Philippines có những tranh chấp lãnh hải chưa được giải quyết. Còn giữa Việt Nam và Indonesia, hai nước mới chỉ mới đạt  đồng thuận về ranh giới đường biển cách nay vài tháng.   Các quốc gia Đông Nam Á không muốn gây chiến một cách không cần thiết về bộ phim của Mỹ. Vụ việc này không giống như là hồi năm 2009, khi Trung Quốc lập bản đồ và đệ trình yêu sách của mình lên Liên Hiệp Quốc, mà tất cả các nước phải phản đối.  RFI : Đây không phải là lần đầu tiên Việt Nam cấm chiếu phim của Hollywood, nhưng tại sao vụ việc này lại được một số chính sách của Hoa Kỳ và  truyền thông quốc tế quan tâm đến vậy ? Carl Thayer: Truyền thông quốc tế quan tâm đến vấn đề này vì có liên quan đến địa chính trị, liên quan đến Trung Quốc. Báo chí nhân dịp này giải thích về yêu sách đường 9 đoạn của Trung Quốc… Đối với các quốc gia, hoặc chính trị gia không ủng hộ chế độ Cộng Sản, họ chỉ coi đây là một phần trong chính sách kiểm duyệt. Có những thứ bị kiểm duyệt nghiêm trọng hơn, như về các văn bản chính trị hay quyền con người hay tự do, nhưng lần này chỉ là một sản phẩm thương mại.  Báo chí quốc tế không có ý định chọn phe nhưng họ coi lệnh cấm của Cục điện Ảnh Việt nam là lệnh cấm từ chính phủ Việt Nam. Khi mà búp bê Barbie được đặt cạnh bản đồ gây tranh cãi, nhiều tờ báo muốn thu hút sự chú ý, đã đem Việt Nam làm trò cười vì có phản ứng thái quá, như thể là Barbie đang chiến đấu với Việt Nam. Gần đây, không chỉ riêng phim Barbie bị cấm chiếu vì đường lưỡi bò, chuyến lưu diễn của Black Pink, nhóm nhạc đình đám Hàn Quốc tại Việt Nam cũng đã có nguy cơ bị hủy vì có sử dụng bản đồ có chứa đường 9 đoạn. 
7/11/20239 minutes, 7 seconds
Episode Artwork

Đồng bằng sông Cửu Long: Cây trồng thích ứng với biến đổi khí hậu

Vào giữa tháng 5, bộ Nông Nghiệp Việt Nam đã kêu gọi các tỉnh, thành phố đề ra những giải pháp ứng phó với nguy cơ hạn hán, thiếu nước, xâm nhập mặn do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu kèm với tác động của hiện tượng El Nino năm nay. Tình trạng này dĩ nhiên sẽ có tác động đến ngành nông nghiệp của Việt Nam. Tuy nhiên, hiện giờ, nhờ có kế hoạch và cây trồng thích ứng với biến đổi khí hậu, cho nên riêng vùng đồng bằng sông Cửu Long chưa bị tác động nhiều. Các cơ quan khí tượng trên thế giới đều xác nhận hiện tượng El Nino đã chính thức quay trở lại vào đầu tháng 6, tức là sớm hơn 1 hoặc 2 tháng so với những lần xuất hiện trước đây. Việc El Nino trở lại dẫn đến thiếu hụt mưa ở nhiều khu vực, kéo theo nhiệt độ trên toàn cầu tăng cao, tình trạng nắng nóng gay gắt hơn.Riêng Việt Nam vào tháng 5 vừa qua đã ghi nhận nhiệt độ cao kỷ lục. Vào ngày 07/05, ở Nghệ An, có nơi nhiệt độ cao nhất đo được lên tới 44,2 độ, một kỷ lục mới về nhiệt độ đo được ở Việt Nam từ trước đến nay.Theo cảnh báo nói trên của bộ Nông Nghiệp Việt Nam, tình trạng hạn hán, thiếu nước và xâm nhập mặn có nguy cơ xảy ra trong mùa khô năm 2023 tại một số tỉnh Trung Bộ; và nguy cơ xảy ra ở cấp độ cao, kéo dài ở một số vùng trên cả nước.Trả lời RFI Việt ngữ qua điện thoại ngày 13/06/2023, giáo sư Võ Tòng Xuân, một trong những chuyên gia nông nghiệp hàng đầu của Việt Nam, ghi nhận về tình hình thời tiết tại vùng đồng bằng sông Cửu Long: “ Bây giờ là thời của biến đổi khí hậu, những quy luật về thời tiết mà ông bà mình có kinh nghiệm từ cả trăm năm nay không còn áp dụng được nữa. Ở nước mình, mọi người đều thấy rõ ràng là có nơi thì đang rất nóng, nơi thì đang bị ngập. Ví dụ như ở miền Trung, vùng Thanh Hóa bị ngập , trong khi đó đồng bằng sông Cửu Long thì lại rất nóng.Chúng tôi thấy rằng trong hơn 40 năm nay, quy luật của thời tiết khí hậu không còn áp dụng được trong thời đại biến đổi khí hậu nữa, cho nên việc sắp xếp lại mùa vụ, cũng như sử dụng các giống lúa, giống cây trồng phải theo cái mà mình có thể đoán được. Vùng đồng bằng sông Cửu Long là ở hạ lưu. Thường thường ở thượng lưu, như Trung Quốc, Tây Tạng, họ xây rất nhiều đập, bị xem là gây ảnh hưởng đến thời tiết và khí hậu ở hạ lưu. Nhưng chúng tôi quan sát thấy rất rõ là vào năm 2013, khi tôi đi khắp đồng bằng sông Cửu Long và đi qua Thái Lan, tôi cũng thấy là khi đồng bằng sông Cửu Long đang bị hạn hán, thiếu nước trong các kênh rạch ở vùng mặn, thì ở Thái Lan lúc đó cũng thiếu nước. Đọc báo Bangkok Post, tôi thấy hình ông thủ tướng đi thăm Vân Nam thì đất cũng khô nứt nẻ, tức là trên kia cũng bị khô hạn. Ở thượng nguồn họ đóng đập để giữ nước ở trên đó thì ở dưới này mình thiếu nước, như thật sự thì trên đó cũng thiếu nước, bởi vì vấn đề phá rừng dọc theo sông Mekong khiến cho ở phía bắc, ở thượng nguồn, rừng cũng bị phá rất nhiều.” Tuy nhiên, tại vùng đồng bằng sông Cửu Long, theo giáo sư Võ Tòng Xuân, biến đổi khí hậu chưa có ảnh hưởng nhiều đối với nông nghiệp, nhất là đối với cây lúa, do vùng này đã có kế hoạch về mùa vụ cũng có các loại cây trồng thích ứng với biến đổi khí hậu: “ Ở vùng phía bắc đồng bằng sông Cửu Long, giáp ranh với Campuchia, sông Mekong mới vào đến Việt Nam, có một hệ thống từ cái kênh được gọi là kênh trung ương. Sau ngày hòa bình lập lại, nhà nước đã cho đào kênh đó để lấy nước  từ sông Cửu Long đưa vào vùng Đồng Tháp Mười. Từ kênh trung ương đó, nước được đưa đến các kênh sườn, để nước được chan hòa trong vùng Đồng Tháp Mười. Vùng đó không bao giờ thiếu nước ngọt và nước mặn cũng không bao giờ lên được đến đó. Chúng tôi cùng với các chuyên viên của bộ Nông Nghiệp cũng đã khoanh một vùng rộng trên một triệu rưỡi hecta của đồng bằng sông Cửu Long, thành vùng lúa thâm canh hai hoặc ba vụ với giống lúa ngắn ngày. Nhưng theo quy hoạch về lâu dài, vùng này sẽ trồng cây ăn trái, bằng cách lên liếp để tôn cao các liếp này. Giữa hai liếp thì có một mương lớn để tích nước trong mùa mưa, để qua đến mùa khô còn nước để tưới lên cây ăn trái. Một số diện tích của Đồng Tháp, Tiền Giang, Long An, người ta đang làm rất tốt."Còn ở vùng ven biển thì trước đây, vì thiếu gạo, cho nên sau ngày hòa bình lập lại, thống nhất đất nước, người dân ở đây hưởng ứng lời kêu gọi của chính phủ, tập trung sản xuất lương thực để không bị đói. Tình hình sản xuất tại đây hiện nay như thế nào, giáo sư Võ Tòng Xuân cho biết tiếp: "Các nhà khoa học cũng tham gia nghiên cứu các giống lúa ngắn ngày, thay vì giống lúa cao sản của Viện Lúa Quốc tế, trồng mất từ 110 ngày đến 120 ngày. Bên Thái Lan cũng trồng giống lúa này, nhưng bên Việt Nam mình thì mình chọn ra giống lúa dưới 100 ngày để có thể trồng 2 hoặc 3 vụ. Dọc theo bờ biển, vì an ninh lương thực nên người ta cũng lấy những giống lúa cao sản để trồng ở những vùng mặn. Những vùng này chỉ có nước ngọt và nước mưa trong mùa mưa thôi, nhưng trong mùa khô, mùa nóng, thì nước mặn lên. Nhưng vì muốn trồng được lúa, cho nên nhà nước tốn rất nhiều tiền để đắp những đập ngăn mặn, đào những mương, con kênh, để lấy nước ngọt ít ỏi trong mùa khô dẫn về vùng mặn để trồng lúa, năm nào cũng bị thiệt hại kể cả khi không có El Nino, tại vì trồng trái với thiên nhiên. Từ khi có nghị quyết 120 của chính phủ cuối năm 2017, thì chúng ta mới quy hoạch lại vùng dễ bị hạn và bị ngập mặn hàng năm dọc theo biển này thành vùng lúa và tôm. Trong mùa mưa thì trồng lúa, năng suất rất cao. Trong nước ngọt ở những vùng trồng lúa, bà con nông dân thả thêm con tôm càng xanh. Như vậy mùa mưa vừa có lúa vừa có tôm, nhưng khi dứt mưa thì lúa đã gặt rồi, bây giờ cho nước mặn lên, bà con lại chuẩn bị để nuôi tôm thẻ, nuôi tép, v.v… Việc nuôi tôm này không bị ảnh hưởng bởi nước mặn, bởi vì tôm thích nước mặn. Nhờ vậy mà lợi tức của nông dân đã tăng rất nhiều. Nuôi tôm thay vì trồng lúa thì có lợi tức cao ít nhất là bốn lần so với trồng lúa.Có thể nói là, với quy hoạch mới từ năm 2017, tác động của biến đổi khí hậu cũng có nhưng rất ít, nếu có xảy ra là ở vùng giữa của đồng bằng sông Cửu Long, giữa vùng lúa cao sản ở trên và vùng lúa, tôm ở ven biển.”  Nhưng nói như thế không có nghĩa là vùng đồng bằng sông Cửu Long, vựa lúa chủ yếu của Việt Nam, không còn bị đe dọa, bởi vì biến đổi khí hậu và mực nước biển dâng cao diễn ra nhanh hơn dự báo, gây ra nhiều hiện tượng thời tiết cực đoan, sẽ ảnh hưởng ngày càng mạnh đến sinh kế và đời sống của người dân. Và như đã nói ở trên việc khai thác tài nguyên nước trên thượng nguồn châu thổ, đặc biệt là xây dựng đập thủy điện đã làm thay đổi dòng chảy, giảm lượng phù sa, suy giảm nguồn lợi thủy sản, xâm nhập mặn sâu hơn, tác động tiêu cực nông nghiệp của vùng này.
7/3/20239 minutes, 7 seconds
Episode Artwork

Hơn một năm người Việt tại Nga thích ứng với tình hình mới

Tình hình căng thẳng suốt ngày 24/06/2023 ở Rostov và nhiều địa phương khác ở phía tây nam Nga do vụ « binh biến » do ông chủ tập đoàn lính đánh thuê Wagner phát động. Chiến dịch chống khủng bố được triển khai ở Matxcơva. Từ sáng sớm, các địa điểm quan trọng nhất ở thủ đô Matxcơva đã được tăng cường bảo vệ. Nhiều chốt kiểm tra được dựng lên gần điện Kremlin và Duma, rà soát gầm xe ô tô. Quảng trường Đỏ bị phong tỏa. Xe ben chở vật liệu xây dựng được huy động về cản đường đoàn xe thiết giáp của Wagner trong trường hợp tiến vào thành phố. Nhưng ngay trong đêm 24 và ngày 25/06, hầu hết các biện pháp an ninh lần lượt được dỡ bỏ tại các vùng Tula, Rostov, Voronezh, Lipetsk sau khi Yevgeny Prigozhin chấp nhận hòa giải của tổng thống Belarus và ra lệnh cho quân trở về căn cứ tại chiến trường Ukraina. Người dân ở Matxcơva đã trở lại cuộc sống bình thường tuy cửa hàng, công sở vẫn đóng cửa nghỉ thứ Hai 26/06 để tình hình lắng dịu hoàn toàn. Tuy nhiên, một vụ « binh biến » như vậy chưa bao giờ có thể được hình dung sẽ xảy ra ở Nga, theo nhận định của ông Phi (tên đã được thay đổi vì lý do an toàn), sống từ hơn 30 năm qua ở Matxcơva, khi trả lời RFI Tiếng Việt ngày 25/06 :« Sự kiện ngày hôm qua (24/06) thực sự là chưa bao giờ, không ai nghĩ tới bởi vì chuyện nội bộ thì mình không nói, nhưng chuyện kiểu như hôm qua, Wagner nổi dậy như thế thì không ai nghĩ tới bởi vì cùng nhau chiến đấu trên một mặt trận mà tự nhiên trở về phản lại như vậy. Dân thì không ai nghĩ tới chuyện đấy ».Một năm biến động và khó khănSau hơn một năm tổng thống Vladimir Putin phát động « chiến dịch quân sự đặc biệt » để « giải trừ tân phát xít » ở Ukraina, lần đầu tiên người dân ở Matxcơva cảm thấy bạo lực ở sát sườn. Cũng vì « chiến dịch » này, từ hơn một năm qua, Nga chịu khoảng 10 đợt trừng phạt từ các nước phương Tây, bị cắt đứt giao thương, các tập đoàn phương Tây lần lượt rút khỏi thị trường Nga. Cuộc sống hàng ngày và công việc kinh doanh của cộng đồng người Việt bị tác động như nào từ một năm qua ? Ông Phi cho biết : « Tất nhiên là tác động rõ ràng, tác động rất là nhiều bởi vì nó hạn chế môi trường đi lại của người dân và tất cả mọi thứ. Nhưng nói chung người Việt mình chịu khó, khịu khổ quen rồi. Nói thật là có khó hơn một tí nhưng nhờ cái trí, cái khôn khéo của người Việt mình nên vẫn xoay sở được, người ta xoay theo chiều hướng đó. Hồi xưa có thể làm được nhiều hơn, nhưng bây giờ người ta làm ít hơn một chút nhưng cuộc sống vẫn thoải mái, vẫn còn hơn ở Việt Nam. Nói thực sự như vậy !Còn đối với thị trường Nga rất rộng lớn, người dân cũng có khó thêm một chút, nhưng thực sự không đến nỗi như ở ngoài nói vào. Ở trong này mới biết là vẫn thoải mái. Vào cửa hàng, hàng hóa vẫn tràn lan, đầy thịt cá, cái gì cũng có. Sống thoải mái, không có vấn đề gì ! »Về việc truyền thông phương Tây đưa thông tin về tình trạng khan hiếm hàng hóa, những khó khăn của nền kinh tế Nga, ông Phi cho là một số thông tin nói quá sự thật:« Tôi hay điện hỏi bạn bên Đức, chị em bên Pháp, nên vẫn biết tình hình ở bên Tây với bên Nga, trên thông tin đại chúng không giống nhau mà khác hẳn. Nói chung là bên kia nhiều khi đưa ra nhiều tin không chính xác, cứ đưa tin như thể để mị dân. Bên này cảm thấy bình thường thì bên kia cảm thấy ồn ào, không đúng với thực tế lắm. Người ở trong cuộc mới biết. Những ngày đầu tiên sau sự kiện, chỉ một tuần thôi là hàng hóa hơi khan hiếm. Bởi vì sao ? Vì người dân sợ, đua nhau ôm hàng về nhà hết. Nhưng sau một tuần thì hàng hóa chất đầy trong cửa hàng, không ai mua. Lần đầu thì thế, nhưng sau đó hàng hóa trong cửa hàng thoải mái, không thiếu thứ gì ». Thu hẹp kinh doanh, sản xuấtTheo ông Phi, cộng đồng người Việt ở Nga rất đông, khoảng 80.000 đến 100.000 người, cao hơn nhiều con số thông kê chính thức. Hầu hết làm kinh doanh, lập công ty may mặc, nên ít nhiều gặp khó khăn : « Về chính sách thì không có gì thay đổi. Người Việt ở Nga chủ yếu là buôn bán, nhưng hiện vấn đề đi lại rất khó, ở vùng xa. Người buôn bán phải hạn chế dòng vốn. Trước đây, người ta bỏ ra 10.000 đô la thì bây giờ chỉ bỏ ra 5.000 đô la để buôn bán, họ giữ lại 5.000 đô la để có việc gì thì phải lường trước được. Cho nên bây giờ buôn bán hạn chế lại, không mở rộng như trước. Ví dụ ngày xưa mở 4-5 cửa hàng thì bây giờ nghĩ đến mở lại khoảng 2 cửa hàng để mình vừa làm việc vừa tồn tại, để vượt qua khó khăn, chứ không thể tung ra một lần cả 5-6 cửa hàng. Đó là ví dụ về một khó khăn ».Về phía các xưởng may mặc, ông Phi giải thích :« Về may mặc, có người hồi trước có xưởng có 50 công nhân, thì giờ họ hạn chế còn 30 công nhân, giảm 20 công nhân để bớt chi phí. Nói chung để tồn tại, người ta vẫn tồn tại, nhưng để làm ra được nhiều như hồi xưa thì không có bởi vì tiêu thụ giảm. Đồng lương của người Nga có phần hạn chế nên họ tiêu thụ ít đi ». Ông Phi nhớ lại hồi mới đến Nga, sản phẩm may mặc do người Việt sản xuất tại chỗ bán chạy. Ngoài những khó khăn gần đây do tác động từ chiến tranh, các công ty, xưởng may mặc của người Việt hiện còn phải chịu cạnh tranh với hàng Trung Quốc giá rẻ, tràn lan thị trường:  « Bây giờ Trung Quốc và Nga mở cửa nên hàng Trung Quốc sang thoải mái, không thiếu gì hết. Trước đây dân Nga có thể mua một cái áo, cái quần mặc một vài năm, nhưng bây giờ họ không như thế, họ chạy theo mốt. Có thể mùa xuân họ mua cái áo này, mùa đông người ta mua áo khác mặc. Hồi xưa chất lượng vải quần áo kém giờ chất lượng cao lên, chứ không như ngày xưa nữa. Bây giờ mình (người Việt ở Nga) với Trung Quốc vẫn cạnh tranh nhau nhưng người Việt thông minh ở chỗ, giả sử cùng một mặt hàng như vậy nhưng mầu sắc thay đổi khác nhau. Ví dụ một kiểu áo có 5 mầu, nhưng 5 mầu đó chỉ bán được ở Trung Quốc, còn ở Nga chỉ bán chạy được 3 mầu, thì không thể đưa từ Trung Quốc đủ cả 5 mầu sang Nga trong khi chỉ bán chạy được 3 mầu. Trong khi người Việt Nam thì chỉ may ra 3 mầu bán chạy, làm ra là bán hết ngay lập tức. Người Việt thông minh ở chỗ ấy, ở bên này phải có những kinh nghiệm như thế ».Khó khăn trong di chuyển quốc tếMột khó khăn khác được ông Phi nhắc đến là việc đi lại giữa Nga và Việt Nam:« Hồi xưa bay thẳng từ Matxcơva về Việt Nam chỉ mất 9 tiếng thôi, nói chung rất là thuận lợi với giá cả rất rẻ đối với người Việt, đi về chỉ mất khoảng 1.000 đô la. Bây giờ đi lại vẫn thuận lợi, nhưng giá cả tăng lên vì phải đi qua một công ty vận tải khác của nước ngoài, của UAE (Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất), phải dừng ở Dubai, hoặc đi Qatar về Việt Nam, nên giá cả tăng, bây giờ lên đến tận 1.500 đô la. Khó khăn cho người Việt là mỗi khi đi về mất đến 18 tiếng nên không thuận tiện như hồi trước chỉ mất 9 tiếng ». Do các biện pháp trừng phạt của phương Tây, giữa Matxcơvà và Hà Nội hiện không còn đường bay thẳng. Tuy nhiên, tại hội thảo « Các biện pháp tháo gỡ khó khăn, trở ngại  trong hợp tác kinh tế-thương mại giữa Việt Nam và Nga trong điều kiện mới » diễn ra ngày 15/05 tại Matxcơva, kế hoạch bay thẳng Irkutsk-Hà Nội từ ngày 04/06 đã được nhắc đến. Công ty hàng không Irkustk (IrAero) của Nga đang nghiên cứu các đường bay giữa các thành phố phía đông của Nga và Nha Trang. Theo trang web của đại sứ quán Việt Nam tại Nga, đại sứ Đặng Minh Khôi nhấn mạnh thời điểm hiện nay là cơ hội đẩy mạnh đầu tư tại Nga. Hai nước cần khẩn trương triển khai những biện pháp như về phương thức thanh toán, vận tải… để tránh các biện pháp trừng phạt của phương Tây nhắm vào Nga. Giá trị xuất nhập khẩu hàng hóa giữa Việt Nam và Nga năm 2022 chỉ đạt khoảng 3,6 tỷ đô la, giảm 50% so với con số 7,1 tỉ đô la trong năm 2021. Tình hình các tháng đầu năm 2023 vẫn không khả quan. Thương mại song phương phục hồi chậm : 4 tháng đầu năm đạt 1,01 tỷ đô la, giảm 36,4% so với cùng kỳ năm 2022.Hơn một năm đầy biến động và khó khăn, cuộc sống tại Nga có nhiều thay đổi, nhưng ông Phi vẫn tin có thể tích góp để gửi về xây dựng Việt Nam.« Tôi sống ở bên Nga 30 năm rồi. Người Việt như chúng tôi coi nước Nga như là tổ quốc thứ hai. Số người Việt ở bên Nga là rất đông, gần 80-100 nghìn người. Người ta vẫn sống thoải mái. Người ta cảm giác rằng môi trường đó so với Việt Nam, người dân mình ở đây vẫn sống được, làm ra tiền để gửi về tổ quốc, để xây dựng tổ quốc. Cho nên môi trường vẫn là tốt, nói thực sự như thế. Người Việt ở Nga so với người ở Việt Nam thì mức sống chênh lệnh rất là xa ».Vụ « binh biến » tại Nga ngày 24/06/2023 do chủ tập đoàn bán quân sự Wagner phát động đã buộc chủ tịch Duma (Hạ viện) Liên bang Nga Vyacheslav Viktorovich Volodin hoãn chuyến thăm chính thức Việt Nam dự kiến từ ngày 25-26/06. Đại sứ quán Việt Nam tại Matxcơva cũng chuẩn bị sẵn sàng các phương án bảo hộ, hỗ trợ công dân.Trong thông cáo ngày 24/06, bộ Ngoại Giao Việt Nam nhấn mạnh đến « tình hình an ninh, trật tự ở thành phố Rostov-on-Don và một số khu vực phía nam của Nga có những diễn biến phức tạp » và đưa ra nhiều khuyến nghị : Không đến tỉnh Rostov, tỉnh Voronezh và các tỉnh thành khác dọc biên giới phía tây và tây-nam nước Nga. Tuân thủ nghiêm ngặt các quy định, khuyến cáo của chính quyền sở tại ; Hạn chế ra khỏi nhà khi không thực sự cần thiết. Khi ra ngoài, nhất thiết phải mang theo giấy tờ tùy thân và giấy tờ chứng minh cư trú hợp pháp tại Nga ; Không đến gần các khu vực quân sự, kho xăng dầu và các địa điểm khác được quy định hạn chế tiếp cận ; Không trao đổi, bình phẩm về tình hình hiện nay trên điện thoại di động và mạng xã hội.
6/26/20239 minutes, 30 seconds
Episode Artwork

Hạn hán, cắt điện gây tác hại cho nền kinh tế Việt Nam

Tình trạng nắng nóng và hạn hán kéo dài từ nhiều tuần qua, nhất là ở miền bắc Việt Nam, đang gây rất nhiều khó khăn cho các doanh nghiệp, đặc biệt là các nhà đầu tư nước ngoài, trong nhiều lĩnh vực từ điện tử, xe hơi cho đến dệt may.  Là quốc gia có dân số nay đã lên đến gần 100 triệu dân và được xem là có mức tăng trưởng kinh tế thuộc loại cao nhất Đông Nam Á, Việt Nam tiêu thụ điện ngày càng nhiều, nhưng các nguồn năng lượng ngày càng ít, nhất là vì để tuân thủ các cam kết về chống biến đổi khí hậu, Việt Nam buộc phải từ bỏ dần dần điện than. Riêng ở miền bắc, phân nữa nhu cầu về điện là được cung cấp từ các đập thủy điện, nhưng hồ chứa của các đập thủy điện đang cạn dần do tình trạng hạn hán, nắng nóng, do những hiện tượng thời tiết cực đoan mà biến đổi khí hậu khiến cho trở nên trầm trọng hơn. Việt Nam là nơi đặt nhiều nhà máy sản xuất cho các công ty đa quốc gia như Samsung, Foxconn, gia công cho Apple. Nhưng các nhà đầu tư tại Việt Nam nay đang bị ảnh hưởng nặng nề của các điều kiện thời tiết cực đoan, với kỷ lục nhiệt độ nóng hơn 44 độ C và đầu tháng 5. Mực nước nói chung và mực nước các hồ thủy điện nói riêng, xuống đến mức cực kỳ thấp.Trả lời RFI Việt ngữ ngày 16/06/2023, chuyên gia kinh tế Lê Đăng Doanh ghi nhận:“ El Nino đã xuất hiện và tình hình hạn hán ảnh hưởng đến Việt Nam về nhiều mặt. Riêng tại đồng bằng sông Cửu Long, lượng nước chảy và phù sa về đều ít đi, vì vậy ảnh hưởng đến năng suất của cây trồng.Đối với thủy điện, Việt Nam có một tỷ trọng thủy điện rất cao, nhưng các hồ nước ở miền bắc đã bị giảm sút nhiều, mực hồ thủy điện ở Sơn La, thủy điện ở Hòa Bình đều bị giảm sút. Ai cũng rất mong là sắp có mưa để có tăng sản xuất điện từ hồ thủy điện.”Theo báo chí Việt Nam, tại nhà máy thủy điện Thác Bà ở tỉnh Yên Bái, mực nước của hồ chứa đã xuống đến mức thấp nhất từ 20 năm nay, tức là thấp hơn từ 15 đến 20 cm so với mức tối thiểu cần thiết để nhà máy có thể vận hành được.Trong khi nguồn cung cấp điện bị suy giảm mạnh, thì mức tiêu thụ điện lại tăng thêm 20% do người dân sử dụng máy lạnh nhiều hơn trong cái nóng kỷ lục, theo lời ông Nguyễn Quốc Trung, phó Giám đốc Trung tâm điều độ hệ thống điện Quốc gia, được hãng tin AFP trích dẫn. Ông dự báo tình trạng thiếu điện sẽ kéo dài đến tháng 7.Yêu cầu giảm tiêu thụ điệnTheo hãng tin AFP, vào đầu tháng 6, tại nhiều vùng ở miền bắc Việt Nam, nơi có nhiều nhà máy của các tập đoàn nước ngoài, nằm không xa thủ đô Hà Nội, chính quyền đã yêu cầu phải giảm phân nữa tiêu thụ năng lượng, do nguồn cung cấp bị thiếu hụt. Có những ngày, điện bị cắt nhiều giờ, đôi khi không có báo trước và cắt vào giờ chót. Những vụ cắt điện liên tục khiến các Phòng Thương mại Nhật Bản, Hàn Quốc và Châu Âu đã yêu cầu chính phủ Hà Nội có biện pháp nhanh chóng để ngăn chận cuộc khủng hoảng đang gây thiệt hại hàng triệu đôla. Chuyên gia kinh tế Lê Đăng Doanh cho biết: “ Đầu tư nước ngoài tuy vẫn vào Việt Nam, nhưng đã giảm sút. Đại diện các công ty nước ngoài, như củ a các công ty Nhật Bản đã đến Liên đoàn Công nghiệp và Thương mại Việt Nam ( VCCI ) để bày tỏ sự bức xúc và than phiền về việc bị cúp điện. Tôi nghĩ là những lời than phiền đó đã đến tay thủ tướng, nên thủ tướng đã có chỉ thị là trong tháng sáu phải giải quyết dứt điểm việc thiếu điện.Các nhà đầu tư cho chưa quyết định rời khỏi Việt Nam, nhưng vì bị cắt điện, nên một số doanh nghiệp không thực hiện được đúng kỳ hạn trong hợp đồng, tức là không giao hàng được đúng kỳ hạn và đấy cũng là điều đáng tiếc. Thiếu điện thì người lao động cũng bị ảnh hưởng đến đời sống, bởi vì bây giờ là mùa hè đang rất nóng, thiếu điện thì giấc ngủ sẽ không được tốt. Không có điện thì doanh nghiệp không hoạt động được, thu nhập của người lao động cũng sẽ bị giảm sút”.Theo lời ông Susumu Yoshida, Phòng Thương mại Nhật Bản, một lần cúp điện có thể gây thiệt hại đến hơn 190.000 đôla cho 5 xưởng sản xuất trong một khu công nghiệp. Ông cũng cho biết là không thể nào thẩm định được tổng thiệt hại của các khu công nghiệp miền bắc Việt Nam.  Hãng tin AFP cho biết, Hàn Quốc, nhà đầu tư chủ chốt của Việt Nam, cũng than phiền về việc cúp điện liên tục gây ảnh hưởng đến sản xuất. Ông Hong Sun, chủ tịch Phòng Thương mại Hàn Quốc ở Việt Nam, cảnh báo: “ Vấn đề cúp điện sẽ rất nghiêm trọng không chỉ đối với các công ty đã đặt cơ sở ở Việt Nam, mà còn đối với chúng tôi, hiện đang cố thu hút các nhà đầu tư đến đây”.Tại thành phố Hải Phòng, nhiều hiệp hội đại diện cho các doanh nghiệp trong lĩnh vực hậu cần và vận chuyển hàng hải đã đệ đơn kiện Tập đoàn Điện lực Việt Nam EVN. Lý do là cứ mỗi lần cắt điện hơn 6 tiếng đồng hồ, những doanh nghiệp này phải đền bù cho các tàu đang neo đậu chờ ở bến cảng. Những tàu này phải trả tiền neo đậu có thể lên tới 50.000, ngoài số tiền phạt khi giao hàng trễ.Ảnh hưởng đến du lịch Việc cắt điện cũng ảnh hưởng gián tiếp đến ngành du lịch, vì nó gây khó khăn cho các khách sạn và gây phiền hà cho du khách, theo ghi nhận của chuyên gia Lê Đăng Doanh: “Hiện nay Việt Nam đang cắt điện luân phiên, theo từng vùng, vì vậy ngay cả khách sạn 5 sao cũng bị cắt điện, đã phải chạy máy phát điện. Vì chạy máy phát điện nên khách sạn đã phải tăng thêm tiền phòng đối với. Rồi có trường hợp khách quốc tế khi bị mất điện thì đã tỏ vẻ không hài lòng.Việc mất điện thì ảnh hưởng đến sản xuất, nhưng ảnh hưởng đến cả ngành du lịch thì quả là một điều bất lợi, vì có thể nó sẽ làm giảm số lượng du khách. Người ta lan truyền tin đồn là ở Việt Nam đang bị mất điện. Đối với một du khách từ các nước phát triển vốn đã sống quen với điện, đó là điều họ không mong đợi.”Câu hỏi của các nhà đầu tư nước ngoài đang muốn đặt cơ sở sản xuất ở Việt Nam đó là những vụ cắt điện chỉ xảy ra trong lúc hạn hán, nắng nóng, hay sẽ trở nên thường xuyên. Chính phủ Việt Nam, vốn đã đặt ra các mục tiêu đầy tham vọng về trung hòa carbon, muốn tiết kiệm ít nhất 2% lượng điện tiêu thụ mỗi năm trong khoảng thời gian từ 2023 đến 2025.Thibaut Giroux, chủ tịch của Stolz-Miras, một nhà thầu cho các công ty Nestlé, Unilever và Bayer, cho hãng tin AFP biết chính quyền đã yêu cầu ông giảm 10% mức tiêu thụ điện ngay từ nay đến năm 2025, cho dù nhà máy của công ty này đặt tại tỉnh Đồng Nai ở miền Nam, cách xa miền Bắc đang bị ảnh hưởng nặng nề bởi tình trạng cắt điện. Để đáp ứng yêu cầu đó, công ty của ông Giroux, hiện cũng là chủ tịch Phòng Thương mại Pháp tại Việt Nam, phải giảm sản xuất vì chính các máy móc mới tiêu thụ nhiều điện. Nhưng ông than phiền: “ Nếu làm như thế tôi sẽ chết dần chết mòn". Phòng Thương mại Nhật Bản cũng đã gửi cảnh báo: Nếu các biện pháp thích hợp không được triển khai, "một số công ty thành viên có thể xem xét chuyển một số cơ sở sản xuất" ra khỏi Việt Nam.Ngư dân cũng khốn đốnKhông chỉ gây thiếu hụt điện, tình trạng hạn hán, nắng nóng kéo dài còn ảnh hưởng nặng nề đến sinh kế của ngư dân miền bắc Việt Nam, theo một phóng sự của hãng tin AFP ở Yên Bái, khu vực nhà máy thủy điện Thác Bà. Đây là nơi mà nhiều người dân sống chủ yếu nhờ vào nguồn cá của các sông hồ. Nước hồ chứa của đập thủy điện Thác Bà đang cạn dần, mà nước của sông Chảy nằm cách đó không xa nay cũng trở thành giống như một con suối nhỏ. Các giếng cũng bị khô cạn, nông dân trong vùng không còn nước để tưới cho các đồng lúa, thậm chí người dân địa phương lo ngại không còn nước cho sinh hoạt.
6/19/20238 minutes, 47 seconds
Episode Artwork

Việt Nam phải sửa đổi Luật Công đoàn theo đúng cam kết với quốc tế

Để Việt Nam có thể tham gia hiệp định thương mại Đối tác xuyên Thái Bình Dương TPP, Hà Nội đã đồng ý từ bỏ độc quyền về công đoàn, chấp nhận cho thành lập các công đoàn độc lập. Điều khoản này đã được đưa vào Luật Lao động sửa đổi được thông qua tháng 11/2019 và đã có hiệu lực từ ngày 01/01/2021. Nhưng để cho người lao động thật sự có quyền thành lập các tổ chức độc lập với các công đoàn do nhà nước kiểm soát, Việt Nam còn phải sửa đổi Luật Công đoàn. Nhưng có vẻ như Việt Nam không mấy vội vả trong việc sửa đổi luật này. Trong kỳ họp Quốc Hội Việt Nam hiện đang diễn ra, các đại biểu vừa thông qua quyết định là phải đến kỳ họp tháng 5/2024 mới xem xét Luật Công đoàn sửa đổi và đến kỳ họp tiếp vào tháng 10/2024 mới đưa luật này ra biểu quyết. Công đoàn duy nhấtHiện giờ, ở Việt Nam Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam là tổ chức công đoàn duy nhất, nằm dưới sự kiểm soát của nhà nước và đảng Cộng sản Việt Nam. Chủ tịch hiện nay của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, ông Nguyễn Đình Khang, cũng là một ủy viên Trung ương Đảng.Điều 7 Luật Công đoàn năm 2012 quy định “hệ thống tổ chức công đoàn gồm có Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam và công đoàn các cấp theo quy định của Điều lệ Công đoàn Việt Nam. Công đoàn cơ sở được tổ chức trong cơ quan nhà nước, các tổ chức trong nước, đơn vị, doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam.”Trả lời RFI Việt ngữ ngày 20/02/2023, luật sư Hoàng Cao Sang, Công ty luật Hoàng Việt Luật, Sài Gòn, ghi nhận:“ Ở Việt Nam hiện có một công đoàn duy nhất và theo hệ thống ngành dọc. Trên cao nhất là Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, sau đó là các công đoàn cơ sở, một hệ thống công đoàn duy nhất để quản lý, hỗ trợ cho người lao động. Tuy nhiên, trên thực tế, công đoàn không hỗ trợ được gì nhiều cho người lao động, mà chủ yếu mang tính hình thức và mang tính hành chính.Theo Luật Công đoàn thì công đoàn đại diện bảo vệ quyền lợi cho người lao động, hướng dẫn cho người lao động ký kết hợp đồng, bảo vệ người lao động khi xảy ra các tranh chấp với người sử dụng lao động. Tuy nhiên, như tôi đã nói, những quy định đó chỉ mang tính hình thức, còn trên thực tế cũng không giải quyết được vấn đề gì.Bản chất của vấn đề ở đây, đó là công đoàn là do nhà nước lập ra, chứ không phải là do người dân lập ra, không phải là do ý chí của người dân, của người lao động, cho nên hoạt động không hiệu quả. Tôi cho rằng, sắp tới đây, với xu thế hội nhập, cũng như là để đảm bảo quyền lợi của người lao động một cách chính đáng nhất, cần phải sửa đổi những quy định của Luật Công đoàn hiện nay .Việt Nam đã sửa đổi Luật Lao động vào năm 2019 để hội nhập với thế giới theo tinh thần của Tổ chức Lao động quốc tế, nhưng Luật Công đoàn vẫn chưa được sửa đổi. Cho nên, so với tinh thần của Luật Lao động thì Luật Công đoàn vẫn còn chưa phù hợp, hay cách khác là còn lạc hậu so với những sửa đổi của Luật Lao động. Cụ thể là Luật Lao động đã cho người lao động, ngoài công đoàn của nhà nước, có quyền thành lập và có quyền tham gia các tổ chức để bảo vệ quyền lợi của người lao động. Cho nên Luật Công đoàn còn bất cập với quy định về thành lập công đoàn, hay nói rộng hơn là bất cập với quy định về tự do thành lập các tổ chức, các hội của người lao động, cũng như của người dân nói chung.”Chưa phê chuẩn Công ước 87Cũng theo luật sư Hoàng Cao Sang, công ước cuối cùng của Tổ chức Lao động Quốc tế mà Việt Nam hứa phê chuẩn là Công ước 87, liên quan đến tự do lập hội, thành lập công đoàn độc lập, vẫn chưa được Việt Nam ký kết:“Trong năm 2023 này, theo lộ trình thì Việt Nam sẽ ký Công ước 87. Khi Việt Nam ký công ước đó thì đồng thời cũng phải sửa Luật Công đoàn sao cho phù hợp với tinh thần của hội nhập. Việt Nam phải sửa đổi, chứ không thể nào để pháp luật trì trệ khi mình muốn hội nhập để bảo đảm quyền lợi của mình trong cuộc chơi với các nước khác.Tôi nghĩ rằng khi mà trong cuộc đua đã có hai đội trở lên, thì hai đội đều phải có tinh thần thay đổi. Nếu luật cho người lao động quyền thành lập một tổ chức mới, người lao động có quyền tham gia và điều hành các tổ chức đó để bảo vệ quyền lợi của họ, thì bản thân công đoàn của nhà nước cũng phải thay đổi theo tinh thần bảo vệ quyền lợi người lao động và tổ chức các hoạt động hiệu quả hơn. Nếu không hoạt động hiệu quả thì họ sẽ bị đào thải theo quy luật.Đoạn 3 của điều 170 Luật Lao động có quy định là các tổ chức đại diện người lao động bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong việc đại diện bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng của người lao động trong quan hệ lao động. Với quy định đó, các công đoàn của nhà nước cũng như tổ chức do người lao động tự thành lập sẽ hoạt động tốt hơn so với bây giờ.”Hiện giờ Việt Nam chỉ mới trong giai đoạn “góp ý, hoàn thiện dự án luật Công đoàn sửa đổi”, trong khi theo lẽ Luật Công đoàn sửa đổi phải được thông qua ngay từ năm nay. Trước mắt, theo kế hoạch của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, trước ngày 01/03/2023, cơ quan này đã gởi hồ sơ đề nghị xây dựng luật đến Ủy ban Thường vụ Quốc hội để xem xét đưa vào chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2024. Vì sao có sự chậm trễ như vậy, luật sư Hoàng Cao Sang giải thích:“ Luật Công đoàn là một vấn đề nhạy cảm, vì thường ở đây có nhiều người nói rằng thành lập công đoàn độc lập có nghĩa là có nhiều tổ chức dân sự gần giống như là tự phát, như vậy thì nhà nước khó quản lý như trước đây và dẫn đến “bất ổn chính trị” cho Việt Nam. Nhưng theo tôi, nhận định đó là không phù hợp, bởi lẽ vấn đề liên quan đến pháp luật thì phải đặt quyền lợi của người dân lên hàng đầu, quyền lợi của người lao động phải được đảm bảo, đặc biệt là khi Việt Nam tham gia hội nhập quốc tế, sân chơi chung, thì phải có sự thống nhất.Tôi nghĩ rằng quan điểm của một số người cũng dẫn đến việc sửa đổi bổ sung Luật Công đoàn bị chậm trễ. Tôi cho rằng không thể để chậm trễ hơn nữa, chúng ta càng đi chậm thì chúng ta sẽ càng bị tụt hậu so với hội nhập quốc tế”.Tác động của MỹChính là do sự thúc ép của Hoa Kỳ khi thương lượng về Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương TPP, mà Việt Nam đã cam kết chấp nhận sự ra đời của các công đoàn độc lập. Nhưng chính quyền Donald Trump sau đó đã rút Mỹ khỏi thỏa thuận trước khi nó có hiệu lực. Hiệp định TPP nay đã đổi thành CPTPP, tức Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương, mà vẫn chưa có sự tham gia của Mỹ. Tuy vậy, theo trang mạng Nikkei Asia ngày 30/01/2023, chính phủ Hoa Kỳ đang hối thúc Việt Nam thông qua Luật Công đoàn mới. Ông Chad Salitan, tùy viên lao động tại sứ quán Hoa Kỳ ở Hà Nội, nói với Nikkei Asia: “Chúng tôi muốn giải quyết những vấn đề này không phải với tư cách kẻ cả, mà là với tư cách bạn bè, đối tác. Tất cả chúng tôi đều đang cố gắng làm ngày càng tốt hơn trong việc tuân thủ các tiêu chuẩn lao động quốc tế."Ông cho biết các quan chức Hoa Kỳ đang đóng góp ý kiến ​​cho các nhà hoạch định chính sách Việt Nam để bảo đảm luật về công đoàn không chỉ "có trên giấy tờ" và người lao động thực sự có thể tham gia lập một tổ chức để bảo vệ quyền lợi cho họ. Nikkei Asia nhắc lại vào năm 2022, Salitan đã là quan chức đầu tiên của Bộ Lao Động Hoa Kỳ được cử đến làm việc ở Việt Nam, đánh dấu một giai đoạn mới trong các cuộc đàm phán song phương về lao động trong bối cảnh chính quyền Biden đưa ra chính sách thương mại "lấy người lao động làm trung tâm".Salitan cho biết ê kíp của ông và các đối tác Việt Nam đang thảo luận về thương lượng tập thể và quyền tự do hiệp hội để "người lao động có tiếng nói tại nơi làm việc". Theo ông, “các tổ chức đại diện của người lao động sẽ cho phép người lao động có tiếng nói tại nơi làm việc của họ độc lập với Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam”.Nhưng Nikkei Asia trích lời ông Joe Buckley, một chuyên gia về chính sách lao động ở Việt Nam,  cảnh báo rằng các tổ chức này sẽ không phải là công đoàn thực sự, và luật vẫn sẽ hạn chế khả năng mở rộng hoạt động công đoàn ra bên ngoài công ty của họ hoặc tham gia vào các cuộc thảo luận về chính sách.Hơn nữa, ông Joe Buckley lưu ý, Hoa Kỳ không có một cơ chế chính thức nào để buộc Hà Nội phải tuân thủ cam kết của mình. Tuy vậy, các hiệp định CPTPP và EVFTA ( Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam – Liên Âu ) cho phép các thành viên khiếu nại về việc thực thi. Khi được hỏi liệu Hoa Kỳ có đang hợp tác với các thành viên của những khối đó hay không, Salitan nói rằng  thông thường Mỹ "hợp tác với các đồng minh có cùng chí hướng của chúng tôi."Trên trang mạng Fulcrum, chuyên phân tích tình hình các nước Đông Nam Á, ông Joe Buckley tuy vậy cho rằng Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam có thể đóng một vai trò lớn hơn trong việc bảo vệ quyền lợi cho người lao động và trước mắt đã đạt được một số “thành tựu khiêm tốn” trong bối cảnh suy thoái hiện nay ở Việt Nam, khiến đời sống công nhân thêm khó khăn.Nhưng ông Joe Buckley ghi nhận Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam vẫn bị hạn chế lớn nhất, vì đây là một tổ chức do nhà nước lãnh đạo, nằm gọn trong cơ cấu cầm quyền và trực thuộc Đảng Cộng sản, nên khó có thể là đại diện độc lập của người lao động đối với nhà nước và người sử dụng lao động.
6/12/20239 minutes, 7 seconds
Episode Artwork

Vấn đề giá điện vẫn gây cản trở phát triển năng lượng tái tạo ở Việt Nam

Vào giữa tháng 5 vừa qua, thủ tướng Việt Nam Phạm Minh Chính đã thông qua Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050, thường được gọi tắt là Quy hoạch Điện 8. Đây là kế hoạch đã được chờ đợi từ lâu, nhưng việc thông qua đã bị chậm trễ. Ưu tiên phát triển năng lượng tái tạoĐiểm đáng chú ý trong Quy hoạch Điện 8 đó là Việt Nam sẽ ưu tiên phát triển các nguồn năng lượng tái tạo, nhất là điện gió và điện Mặt trời, để sản xuất điện, với mục tiêu là các nguồn điện này sẽ đạt tỷ lệ 30,9-39,2% vào năm 2030. Mục tiêu xa hơn là hướng tới đạt tỉ lệ năng lượng tái tạo 47% theo cam kết của Việt Nam với quốc tế về chuyển đổi năng lượng công bằng (JETP). Quy hoạch cũng đề ra mục tiêu là đến năm 2050, tỷ lệ năng lượng tái tạo sẽ lên đến 67,5 - 71,5%. Hiện giờ, theo số liệu của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), công suất của nguồn điện từ năng lượng tái tạo (điện gió, điện mặt trời) đến cuối năm 2021 đã lên đến gần 20.700 MW, chiếm gần 30% tổng công suất lắp đặt nguồn điện. Đây là một tỷ trọng khá cao, nhưng lại có một nghịch lý là Việt Nam có nguy cơ thiếu điện, nhất là vào mùa cao điểm nắng nóng như hiện nay. Từ đầu 2023 đến nay, EVN liên tục báo động “tình trạng nguy cấp về cung ứng điện”, cụ thể họ cảnh báo hệ thống điện miền Bắc sẽ gặp tình trạng không đáp ứng được nhu cầu trong các tháng 5, tháng 6. Hiện các hồ thuỷ điện đang trong tình trạng thiếu nước, nhiều hồ đã về đến “mực nước chết”, gây khó khăn trong vận hành và cung ứng điện. Trước mắt, chính quyền thủ đô Hà Nội đã phải lấy một quyết định triệt để trong mùa nắng nóng bất thường hiện nay: tắt hết đèn đường ở hai phần ba thành phố kể từ 11 giờ tối, để tránh cho hệ thống cung cấp điện bị quá tải, vào lúc mà người dân sử dụng quá nhiều điện cho máy lạnh và quạt điện. Biện pháp tiết kiệm điện này có thể kéo dài đến cuối tháng 8.Cản trở chính: Giá điệnMột trong những nguyên nhân chính dẫn đến nghịch lý thiếu điện ở Việt Nam đó là vấn đề giá điện sản xuất từ các năng lượng tái tạo (điện gió và điện Mặt trời). Mức giá mà EVN đưa ra bị xem là không đủ để bù đắp vào những chi phí của các nhà đầu tư.Trả lời phỏng vấn RFI ngày 22/05/2023, giáo sư Phạm Duy Hiển, nguyên Viện trưởng Viện Nguyên tử Đà Lạt, nhận định: "Nói chung giá như thế là còn quá thấp. Mới cách đây ít hôm, có đàm phán lại để cho tăng lên một ít, nhưng vẫn không đủ, nhất là bây giờ năng lượng tái tạo phải chuyển sang điện gió ngoài khơi, vì điện gió trên bờ cũng đã khai thác khá nhiều rồi. Nhưng đối với điện gió ngoài khơi, giá mua là 2.200 đồng/kWh thì rõ ràng là chưa được. Nói chung, giá điện là một trong những cản trở. Điện cho người dân thì không có vấn đề gì, vấn đề là điện cho sản xuất, bởi vì trong tổng sản lượng điện tiêu thụ thì điện cho sản xuất chiếm đến gần hai phần ba. Không giải quyết được vấn đề này thì rất là gay go. Điện tốn nhiều đó là cho sản xuất. Phải quy hoạch lại sản xuất, chế biến theo hướng lành mạnh. Phải tăng điện sản xuất như thế nào để các doanh nghiệp dùng điện nhiều thấy là sản xuất không có lãi nữa. Giá điện Việt Nam vẫn còn quá thấp, trong khi đầu tư tốn kém nhiều nên giá thành cao hơn. Không thể không giải quyết được. Nhưng giải quyết thì phải có lộ trình, chứ không thể một lúc mà làm được. Vấn đề giá là phải phân biệt giá bán điện cho ai. Giá đối với người dân, nhất là đối với người dân nghèo, đối với nông nghiệp, hay đối với các dịch vụ như khách sạn, thì không có vấn đề gì, nhưng điện cho mấy anh sản xuất, nhất là mấy anh sản xuất “quá đáng”, ví dụ như sản xuất thép để xuất khẩu. Công nghiệp chế biến cũng không quản lý được theo chất lượng. Hiện nay ở Việt Nam không rõ nhất là chuyện đó, tức là khi nói đến tăng giá điện thì chính phủ cứ nói là không được, vì như thế là ảnh hưởng đến đời sống của dân. Nhưng còn đối với những doanh nghiệp sản xuất thép để xuất khẩu thì ảnh hưởng thế nào? Bây giờ phải giải quyết, mà cái đó mới là quan trọng, chứ còn giá điện tiêu dùng cho người dân có tăng lên ít nhiều cũng không sao. Vấn đề là giá cho công nghiệp chế biến, nhất là những công nghiệp chế biến mà gần như là xuất khẩu điện giá rẻ ra nước ngoài.”Khó khăn về thủ tụcGiáo sư Phạm Duy Hiển lưu ý là các doanh nghiệp ở Việt Nam hiện giờ vẫn còn gặp nhiều khó khăn về thủ tục để có thể được hưởng giá điện sản xuất từ các năng lượng tái tạo theo quy định của nhà nước:“Lâu nay vẫn có cái gọi là giá FIT, tức là giá mua điện gió, điện Mặt trời bao giờ cũng cao hơn mặt bằng giá, để khuyến khích phát triển các năng lượng này. Theo các nghị quyết như nghị quyết 31, đại khái là đến ngày 30/12/2021, nếu doanh nghiệp nào hoàn thành báo cáo thì sẽ được hưởng giá đó, còn sau đó thì không được.Vừa rồi có bổ sung thêm quy định là anh phải báo cho biết là đã hoàn thành công trình theo đúng hồ sơ. Bây giờ đang cãi nhau về việc hồ sơ quá phức tạp, không ai làm kịp. Đây là vấn đề đang rất là vướng mắc. Bây giờ các doanh nghiệp đang kêu trời: bắt tôi nộp hồ sơ mà hồ sơ thì phức tạp quá, không thể hội đủ được!Cho nên, nói về nguyên tắc, Quy hoạch 8 là như thế, nhưng trên thực tế, việc giải quyết có rất nhiều khó khăn.” Nhu cầu điện cho sản xuất: Có hợp lý?Nhìn rộng hơn vấn đề giá điện ở Việt Nam, giáo sư Phạm Duy Hiển cho rằng phải xem xét lại sự hợp lý của mức cầu về điện năng ở Việt Nam, chứ mức cung không thể tiếp tục đáp ứng như hiện nay:“Về vấn đề cung cầu, anh chỉ nói đến “cung” thôi, “cung” chưa đủ thì phải tăng thêm, không ai nghĩ đến “cầu”, không ai tìm hiểu tại sao để cho có một nhu cầu như vậy. Có những anh sản xuất ra để xuất khẩu chủ yếu là nhờ giá điện rẻ. Anh có nhu cầu thì tôi phải thỏa mãn. Tức là người ta chỉ nói đến cái cung thôi, chứ chưa ai để ý là cái cầu vẫn còn sai sót. Cái cầu bao giờ cũng đi trước một bước, tức là anh cần bao nhiêu thì tôi phải thỏa mãn bấy nhiêu. Trong cái gọi là “tăng trưởng xanh”, cái “cầu” đó có đúng không? Cho nên bây giờ phải giải quyết vấn đề đó.Tất cả báo chí, tất cả các nhà kinh tế thảo luận về vấn đề này chỉ nói làm sao cho có đủ điện. Quy hoạch đó là dựa trên cách làm: mỗi năm dự báo tăng trưởng bao nhiêu. Mỗi một tăng trưởng GDP như thế thì tăng trưởng điện là bao nhiêu. Và có cái gọi là hệ số đàn hồi. Thông thường, trước đây, tăng trưởng của Việt Nam là khoảng 6 hoặc 7%, nhưng tăng trưởng điện năng là khoảng 11 hay 12%, tức là gần gấp đôi. Quy hoạch 8 cũng dựa trên nguyên tắc tăng trưởng kinh tế đó, chỉ có điều là nó đi cụ thể hơn: nông nghiệp thì như thế nào, công nghiệp này, công nghiệp kia thì như thế nào, chế biến, dịch vụ thì ra sao. Nhưng vẫn dựa trên tăng trưởng, và như thế tức là tôi không cần biết là cái “cầu” ấy đúng hay sai”.Nói cách khác, chính phủ Hà Nội vẫn chưa tìm ra được một con đường thích hợp để đi đến trung hòa carbon, thông qua việc phát triển năng lượng tái tạo, mà không ảnh hưởng đến phát triển kinh tế.Đây là vấn đề đã được tờ báo Nhật Nikkei Asia nêu lên trong một bài báo đăng trên mạng ngày 02/02/2023. Thách thức đối với chính phủ Việt Nam, theo Nikkei Asia, là tìm cách đưa đất nước tránh xa nhiên liệu hóa thạch, nhưng vẫn giữ giá điện ở mức thấp. Nhu cầu điện đã tăng khoảng 10% một năm do tăng trưởng kinh tế cao. Nhu cầu dự kiến ​​sẽ tăng gấp đôi so với mức hiện tại vào năm 2030 và gấp 5 lần vào năm 2050.Tại hội nghị khí hậu COP26 của Liên Hiệp Quốc vào năm 2021, thủ tướng Phạm Minh Chính đã hứa Việt Nam sẽ đạt được mức trung hòa carbon vào năm 2050. Kế hoạch ban đầu đã bị hủy bỏ khi chính phủ quyết định tìm một nguồn năng lượng để thay thế than đá, vốn vẫn chiếm 50% sản lượng điện hiện nay.Cuộc xâm lược của Nga vào Ukraina vào tháng 2 năm ngoái đã gây thêm khó khăn cho Việt Nam. Giá của khí thiên nhiên hóa lỏng ( LNG ), vốn được kỳ vọng là nguồn năng lượng chính theo kế hoạch mới, đã tăng vọt do tác động của chiến tranh Ukraina. Chính phủ Hà Nội vẫn giữ nguyên quyết định năm 2016 từ bỏ việc xây dựng các nhà máy điện hạt nhân năm. Nhưng trong khi đó, quy mô của các loại năng lượng tái tạo lại có giới hạn cho nên Việt Nam có rất ít lựa chọn cho nguồn điện chính. Khuôn khổ hành động của Việt Nam càng hạn hẹp vì chính phủ vẫn yêu cầu giá điện không được quá cao. 
6/5/20239 minutes, 10 seconds
Episode Artwork

Việt Nam sắp chuyển Covid-19 thành bệnh đặc hữu, công bố hết dịch

Ngày 27/05/2023, Ban chỉ đạo quốc gia phòng chống dịch Covid-19 họp phiên cuối để công bố kết thúc nhiệm vụ. Sau hơn ba năm dịch Covid-19 bùng phát, Việt Nam ghi nhận hơn 11,6 triệu ca nhiễm, đứng thứ 13/231 quốc gia và vùng lãnh thổ và có hơn 43.200 ca tử vong. Dù từ đầu tháng 04/2023, số ca nhiễm mới, bệnh nhân nặng có xu hướng gia tăng, nhưng không nguy cấp nên Việt Nam chuẩn bị hồ sơ để công bố hết dịch. Trước đó, Tổ Chức Y Tế Thế Giới (WHO) công bố Covid-19 không còn là tình trạng khẩn cấp về y tế toàn cầu. Tuy nhiên, tiến sĩ Angela Pratt, đại diện WHO tại Việt Nam, đã khuyến cáo Việt Nam cần tiếp tục theo dõi sát sao năng lực các cơ sở chăm sóc, đồng thời có thể cần điều chỉnh các biện pháp ứng phó phù hợp. Đại diện của WHO nhấn mạnh : « Chúng ta không muốn quay trở lại tình trạng mà các quốc gia phải trải qua trong hơn 3 năm qua. Vì vậy, tất cả những điều trên thực sự rất quan trọng ngay tại thời điểm hiện tại khi mà số ca mắc đang gia tăng tại Việt Nam ». Khuyến cáo được đưa ra vào thời điểm, Việt Nam, cũng như khu vực Đông Nam Á và Tây Thái Bình Dương, ghi nhận số ca nhiễm mới gia tăng mạnh, chiếm tới 40% số ca Covid-19 được báo cáo trên toàn cầu trong chu kỳ 28 ngày gần nhất, theo báo cáo ngày 19/05 của WHO. Trả lời RFI Tiếng Việt ngày 20/05, bác sĩ Trương Hữu Khanh, nguyên trưởng khoa Nhiễm-Thần kinh, Bệnh viện Nhi Đồng 1, nhận định : « Theo tôi, khuyến cáo của Tổ Chức Y Tế Thế Giới đối với Việt Nam là hơi quá. Mới đây thủ tướng chính phủ Việt Nam đã đề nghị bộ Y Tế làm một tờ trình để đưa bệnh Covid ra khỏi nhóm A để trở thành nhóm B, có nghĩa là thành bệnh đặc hữu. Ở Việt Nam phân ra nhóm A, nhóm B. Nhóm A là bệnh truyền nhiễm rất độc hại. Còn nhóm B là bệnh đặc hữu. Và thủ tướng chính phủ đã đề nghị bộ Y Tế làm việc đó. Còn theo tôi, ở Việt Nam, nền miễn dịch gần như vững hơn nhiều nước. Tại vì tỉ lệ chích mũi 3 rất là cao. Cho nên, số người thoát miễn dịch không phải là vấn đề. Tỉ lệ đó rất thấp. Và chúng ta nên nhớ là dù là đặc hữu hay không đặc hữu thì bệnh gì cũng vậy, cũng sẽ có đối tượng nguy cơ, cũng sẽ có người trở nặng. Chứ không bao giờ chúng ta nói là Covid sẽ không hiện hữu hoặc là Covid sẽ không làm một người nào chết hết. Điều đó không đúng vì bây giờ nó đã là một virus của con người ». Đầu tháng 05, số ca nhiễm Covid-19 ở Việt Nam tăng vọt so với những tháng trước, đỉnh điểm là gần 3.400 ca hôm 06/05. Sau nhiều ngày trung tuần tháng 5 ở mức khoảng 2.000 ca, số ca nhiễm mới hàng ngày đã giảm xuống, hiện khoảng 1.100 đến 1.400 ca, theo số liệu đến ngày 26/05. Bác sĩ Trương Hữu Khanh giải thích xu hướng ca nhiễm tăng trở lại ở Việt Nam trong thời gian qua : « Theo tôi, một bệnh lý hô hấp quay trở lại với một virus mà độ miễn dịch của người dân kém đi thì phải mất 3-4 tuần, thậm chí 5 tuần mới lui, cho nên biến thể này có thể sẽ gặp lại những người mà miễn dịch chưa hoàn hảo. Họ sẽ mắc bệnh nhưng sẽ hết, chứ không có gì đặc biệt. Cho nên tiếp tục phát hiện những đối tượng nguy cơ sớm để đưa họ tới bệnh viện, đừng để họ tới trễ. Thứ hai là bù đắp lại vac-xin của những người chưa đủ mũi ». 2023 vẫn miễn phí tiêm vac-xin ngừa Covid-19 Tính đến nay, Việt Nam đã hoàn thành tiêm chủng liều cơ bản cho người từ 12 tuổi trở lên, tiêm tổng cộng hơn 266,4 triệu liều. Phát biểu trong phiên họp của Đại Hội Đồng Y Tế Thế Giới lần thứ 76 tại Geneve ngày 23/05, thứ trưởng Y Tế Việt Nam Nguyễn Thị Liên Hương nhấn mạnh « Việt Nam đạt mức bình quân 273,7 liều vac-xin ngừa Covid-19 đã tiêm/100 người dân, cao gấp 1,6 lần mức trung bình toàn thế giới (170,1) và cao hơn hầu hết các nước phát triển. Tỉ lệ tiêm đủ liều cơ bản của Việt Nam cao gấp 1,4 lần và tỉ lệ tiêm nhắc lại cao gấp 2 lần so với mức trung bình của thế giới ». Tuy nhiên, Tổ Chức Y Tế Thế Giới vẫn tỏ ra lo ngại về độ bao phủ của các liều nhắc lại ở Việt Nam, bởi vì dù tỉ lệ tiêm liều cơ bản rất tốt nhưng tỉ lệ mũi nhắc lại lại không như mong đợi. Mới đây, bộ Y Tế đã lập kế hoạch tiếp tục triển khai tiêm cho các đối tượng mới đến độ tuổi tiêm vac-xin ngừa Covid-19 và tiêm các mũi nhắc lại. Đối tượng được ưu tiên cao là người cao tuổi, người trưởng thành có bệnh nền nặng (như tiểu đường/tim mạch), người có bệnh lý miễn dịch kể cả trẻ em từ 6 tháng tuổi trở lên, phụ nữ có thai và cán bộ y tế tuyến đầu. Đối tượng ưu tiên trung bình là người trưởng thành khỏe mạnh dưới 50 hoặc 60 tuổi không có bệnh nền, trẻ em và trẻ vị thành niên mắc các bệnh nền. Đối tượng ưu tiên thấp là trẻ em và trẻ vị thành niên từ 6 tháng tới 17 tuổi. Theo tính toán, đến hết năm 2023, Việt Nam cần gần 4 triệu liều vac-xin. Năm 2023, tiêm vac-xin ngừa Covid-19 vẫn được miễn phí và có thể lồng ghép với hoạt động tiêm chủng thường xuyên vì Covid-19 sẽ còn hiện diện trong cuộc sống trong tương lai gần. Nguồn kinh phí để thực hiện kế hoạch tiêm phòng này được lấy từ ngân sách nhà nước, Quỹ vac-xin phòng Covid-19 và nguồn viện trợ, tài trợ, hỗ trợ của các tổ chức, cá nhân trong nước, ngoài nước cùng các nguồn vốn hợp tác khác. Làn sóng dịch nhỏ hiện nay ở việt Nam một phần là do biến thể phụ Omicron. Vào cuối tháng 03, trên thế giới ghi nhận khoảng 500 biến thể phụ Omicron nhưng con số này hiện đã lên đến 600. Các biến thể phụ lưu hành ở các nước thì cũng được ghi nhận ở Việt Nam. Liệu những biến thể đó có nguy hiểm hơn không? Bác sĩ Trương Hữu Khanh giải thích : « Thực ra trên thế giới, người ta cũng không thấy những biển thể mới này nguy hiểm. Nó vẫn lây nhanh hơn, và có một số đối tượng sẽ thoát miễn dịch, chứ không phải là tất cả những người khác đều thoát miễn dịch. Cho nên, đó cũng không phải là gánh nặng gì đối với ngành y tế. Chúng ta biết khi một dịch bệnh xảy ra thì số ca bệnh không quan trọng bằng việc có làm quá tải khối điều trị hay không. Đó mới là điều quan trọng. Ở Việt Nam cũng có nhiều dịch bệnh, cả trăm ngàn, mấy trăm ngàn nhưng không quá tải đối với khối điều trị, thì người ta vẫn phòng ngừa như thông thường, chứ không đến nỗi phải huy động giống như đợt đại dịch trước đó ». Tuyên bố hết dịch để phục hồi kinh tế mạnh mẽ hơn Phó giáo sư Đỗ Văn Dũng, trưởng khoa Y tế Công cộng trường Đại học Y-Dược thành phố Hồ Chí Minh, nhận định với trang Tuổi Trẻ (21/05) rằng thời điểm lý tưởng nhất để công bố hết dịch Covid-19 là vào khoảng nửa sau tháng 6 do tình hình dịch hiện nay tương đối lạc quan, khi số ca mắc và tử vong vì Covid-19 đã giảm mạnh. Thủ tướng chính phủ Việt Nam cũng đã yêu cầu bộ Y Tế căn cứ khuyến cáo của Tổ Chức Y Tế Thế Giới và thực tế dịch bệnh Covid-19 tại Việt Nam để xây dựng kế hoạch kiểm soát, quản lý bền vững đối với dịch giai đoạn 2023-2025. Có nghĩa là có thể coi Covid-19 là dịch cúm thông thường ở Việt Nam không ? Bác sĩ Trương Hữu Khanh, nguyên trưởng khoa Nhiễm-Thần kinh, Bệnh viện Nhi Đồng 1, nhận định : « Sắp tới đây tôi nghĩ nó cũng sẽ là một bệnh như những bệnh đường hô hấp khác. Thực sự ở Việt Nam còn nhiều gánh nặng đối với những bệnh chưa có vac-xin hoặc là những bệnh xảy ra hàng năm, như tay chân miệng, sốt xuất huyết có gánh nặng nhiều hơn nhiều so với Covid-19. Cho nên chỉ vài ngàn ca bệnh Covid-19 vẫn không là gì so với các đợt dịch bệnh của sốt xuất huyết hay tay chân miệng. Vì thế đổ sức vào phòng ngừa căn bệnh đó (Covid-19) thì rất tốn kém trong khi cho tới giờ nó không có gì đặc biệt. Mình để lực để phòng ngừa những căn bệnh thông thường mà hàng năm xảy ra mà phải đối phó ». Theo truyền thông Việt Nam, dù chưa chuyển Covid-19 từ nhóm A - các bệnh truyền nhiễm rất độc hại sang nhóm B - các bệnh đặc hữu, nhưng Việt Nam đã chuyển sang giai đoạn « quản lý bền vững » dịch bệnh, như mở cửa biên giới, không cấm đi lại, tổ chức hội họp, sự kiện, không yêu cầu xét nghiệm bắt buộc, nới lỏng cách ly... Hiện chỉ còn một số hoạt động coi Covid-19 là nhóm A như quy định giám sát dịch, chữa bệnh miễn phí cho người nhiễm Covid-19, tiêm vac-xin miễn phí… Điều này cũng có nghĩa khi chuyển Covid-19 sang nhóm B, người bị bệnh sẽ không còn được điều trị miễn phí như trước. Sau khi công bố dịch trên toàn quốc từ ngày 01/04/2020, khoảng hai năm sau, từ đầu năm 2022, nhiều lần thủ tướng Việt Nam đã yêu cầu các đơn vị liên quan tham khảo kinh nghiệm quốc tế, tiến tới bình thường hóa với dịch bệnh, xem Covid-19 là bệnh đặc hữu. Tuy nhiên, bộ Y Tế vẫn chưa cụ thể hóa được các chủ trương này. Kể cả khi đã tiêm đủ hai mũi vac-xin cho nhóm từ 12 tuổi nhưng bộ Y Tế vẫn đề xuất chưa công bố hết dịch vì lo ngại biến thể mới nguy hiểm hơn. Đề xuất xây dựng kế hoạch ứng phó Covid-19 lần này lại diễn ra vào đúng thời điểm Việt Nam có đợt dịch bùng phát nhỏ và có thể xuất hiện các biến chủng mới của virus SARS-CoV-2 trong thời gian tới. Tình hình này khiến Tổ Chức Y Tế Thế Giới đưa ra khuyến cáo và cam kết đồng hành với Việt Nam trong công cuộc phòng chống dịch. Ngoài ra, tổ chức của Liên Hiệp Quốc cũng đưa ra 7 khuyến nghị trong công tác phòng, chống dịch Covid-19 tại các quốc gia khi chuyển từ phòng chống dịch khẩn cấp sang chiến lược kiểm soát dịch bền vững, lâu dài. Công bố hết dịch sẽ giúp Việt Nam mở cửa kinh tế mạnh hơn, tăng tốc phục hồi kinh tế. Do đó, theo ông Trần Đắc Phu, nguyên cục trưởng Cục Y tế dự phòng được báo Tuổi Trẻ trích dẫn hôm 22/05, kế hoạch phòng chống dịch Covid-19 trong thời gian tới của Việt Nam phải « làm sao theo dõi được sát tình hình dịch bệnh để có đáp ứng phù hợp, không bất ngờ, vừa kiểm soát được dịch trong mọi tình huống nhưng không tốn kém, bảo vệ sức khỏe và quyền lợi người dân, đặc biệt lưu ý các hoạt động giám sát, dự phòng cá nhân, tiêm chủng, truyền thông, bảo vệ nhóm dễ bị tổn thương ».
5/29/20239 minutes, 25 seconds
Episode Artwork

Đàm phán về COC: Đối lập quan điểm Việt Nam - Trung Quốc

Do có quá nhiều khác biệt quan điểm, nhất là giữa Việt Nam với Trung Quốc, Bộ quy tắc ứng xử trên Biển Đông ( COC ) không thể sớm được thông qua, cho dù Indonesia, với tư cách chủ tịch luân phiên của ASEAN năm nay, đang cố thúc đẩy các cuộc đàm phán. Kể từ khi Nga xua quân xâm lược Ukraina vào tháng 2/2022, cả thế giới đều lo ngại kịch bản tương tự sẽ xảy ra ở eo biển Đài Loan, tức là là Trung Quốc cũng sẽ đánh chiếm hòn đảo này, thậm chí có những người nêu lên thời điểm của sự kiện này sẽ là 2025 hay 2027, tức là không bao lâu nữa. Nhưng thật ra một điểm nóng khác cũng cần mọi người chú ý đến vì đây mới thật sự là nơi mà hai cường quốc hàng đầu thế giới hiện nay là Hoa Kỳ và Trung Quốc có thể đụng độ với nhau, với nguy cơ làm bùng nổ Thế Chiến Thứ Ba, đó là Biển Đông, vùng biển đầy những tranh chấp giữa các nước trong khu vực, đặc biệt là giữa Trung Quốc với Việt Nam và Philippines.  Trong những năm gần đây, Trung Quốc liên tục có những hành động nhằm xác quyết chủ quyền trên phần lớn Biển Đông. Chính là nhằm tránh cho những vụ va chạm trên biển dẫn đến xung đột vũ trang, vào năm 2002, Trung Quốc và Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) đã ký kết Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC).  Nhưng, như tên gọi của nó, đây chỉ là một “tuyên bố”, hoàn toàn không có tính chất ràng buộc, mà tùy thuộc vào thiện chí thi hành của các bên. Cho nên từ nhiều năm qua, Bắc Kinh và các nước ASEAN đã cố đàm phán nhằm đạt được một Bộ Quy tắc ứng xử trên Biển Đông (COC), một văn bản mà trên nguyên tắc mang tính chất ràng buộc pháp lý, tất cả bên đều phải tuân thủ.  Trả lời RFI Việt ngữ ngày 19/04/2023, nhà nghiên cứu Hoàng Việt, chuyên gia về Biển Đông ở Việt Nam, nhắc lại:  “Ý tưởng về một Bộ quy tắc ứng xử trên Biển Đông COC đã có từ những năm 1990, thời kỳ xảy ra rất nhiều căng thẳng trên khu vực Biển Đông, khi Trung Quốc tấn công Việt Nam ở Gạc Ma, khiến 64 người chết. Sau đó, vào năm 1995, Trung Quốc cũng đã sử dụng biện pháp quân sự để chiếm đoạt Bãi Vành Khăn trong tay quân đội Philippines lúc đó.  Trước những căng thẳng như vậy, Philippines cũng là một trong những các bên đã cố gắng kêu gọi ASEAN  tìm kiếm một Bộ quy tắc ứng xử trên Biển Đông. Sau đó, tất cả các bên đã ngồi vào bàn đàm phán. Nhưng rốt cuộc COC vẫn chưa ra đời. Để vớt vát, người ta đã đưa ra cái gọi là Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông DOC, được ký kết ở Cam Bốt năm 2002. Tuyên bố này đơn thuần là một tuyên bố về chính trị.  Bắt đầu từ năm 2007 trở đi, vấn đề Biển Đông bắt đầu lại nóng lên và đặc biệt là năm 2009, khi mà theo Công ước về Luật Biển thì một quốc gia ven biển được có một vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa, thềm lục địa tối thiểu là 200 hải lý tính từ đường cơ sở, tối đa là 350 hải lý, nếu chứng minh được đó là sự kéo dài của thềm lục địa. Muốn làm điều này thì các quốc gia đó phải làm hồ sơ và trình lên Ủy ban về ranh giới thềm lục địa của Liên Hiệp Quốc trước ngày 15/09/2009. Khi Việt Nam và Malaysia gởi công hàm và các hồ sơ lên Ủy ban ranh giới thềm lục địa, thì lập tức Trung Quốc đưa ra công hàm phản đối, kèm theo bản đồ "đường lưỡi bò". Từ đó trở đi, Trung Quốc liên tục có những hành động gây căng thẳng. Đến lúc đó người ta mới nghĩ đến chuyện tìm kiếm một Bộ quy tắc ứng xử trên Biển Đông COC. Đến 2012, bản dự thảo đầu tiên của COC do Indonesia khởi thảo đã được đưa ra và hầu hết các nước ASEAN đều đồng ý với nội dung bản dự thảo này, nhưng “nhân vật” quan trọng nhất là Trung Quốc lại không đồng ý. Chính vì vậy là rất là lâu, kể từ 2012, đã có rất nhiều cuộc bàn thảo về COC, nhưng tất cả đều “dậm chân tại chỗ” . Mãi tới gần đây, người ta mới đưa ra được những cái gọi là “đồng ý ban đầu” về COC.  Thế nhưng, do đại dịch Covid-19, các bên không thể gặp nhau được, cho nên vẫn chưa có bước tiến trong đàm phán về COC. Sau khi hết đại dịch, mãi đến cuối năm 2022 đầu năm 2023, Trung Quốc mới chính thức bãi bỏ chính sách zero-Covid, mở đường cho các nhà ngoại giao Trung Quốc có thể ra ngoài, các cuộc họp lại tiếp tục. Năm ngoái, Cam Bốt, nước chủ tịch luân phiên của ASEAN, quốc gia có mối liên hệ gần gũi với Trung Quốc. Thủ tướng Hun Sen của Cam Bốt đã từng nói:” Nếu tôi không dựa vào Trung Quốc thì dựa vào ai?”. Năm 2012, lần đầu tiên hội nghị ngoại trưởng ASEAN đã không ra được thông cáo chung, bởi vì lúc ấy, Cam Bốt, với tư cách chủ nhà, tìm cách ngăn cản các bên đưa ra bản tuyên bố chung với những điều khoản bất lợi cho Trung Quốc. Năm đó cũng là năm xảy ra sự kiện Scarborough của Philippines bị Trung Quốc chiếm đoạt. Một trong những yếu tố quan trọng nhất đó là Trung Quốc vẫn chưa thật sự nhiệt tình đàm phán về COC.  Trong thời gian qua, các bên vẫn đàm phán về một bộ quy tắc COC, nhưng còn nhiều bất đồng. Đầu tiên là về mục đích: Các quốc gia Đông Nam Á, đặc biệt là những nước có liên quan đến tranh chấp Biển Đông ( Việt Nam, Philippines, Malaysia, Indonesia ), hay những nước không có quan hệ trực tiếp với Biển Đông, nhưng gắn liền với biển, như Singapore đều muốn sử dụng COC để kềm chế, khiến Trung Quốc không thể có những hành động leo thang ở Biển Đông.” Thật ra, theo nhà nghiên cứu Hoàng Việt, mục tiêu của Trung Quốc khi đàm phán về COC hoàn toàn khác với mục tiêu của các nước Đông Nam Á có tranh chấp chủ quyền Biển Đông với Bắc Kinh:  “Trung Quốc lại có một mục tiêu khác, muốn sử dụng COC như một biện pháp ngăn chận, tức là sau khi đã bồi lắp, quân sự hóa những thực thể mà họ đang chiếm giữ ở Biển Đông, kể cả tại Hoàng Sa và Trường Sa, họ không muốn các quốc gia tranh chấp khác làm giống như họ.  Thứ hai, chúng ta biết có một quốc gia đóng vai trò quan trọng cho dù không trực tiếp liên quan đến tranh chấp Biển Đông, đó là Hoa Kỳ. Trung Quốc rất không muốn Hoa Kỳ tham gia vào Bộ quy tắc ứng xử trên Biển Đông, mà muốn sử dụng Bộ quy tắc ứng xử như một công cụ để đẩy Mỹ ra ngoài. Nhưng những quốc gia như Philippines đã tuyên bố là không thể gạt Mỹ ra khỏi tiến trình đàm phán COC. Có rất nhiều khác biệt giữa các bên, chưa kể nội dung của Bộ quy tắc cũng là một câu chuyện rất dài.”  Mặc dù các cuộc đàm phán đã đạt được một bước tiến vào năm 2018 khi Trung Quốc và ASEAN thông qua được “Văn bản Dự thảo Đàm phán Duy nhất (Single Draft Negotiating Text), nhưng đó lại là một tập hợp các quan điểm trái ngược nhau về các vấn đề gây tranh cãi về tính pháp lý, phạm vi áp dụng, về cơ sở pháp lý quốc tế và về cơ chế giải quyết tranh chấp. Riêng quan điểm của Việt Nam về nội dung của COC là như thế nào? Nhà nghiên cứu Hoàng Việt giải thích: “Trong ASEAN cũng chia thành nhóm có lợi ích trực tiếp liên quan đến tranh chấp Biển Đông gồm có Indonesia, Việt Nam, Philippines và Malaysia, những quốc gia có vùng biển bị “đường lưỡi bò” của Trung Quốc xâm lấn. Quan điểm của Việt Nam về Bộ quy tắc ứng xử trên Biển Đông được rất nhiều nhà lãnh đạo Việt Nam nói, đó là Bộ quy tắc này phải khắc phục được những khiếm khuyết của Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông DOC, vì DOC đã không ngăn cản được những hành động của Trung Quốc khiến cho căng thẳng Biển Đông vẫn xảy ra.   Quan điểm của Việt Nam là COC phải mang tính ràng buộc về pháp lý. Ràng buộc về pháp lý có nghĩa là nếu một trong các bên vi phạm, thì một  trong các bên còn lại, hoặc tất cả các bên còn lại có thể mang sự vi phạm đó ra trước cơ quan tài phán quốc tế để giải quyết. Nội dung thứ hai và Việt Nam đưa ra có lẽ khác với các nước khác. Gần như các quốc gia Đông Nam Á khác, như Indonesia thì không liên quan trực tiếp đến tranh chấp chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, mà chỉ có vùng Bắc Natuna nằm trong “đường lưỡi bò” của Trung Quốc, còn Brunei, Malaysia thì chỉ có liên quan đến tranh chấp khu vực Trường Sa. Trung Quốc cũng muốn đưa ra một bản COC chỉ dành cho Trường Sa mà thôi, bởi vì họ muốn gạt Hoàng Sa ra một bên. Trong khi đó Việt Nam muốn là bằng mọi giá COC phải bao gồm những khu vực tranh chấp khác, trong đó có cả Hoàng Sa. Còn Philippines thì đương nhiên muốn bao gồm cả khu vực Scarborough, khu vực tranh chấp giữa họ với Trung Quốc.  Đó là những khác biệt lớn nhất. Ngoài ra còn có những vấn đề chẳng hạn như phía Việt Nam đã nhiều lần đề nghị ghi trong nội dung của COC là các bên không được bồi lắp hoặc quân sự hóa các thực thể khác. Việt Nam cũng đề xuất là phải vận dụng tinh thần của phán quyết về Biển Đông 2016 vào trong nội dung của COC.”  Do có quá nhiều khác biệt quan điểm như trên, khó có khả năng COC sớm được thông qua, cho dù Indonesia, với tư cách chủ tịch luân phiên của ASEAN năm nay, đang cố thúc đẩy các cuộc đàm phán. Cuộc họp thượng đỉnh ASEAN tại Labuan Bajo, Indonesia ( 9-11/05/2023 ) đã không đạt được một tiến bộ nào về hồ sơ này, ngoài lời cam kết là khối các nước Đông Nam Á sẽ nỗ lực để sớm kết thúc đàm phán về COC. Theo tin báo chí trong nước, tại hội nghị các quan chức cao cấp ASEAN - Trung Quốc về Tuyên bố ứng xử các bên trên Biển Đông, ở Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh, ngày 17/05/2023, trưởng đoàn Việt Nam Vũ Hồ đã kêu gọi các bên “nói đi đôi với làm”, tức là phải thực hiện nghiêm túc mọi điều khoản của DOC. Tuyên bố này thể hiện sự bực tức của Hà Nội trước “những diễn biến phức tạp” trên Biển Đông, ám chỉ đến các vụ tàu khảo sát của Trung Quốc sách nhiễu các tàu khảo sát của Trung Quốc xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam hoặc quấy phá các hoạt động thăm do dầu khí của Việt Nam.  
5/22/20239 minutes, 28 seconds
Episode Artwork

Nga sẽ "không" ủng hộ Việt Nam nếu xảy ra xung đột với Trung Quốc ở Biển Đông ?

Trung Quốc lại huy động « một số lượng lớn tầu dân quân và tầu hải cảnh » đến gần khu vực khai thác khí đốt của Việt Nam ở Biển Đông trong ngày 10/05/2023. Theo chuyên gia Ray Powell, Đại học Stanford (Mỹ), hoạt động này có tính chất « bất thường », có thể được coi là « thông điệp về quyền tài phán của Trung Quốc đối với các hoạt động dầu khí của Việt Nam ».  Bắc Kinh sau đó xác nhận điều này, khi khẳng định tầu của Trung Quốc chỉ hoạt động « bình thường » trong vùng biển « thuộc quyền tài phán của Trung Quốc ». Đội tầu của Trung Quốc hoạt động cách lô 04-03 của Vietsovpetro khoảng 32 km. Vietsovpetro là liên doanh giữa tập đoàn Nga Zarubezhneft và PetroVietnam. Sự kiện này xảy ra vào lúc Matxcơva đang xích lại gần với Bắc Kinh nhằm tìm kiếm hậu thuẫn và hình thành một liên minh đối trọng với phương Tây, trong khi Nga cũng là đối tác quan trọng của Việt Nam trong nhiều lĩnh vực, đặc biệt là quân sự và khai thác dầu khí. Liệu sự phụ thuộc chặt chẽ hơn vào Bắc Kinh có khiến Matxcơva điều chỉnh thái độ với Hà Nội ? Nga sẽ nhắm mắt làm ngơ trước yêu sách của Trung Quốc độc chiếm Biển Đông ? RFI Tiếng Việt đặt câu hỏi với nhà nghiên cứu Laurent Gédéon, Trường Sư Phạm Lyon, Pháp. RFI : Nhiều doanh nghiệp Nga tham gia khai thác dầu khí ở Biển Đông, trong khi Việt Nam dường như từng phải hủy một số dự án với các công ty nước ngoài khác, ví dụ với tập đoàn Tây Ban Nha Repsol. Các tập đoàn dầu khí Nga có phải là một phương tiện hỗ trợ Việt Nam bảo vệ chủ quyền ở Biển Đông ?   Laurent Gédéon : Đúng là Trung Quốc không ngừng gây sức ép làm Việt Nam nản lòng trong việc tự thăm dò dầu khí, kể cả trong vùng đặc quyền kinh tế (EEZ). Vì thế Bắc Kinh đã dùng cả những biện pháp đe dọa quân sự trực tiếp, gây áp lực với các công ty nước ngoài tham gia những dự án đó. Yêu sách chủ quyền của Trung Quốc trong phạm vi đường 9 đoạn đã được định hình lại năm 2017 và gộp cả phần lớn vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, trong đó có gần 70 mỏ dầu khí. Chúng ta còn nhớ là vào tháng 07/2019, đội tầu Hải Dương địa chất 8 của Trung Quốc, gồm 1 tầu khảo sát và 4 tầu hải cảnh, đã qua lại thường xuyên gần hai cụm dầu khí nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam gây xáo trộn hoạt động thăm dò.   Có thể thấy Bắc Kinh tiến hành một cách bài bản chiến lược gây áp lực với đối tác nước ngoài tham gia vào những dự án dầu khí ở Việt Nam nhằm buộc họ từ bỏ thị trường và cản trở hoạt động khai thác dầu mỏ của Việt Nam. Chiến lược này đã được áp dụng hiệu quả đối với công ty Repsol. Năm 2018, chi nhánh của công ty Tây Ban Nha tại Việt Nam đã phải tạm dừng hoạt động do bị Trung Quốc đe dọa trực tiếp. Đến năm 2019, Repsol rút khỏi thị trường Việt Nam. Không chỉ riêng Repsol, Trung Quốc gây áp lực với nhiều công ty dầu khí nước ngoài khác tham gia ở Việt Nam, như Mubadala Petroleum đến từ Abu Dhabi (Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất).  Tuy nhiên, vấn đề lại phức tạp hơn đối với các đối tác Nga. Ví dụ, tháng 05/2018, tập đoàn Rosneft bày tỏ quan ngại với Hà Nội về việc Bắc Kinh tái xác định đường 9 đoạn với hệ quả là gộp cả mỏ Lan Đỏ do tập đoàn Nga khai thác vào khu vực Trung Quốc đòi chủ quyền. Quan ngại được đưa ra trong bối cảnh suốt nhiều năm trước, Bắc Kinh đã không thuyết phục được Matxcơva chấm dứt hoạt động của Rosneft ở Biển Đông, cũng như ở trong vùng. Năm 2013, Bắc Kinh từng phản đối khi Rosneft bắt đầu thăm dò ở mỏ Lan Đỏ. Trái lại, Trung Quốc đã thu được một thành công khi một dự án hợp tác giữa PetroVietnam và nhà sản xuất khí đốt Nga Gazprom bị đình chỉ năm 2016.  Trong bối cảnh nhạy cảm đó, người ta thấy là từ vài năm gần đây, các tập đoàn Nga - tất cả đều thân với chính quyền Matxcơva - tiến hành chiến lược tránh rời khỏi « chiến tuyến » và dốc sức để không bị « hất » khỏi thị trường Việt Nam. Nga muốn trở thành một nhân tố năng động hơn về kinh tế lẫn chiến lược ở Đông Nam Á. Matxcơva cũng không muốn Bắc Kinh kiểm soát những tuyến đường hàng hải chiến lược về địa-chính trị nối Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương.  Theo tôi, tham vọng này của Nga càng được củng cố thêm trong bối cảnh xung đột ở Ukraina, đồng thời bổ trợ cho chiến lược của Hà Nội đang tìm cách gia tăng quan hệ với các đối tác ngoài khu vực để giảm phụ thuộc kinh tế vào Trung Quốc. Theo tôi, có thể khẳng định rằng có sự đồng nhất về lợi ích giữa Việt Nam và Nga thông qua trung gian là các công ty dầu khí. Mục đích là không để cho Trung Quốc có quá nhiều không gian kinh tế và chiến lược ở Biển Đông. Cho nên chừng nào vị thế của Nga chưa bị suy yếu quá nhiều, ví dụ do tác động từ thất bại ở Ukraina nếu xảy ra chẳng hạn, Hà Nội vẫn có thể dựa vào đối tác hùng mạnh này để chống đỡ áp lực từ Trung Quốc.   Đọc thêm : Biển Đông : Việt Nam dừng thêm một dự án dầu khí vì sức ép từ Bắc KinhRFI : Tuy nhiên, chúng ta thấy là Nga có xu hướng ngả theo Bắc Kinh và đang củng cố mối quan hệ trên nhiều lĩnh vực với Trung Quốc. Những tập đoàn dầu khí Nga hoạt động ở Biển Đông sẽ bị tác động như thế nào, trong khi thường họ có thể « theo lệnh » từ Matxcơva ?   Laurent Gédéon : Để trả lời cho câu hỏi này, phải biết là mối quan hệ giữa Matxcơva và Bắc Kinh được đánh dấu bằng sự phụ thuộc vào nhau rất mạnh về địa-chính trị và sự thuộc lẫn nhau đó lại không liên quan đến tình trạng bất đối xứng đặc trưng cho hai nước này. Sự phụ thuộc này bắt nguồn từ ý đồ của Trung Quốc muốn hướng tới tái cân bằng các cực quyền lực trên thế giới.   Như chúng ta biết chiến lược của Trung Quốc đã khiến Washington ngày càng mất niềm tin. Hoa Kỳ từng bước đưa ra một khuôn khổ nhằm kiềm chế tham vọng của Bắc Kinh, đặc biệt là ở các vùng biển sát với Trung Quốc, có nghĩa là trong vùng Ấn Độ-Thái Bình Dương. Được bắt đầu dưới thời tổng thống Barack Obama với tên gọi « chiến lược xoay trục sang châu Á », chính sách này tiếp tục được mở rộng dưới thời tổng thống Donald Trump với « thương chiến Mỹ-Trung » và hiện giờ dưới thời Joe Biden là Hoa Kỳ thắt chặt quan hệ chiến lược với các đồng minh trong vùng, triển khai những cơ chế liên minh mới, như liên minh quân sự AUKUS được ba nước Mỹ, Úc, Anh công bố ngày 15/09/2021.   Trong toàn cảnh như vậy, Trung Quốc không thể đơn độc đối đầu với cả khối phương Tây. « Phương Tây » ở đây được hiểu theo nghĩa rộng, nghĩa là gồm cả những nước có liên quan đến khối này, kể cả những nước ở châu Á. Bắc Kinh phải huy động mọi sự ủng hộ quốc tế. Để làm được việc này, đối với Trung Quốc, chắc chắn Nga đại điện cho sức mạnh về quân sự, ngoại giao và chính trị, như tôi đã đề cập ở trên về việc hai nước này phụ thuộc chặt chẽ vào nhau về địa-chính trị. Để thấy điều này, chỉ cần nhìn vào sự trùng hợp giữa các lá phiếu của Nga và Trung Quốc tại Liên Hiệp Quốc trong thập niên vừa qua.   Dù hiện giờ người ta nhắc đến khả năng Nga lâm thế phụ thuộc kinh tế vào Trung Quốc nhưng còn lâu mới thấy cảnh Matxcơva tuân lệnh Bắc Kinh về chính sách đối ngoại hoặc kinh tế. Tôi cho rằng điều này cũng sẽ liên quan đến các doanh nghiệp dầu khí Nga ở Việt Nam. Khả năng hành động của những công ty này phụ thuộc vào Nhà nước Nga, vào sự cân bằng quyền lực ngoại giao tế nhị giữa Matxcơva và Bắc Kinh. Dẫu sao chắc chắn là sự hiện diện của những công ty này cho phép Nga đánh dấu sự khác biệt của họ. Rất có thể nếu thế cân bằng Nga-Trung được duy trì nguyên trạng thì các công ty dầu mỏ Nga sẽ duy trì hoạt động ở Việt Nam.  Đọc thêm : Quan hệ Nga - Trung : Liên minh quân sự để bắt đầu một “kỷ nguyên mới”RFI : Có nghĩa là hiện giờ Việt Nam không cần quá lo lắng về nguy cơ Nga ủng hộ những yêu sách về chủ quyền của Trung Quốc trong đường 9 đoạn ở Biển Đông ?   Laurent Gédéon : Trong bối cảnh phụ thuộc vào nhau về địa-chính trị như tôi vừa nêu, Nga không thể đi xa hơn việc ủng hộ những yêu sách của Trung Quốc đối với Đài Loan lẫn Biển Đông. Chúng ta thấy là Trung Quốc từ chối lên án cuộc xâm lược Ukraina và chỉ kêu gọi các bên tham chiến đối thoại. Ngoài ra, cũng cần nhấn mạnh đến sức mạnh và đặc thù của mối quan hệ Nga - Trung nên rất khó cho Matxcơva lên tiếng chỉ trích những đòi hỏi chủ quyền của Bắc Kinh.   Thêm vào đó phải kể đến những yếu tố mang tính pháp lý và lịch sử bởi vì Matxcơva biện minh cho cuộc xâm chiếm bán đảo Crimée vì đó là vùng đất lịch sử của Nga, ít nhất là từ năm 1792. Tương tự, Trung Quốc cũng viện đến lập luận lịch sử để đòi chủ quyền với hầu hết vùng Biển Đông. Nhìn từ phía Nga, có thể thấy mối quan hệ song song giữa Crimée - vùng đất lịch sử của Nga với Biển Đông - vùng biển lịch sử của Trung Quốc nếu tin theo lập luận của Bắc Kinh. Vì những lý do chiến thuật đó, Matxcơva có thể có xu hướng ủng hộ Bắc Kinh theo hướng này.   Theo tôi, dù có lập luận như thế, không có nghĩa là Matxcơva sẽ tự động và ủng hộ hết mình một « cuộc đảo chính » của Trung Quốc ở Biển Đông. Thực vậy, Nga cũng ý thức rằng khả năng địa-chính trị của nước láng giềng hùng mạnh trong chừng mực nào đó phải bị hạn chế bởi vì mọi sự củng cố sức mạnh của Trung Quốc sẽ có nguy cơ gây bất lợi cho Nga trong quan hệ song phương bất đối xứng hiện nay.   Chúng ta có thể sẽ thấy là Nga sẽ không ủng hộ mạnh mẽ hành động của Trung Quốc như Bắc Kinh mong đợi. Thêm vào đó Nga gắn bó với Việt Nam từ lâu, từ thời kỳ Liên Xô hỗ trợ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, sau đó là nước CHXHCN Việt Nam, giúp Việt Nam trong chiến tranh biên giới với Trung Quốc năm 1979. Có thể thấy rằng Việt Nam không phải chỉ là một cơ hội chính trị và chiến thuật đối với Nga mà còn nằm trong khuôn khổ quan hệ lâu dài cho thấy mối quan hệ mật thiết, bền vững giữa hai nước.   Đọc thêm : Biển Đông : Nga-Việt Nam kêu gọi nhanh chóng thông qua Bộ Quy Tắc Ứng XửRFI : Việt Nam và Nga nhất trí là không can thiệp vào chuyện nội bộ của nhau. Giả sử xảy ra xung đột liên quan đến tranh chấp chủ quyền với Trung Quốc ở Biển Đông, liệu Việt Nam có thể trông cậy vào hỗ trợ của Nga ?  Laurent Gédéon : Trong trường hợp như vậy thì ví dụ ở vùng Thượng Karabakh không cho thấy lạc quan lắm. Hiện giờ, Nga bị kéo vào cuộc xung đột khó khăn ở Ukraina và duy trì mối quan hệ ngoại giao phức tạp với các cường quốc khác. Những nước này không công khai ủng hộ hành động của Nga ở Ukraina nhưng từ chối lên án và cũng không tham gia phần nào vào cơ chế trừng phạt Matxcơva do phương Tây áp đặt. Tuy nhiên, sự ủng hộ này, xuất phát từ việc có chung lập trường chính trị hoặc có chung lợi ích chiến lược và địa-chính trị, cũng phải có qua có lại. Đây là điểm liên quan đặc biệt đến hai nước Nga và Trung Quốc.   Tôi lấy ví dụ vùng Thượng Karabakh là bởi vì Nga vẫn được Armenia coi là một trụ cột hỗ trợ vững chắc, kể cả lúc khủng hoảng tháng 10/2020. Nga chủ trì cuộc hưu chiến ngày 10/11/2020 và chính lính Nga được triển khai trong vùng lãnh thổ tranh chấp và ở hành lang Latchine nối vùng này với Armenia để duy trì lệnh ngừng bắn đó. Nhưng chúng ta thấy từ một năm nay, có nghĩa là từ đầu chiến tranh Ukraina, phía Azerbadjan liên tục gây sự cố. Vụ mới nhất là phong tỏa hành lang Latchine do chính quân đội Nga bảo đảm an ninh.   Lý do giải thích tình trạng xuống cấp này và việc ảnh hưởng của Nga dường như đã bị suy giảm liên quan chủ yếu đến việc lập trường nước đôi của Thổ Nhĩ Kỳ đã làm cho Matxcơva hạn chế áp lực ngoại giao, và cũng do sức ép kinh tế từ NATO. Việc Thổ Nhĩ Kỳ tạo thuận lợi có thể là điều kiện « có đi có lại », có nghĩa là Nga phải trung lập hơn trước áp lực ngày càng lớn của Azerbaijan - một đồng minh của Thổ Nhĩ Kỳ - đối với Armenia để gộp toàn bộ vùng Thượng Karabakh vào nước Cộng Hòa Azerbaijan.  Nếu giờ chúng ta đưa ví dụ này vào tình hình Biển Đông, trong giả thuyết xảy ra một cuộc xung đột trực tiếp giữa Việt Nam và Trung Quốc trong tương lai gần, thì e rằng Nga sẽ lại rơi vào tình huống tương tự như chúng ta thấy ở vùng Kavkaz. Thực vậy, sự phụ thuộc nhau về địa-chính trị với Trung Quốc mà chúng ta đề cập ở trên, cũng như việc Nga phải tiếp tục hưởng sự hỗ trợ ngoại giao, kinh tế và nhiều lĩnh vực khác từ cường quốc láng giềng, có thể dẫn đến việc các nhà lãnh đạo Nga phải hạn chế phản đối và thậm chí im lặng trước hành động của Trung Quốc, bất chấp việc Việt Nam là một nước có lợi cho Matxcơva như chúng ta đã nói.  Vì thế, tất cả sẽ còn phụ thuộc vào mức độ lệ thuộc địa chính trị Nga-Trung, vào thời điểm nổ ra xung đột trong trường hợp xảy ra. Do đó, có lẽ Việt Nam cần kích hoạt trước những kênh ngoại giao với Matxcơva để triển khai một khuôn khổ hợp tác khủng hoảng với Nga và nếu có thể, tác động đến phân tích của Nga về tình hình Đông Nam Á.  Đọc thêm : Việt Nam muốn khẳng định chính sách đối ngoại độc lập và tự chủ" khi tiếp ngoại trưởng Nga RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn nhà nghiên cứu Laurent Gédéon, giảng viên Trường Sư phạm Lyon, Pháp. 
5/15/202311 minutes, 26 seconds
Episode Artwork

Biển Đông: Việt Nam trước áp lực của Trung Quốc về đàm phán song phương

Trên chuyến bay đến Hoa Kỳ để họp thượng đỉnh với tổng thống Mỹ Joe Biden ngày 01/05/2023, tổng thống Ferdinand Marcos Jr. cho biết Trung Quốc đồng ý thảo luận với Philippines về quyền đánh cá ở Biển Đông. Trước đó, ngày 22/04/2023, nhân chuyến viếng thăm của ngoại trưởng Tần Cương ở Manila, Philippines và Trung Quốc cũng đã cam kết “sẽ cùng nhau giải quyết các bất đồng về Biển Đông”, vùng biển mà hai nước đều có những yêu sách chủ quyền.  Về phần Malaysia, quốc gia khác cũng có tranh chấp chủ quyền Biển Đông với Trung Quốc, phát biểu trước Quốc Hội ngày 03/04, khi tường trình về chuyến thăm Trung Quốc của ông vào cuối tháng 3, đầu tháng 4, thủ tướng Anwar Ibrahim đã tuyên bố là tập đoàn dầu khí nhà nước Petronas của Malaysia sẽ tiếp tục các hoạt động thăm dò ở Biển Đông, nhưng Malaysia “sẵn sàng thương lượng về các mối quan ngại của Trung Quốc về những hoạt động này”. Những sự kiện nói trên phải chăng cho thấy là Trung Quốc đang dần dần thuyết phục được Philippines và Malaysia chấp nhận đàm phán song phương với Trung Quốc về tranh chấp Biển Đông? Riêng Việt Nam đối phó như thế nào trước áp lực đàm phán song phương của Trung Quốc? Trả lời RFI Việt ngữ ngày 19/04/2023, nhà nghiên cứu Hoàng Việt ở Việt Nam trước hết nhắc lại chủ trương “gác tranh chấp, cùng khai thác” của Trung Quốc:  “Thật ra Trung Quốc đã có một chủ trương rất lâu, từ thời lãnh tụ Đặng Tiểu Bình. Năm 1990, ông đã đưa ra một chủ trương là “gác tranh chấp, cùng khai thác”, dưới vỏ bọc là “khai thác chung” ( tiếng Anh gọi là “joint development” ). Nội dung “khai thác chung” thật ra về cơ bản khác với “gác tranh chấp, cùng khai thác”: Thứ nhất là chủ quyền thuộc về Trung Quốc, tức là nếu có chấp nhận khai thác chung thì mặc nhiên công nhận chủ quyền của Trung Quốc. Trung Quốc đã đã thúc đẩy quan điểm này, một mặt sử dụng sức mạnh để đe dọa. Trong suốt thời gian qua và cả hiện nay, các tàu của Trung Quốc vẫn đang xâm phạm trái phép vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, Malaysia và Philippines, đe dọa các hoạt động thăm dò dầu khí, hoặc các hoạt động khác trên vùng đặc quyền kinh tế của các nước này.  Một mặt Trung Quốc đe dọa như vậy, mặt khác, Trung Quốc luôn dùng sức mạnh kinh tế của mình để kêu gọi các quốc gia khai thác chung với Trung Quốc. Bốn quốc gia mà Trung Quốc luôn nhắm tới đó là Brunei, Việt Nam, Malaysia, Philippines. Trung Quốc luôn luôn muốn đưa một trong các quốc gia này hoặc các quốc gia này vào kế hoạch “gác tranh chấp, cùng khai thác”. Nhưng theo nghiên cứu của tôi, trong số 4 quốc gia kể trên, chưa có quốc gia nào ký kết bất ký điều gì về khai thác chung với Trung Quốc.”  Đối với Philippines và Malaysia, Bắc Kinh đã từng tranh thủ lúc mà hai nước này có một lãnh đạo với xu hướng phần nào nghiêng về Trung Quốc hơn, để cố thúc đẩy họ chấp nhận chủ trương khai thác chung. Nhà nghiên cứu Hoàng Việt điểm lại thời kỳ tổng thống Rodrigez Duterte của Philippines trước đây và thời kỳ thủ tướng Malaysia Anwar Ibrahim hiện nay:  “Năm 2016,  tổng thống Philippines lúc đó là Rodriguez Duterte đã chủ trương xoay trục sang Trung Quốc và quay lưng lại với Mỹ. Mục tiêu quan trọng nhất của ông là giành những lợi thế kinh tế từ Trung Quốc và muốn làm như thế thì ông phải chấp nhận điều mà Trung Quốc yêu cầu, đó là chủ trương khai thác chung với Trung Quốc. Dưới thời ông Duterte đã có một số ồn ào liên quan đến việc hai bên đã ký một số thỏa thuận về khai thác chung. Nhưng thực ra cho đến nay chưa có một bước tiến nào.  Tân tổng thống Ferdinand Marcos Jr. đầu năm nay cũng đã có một chuyến công du Bắc Kinh. Trong chuyến đi này, ông và chủ tịch Tập Cận Bình đã có một tuyên bố chung trong đó có nhắc đến “khai thác chung”. Nhưng khi ông quay về Philippines thì lập tức Tòa án Tối cao Philippines ra một phán quyết rằng thỏa thuận ba bên (JSMU), ký từ rất lâu trước đó ( 2005 ), đã hết hiệu lực từ năm 2007. Mười lăm năm không ra tuyên bố, mà đến lúc ông Marcos Jr. mới đi Trung Quốc về, khi hai bên ra tuyên bố chung nhắc đến “khai thác chung”, thì tòa án ra phán quyết xem thỏa thuận ba bên thăm dò địa chấn ở Biển Tây Philippines ( Biển Đông ) là “vô hiệu”, vì nó đã “vi hiến”. Phán quyết này được coi như là một tín hiệu đáp trả đối với quyết định “khai thác chung” của Marcos Jr. Với việc Tòa án Tối cao đã đưa ra một tiền lệ như vậy, tổng thống Marcos Jr. sẽ rất là khó mà ký các thỏa thuận “khai thác chung” với Trung Quốc, vì sẽ bị xem là “vi hiến”.  Về phần thủ tướng Malaysia Anwar Ibrahim, ông muốn thay đổi chính sách, đặc biệt là trong bối cảnh kinh tế thế giới đang khó khăn, muốn xoay trục sang Trung Quốc, để có thể tranh thủ các lợi ích kinh tế, nhưng việc khai thác chung cũng không phải là dễ, còn rất nhiều khó khăn.  Khai thác chung với Trung Quốc thực chất là khai thác tại vùng đặc quyền kinh tế của các quốc gia khác, mà điều này, theo Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển, là đặc quyền của quốc gia ven biển đó.  Thực chất có lẽ đây là những tuyên bố mang tính chính trị để có thể giành được những lợi ích từ Trung Quốc. Đương nhiên Trung Quốc cũng biết điều đó và họ rất giỏi chơi bài. Cho nên, nếu những quốc gia như Malaysia hay Philippines muốn “chơi bài” với Trung Quốc, thì Trung Quốc cũng sẵn sàng chơi, mà Trung Quốc sẽ đạt được những mục tiêu, những lợi ích của họ.  Tổng thống Duterte của Philippines, trước khi kết thúc nhiệm kỳ tổng thống, đã phải hủy bỏ tất cả những tuyên bố, những chính sách của ông về khai thác chung với Trung Quốc. Nhiều nhà nghiên cứu của Philippines nói rằng ông Duterte cũng đã vỡ mộng khi thấy Trung Quốc hứa hẹn thì rất nhiều, hứa hẹn đầu tư hàng chục tỷ đôla vào nền kinh tế Philippines, nhưng trên thực tế thì không có bao nhiêu cả. Đó là câu chuyện khiến nhiều quốc gia khác ở Đông Nam Á phải suy nghĩ kỹ về vấn đề này.”  Riêng đối với Việt Nam thì dĩ nhiên Bắc Kinh bao giờ cũng tìm cách gây sức ép để buộc lãnh đạo Hà Nội chấp nhận chủ trương “gác tranh chấp, cùng khai thác”, để đạt được những thỏa thuận như thỏa thuận về phân chia Vịnh Bắc Bộ. Nhưng theo nhà nghiên cứu Hoàng Việt, cho tới nay Việt Nam chỉ chấp nhận thương lượng dựa trên Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển:  “Chắc chắn là Trung Quốc sẽ gây sức ép. Vấn đề nổi cộm đầu tiên đó là Vịnh Bắc Bộ. Hai bên đã thỏa thuận thành công về Vịnh Bắc Bộ, nhưng còn về cửa Vịnh Bắc Bộ thì chưa phân định được. Hai bên cũng đã nhiều lần đàm phán để phân định, nhưng cho đến nay vẫn chưa có tiến triển, vì lập trường của hai bên quá xa nhau. Việt Nam thì vẫn kiên trì chủ trương là phải dựa trên Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển 1982, còn Trung Quốc thì dựa trên “đường lưỡi bò”. Hai lập trường này quá xa nhau. Chúng ta còn nhớ là về “đường lưỡi bò”, trong phán quyết về Biển Đông 2016, Tòa Trọng Tài Thường Trực, dựa trên Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển cũng đã tuyên rõ là yêu sách về quyền lịch sử đối với vùng nước và tất cả những thực thể bên trong “đường lưỡi bò” là không có cơ sở pháp lý, cho nên vô giá trị. Phán quyết này cũng nói rằng những quy định của Công ước về Luật Biển cũng sẽ cao hơn so với cái gọi là “quyền lịch sử”.  Quan điểm của Việt Nam vẫn trước sau như một, đó là phải dựa trên luật pháp quốc tế, đặc biệt là dựa trên Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển. Chính điều đó đã dẫn tới khó khăn khi Việt Nam và Trung Quốc đàm phán về cửa Vịnh Bắc Bộ. Nói thế để thấy là có rất nhiều vấn đề mà Trung Quốc muốn Việt Nam tham gia vào kế hoạch “gác tranh chấp, cùng khai thác”, nhưng chắc chắn là Việt Nam sẽ không thể tham gia được, bởi vì tham gia như vậy chẳng khác gì  thừa nhận chủ quyền của Trung Quốc và thứ hai là cho Trung Quốc khai thác trên chính vùng biển mà lẽ ra quyền khai thác là của mình, theo quy định của luật pháp quốc tế.” Theo nhà nghiên cứu Hoàng Việt, Việt Nam cũng sẽ khó mà tham gia thỏa thuận giống như thỏa thuận ba bên giữa Philippines, Trung Quốc và Việt Nam (JSMU) năm 2005:  “Chắc chắn là khó lập lại, bởi vì câu chuyện thỏa thuận ba bên đó cũng là một câu chuyện lịch sử. Philippines ký thỏa thuận đó vào thời tổng thống Gloria Arroyo, một lãnh đạo nổi tiếng thân Trung Quốc.  Khi bà ký thỏa thuận thì ban đầu chỉ là thỏa thuận hai bên Philippines và Trung Quốc. Ngay lập tức báo chí Philippines đã lao vào mổ xẻ, thì mới thấy là bà có rất nhiều vi phạm. Thậm chí sau này hết nhiệm kỳ tổng thống của Arroyo, người ta còn phát hiện là trước đó bà đã cử một thượng nghị sĩ sang gặp Trung Quốc để bàn việc “đi đêm” trong vấn đề Biển Đông. Thậm chí sau đó tòa án còn quản thúc bà Arroyo trong một thời gian. Vào lúc đó, khi biết được thông tin hai bên ký kết thỏa thuận thăm dò địa chấn giữa Philippines và Trung Quốc, Việt Nam đã phản đối. Philippines và Trung Quốc đã đấu dịu bằng cách mời Việt Nam tham gia. Việt Nam lúc ấy cũng muốn tham gia để nắm tình hình và không để cho vấn đề đi quá xa. Trong thời gian tới, chắc chắn là Việt Nam không thể tham gia những thỏa thuận này.” Khi đến Bắc Kinh vào tháng 11/2022 để gặp chủ tịch Tập Cận Bình, tổng bí thư đảng Cộng Sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng đã cùng với đồng nhiệm Trung Quốc ra tuyên bố chung, trong đó có một phần bao gồm 4 điểm liên quan đến Biển Đông. Trong điểm thứ 3, hai ông Tập Cận Bình và Nguyễn Phú Trọng nhất trí "thúc đẩy bàn bạc về hợp tác phát triển trên biển và bàn bạc về phân định vùng biển ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ, thúc đẩy hai việc trên sớm đạt tiến triển thực chất".  Nhưng trong tuyên bố chung, hai lãnh đạo nhắc lại là trước mắt Việt Nam và Trung Quốc sẽ chỉ nhất trí đàm phán về các biện pháp giải quyết “mang tính quá độ, tạm thời mà không ảnh hưởng đến lập trường, chủ trương của mỗi bên”, trong khi chờ tìm kiếm “giải pháp cơ bản lâu dài mà hai bên đều có thể chấp nhận được”.
5/8/20239 minutes, 22 seconds
Episode Artwork

Marcus Mạnh Cường Vũ: Hành trình gian nan của đạo diễn độc lập

Trong một thị trường đầy dẫy phim mang tính thương mại như tại Việt Nam hiện nay, những nhà làm phim độc lập như Marcus Mạnh Cường Vũ gặp rất nhiều khó khăn để thực hiện những bộ phim nghệ thuật. Nhà đạo diễn trẻ này đã phải bỏ ra đến 5 năm để cố gắng hoàn thành một tác phẩm có chất lượng tầm cỡ quốc tế. Công sức đó đã không uổng phí, bộ phim truyện dài đầu tay của anh “Memento Mori: Đất” cuối cùng đã “lọt được vào mắt xanh” của giới điện ảnh quốc tế.  Sau khi được dự tranh một giải tại Liên hoan phim quốc tế Busan, Hàn Quốc, phim của Marcus Mạnh Cường Vũ đã được tham gia tranh giải ở Liên hoan Quốc tế Điện ảnh châu Á Vesoul, Pháp, đầu tháng 3 vừa qua. Và Vesoul đã là một bệ phóng mới cho tác phẩm của anh vươn ra thế giới: Đầu tháng 4, “Memento Mori: Đất” sẽ dự tranh giải tại Liên hoan phim châu Á Roma, rồi đến tháng 9 sẽ sang Mông Cổ dự Liên hoan phim quốc tế Ulan Bator. Nhưng cuộc hành trình của những đạo diễn độc lập như Marcus Mạnh Cường Vũ vẫn còn lắm gian nan. Tại Liên hoan Vesoul, RFI Tiếng Việt đã có dịp gặp và phỏng vấn đạo diễn Marcus Mạnh Cường Vũ. Mời quý vị theo dõi bài phỏng vấn sau đây:  RFI: Xin chào Marcus Mạnh Cường Vũ, “Memento Mori: Đất” là bộ phim thứ nhất của một loạt ba bộ phim mà Marcus dự định sẽ hoàn tất trong thời gian tới, với phim thứ hai là “ Memento Mori: Nước” và thứ ba là “Memento Mori: Lửa”. Để thực hiện bộ phim đầu tiên, Marcus đã bỏ ra rất nhiều thời gian, vì anh là một nhà làm phim độc lập không nhận tài trợ của bất cứ công ty nào. Vậy thì quá trình thực hiện phim đã gặp những khó khăn như thế nào? Marcus Mạnh Cường Vũ : Nhà làm phim ở Việt Nam, nhất là nhà làm phim độc lập phải đối diện với rất nhiều khó khăn, thứ nhất là khó khăn về tài chính, thứ hai là lo ngại về kiểm duyệt. Đối với cá nhân tôi, khi làm dự án “ Memento Mori: Đất’, tôi đã xác định đây là một dự án mang ý nghĩa cộng đồng, không chỉ là một bộ phim độc lập, khi tôi đến nói chuyện với mọi người cũng như khi thông báo cho mọi người biết dự án, thì ai cũng hiểu tinh thần của dự án và đã hỗ trợ hết sức mình. Bộ phim không có nguồn tài trợ từ nước ngoài mà hoàn toàn là từ sự đóng góp của rất nhiều người trong nước. Chúng tôi đã huy động vốn cộng đồng ( crowdfunding), thì đã nhận được rất nhiều bàn tay chung vào. Có những nhà đầu tư, gọi là nhà đầu tư “thiên thần”, tham gia vào bộ phim mà không mong chờ lợi nhuận. Cũng có những công ty, cơ quan đóng góp dịch vụ và công sức vào bộ phim mà không tính đến tiền bạc. Làm phim luôn luôn khó khăn và làm một bộ phim đạt chuẩn quốc tế đòi hỏi một sự chu toàn, kỹ lưỡng trong rất nhiều năm. Với “ Memento Mori: Đất”, tôi đã cần đến gần 5 năm để hoàn thiện. Phần quay chính của bộ phim đã diễn ra trong thời điểm đại dịch Covid-19, nên việc làm phim lại càng khó khăn hơn. Chúng tôi đã phải dời lịch quay một số lần do chính sách của chính phủ thay đổi mỗi ngày. Bên cạnh đó, vào thời điểm làm hậu kỳ thì chúng tôi không gặp nhau được, ví dụ như làm nhạc, thì những người nhạc sĩ là sống bên châu Âu, cho nên chúng tôi phải làm việc với nhau từ xa. Cũng như là bài hát "Going Home" trong phim do một ca đoàn thiếu nhi ở Hà Nội thâu âm, thì lúc đó tôi không có mặt được và chính các em nhỏ, được sự hướng dẫn của một người tổ chức hợp xướng Gió Xanh, đã tự làm việc với nhau và tôi chỉ là người thẩm âm cuối cùng, xem là chất lượng như vậy đã được hay chưa.  Dù công việc làm phim khó khăn như thế nào thì rất may mắn là dự án này đã đến được đích đầu tiên đó là có một phim truyện đầu tiên và phim đã đến được Vesoul, đến với khán giả ở châu Âu, ở Pháp, nơi mà số người yêu điện ảnh rất nhiều và có kiến thức về điện ảnh rất cao. Được sự đón nhận của mọi người, mà tôi cảm nhận được qua những lời trò chuyện với khán giả sau mỗi buổi chiếu, đã động viên tôi rất nhiều để tiếp tục cuộc hành trình dài này.  RFI: “Memento Mori: Đất” là phim dành cho những người bị bệnh ung thư, những người đối diện với cái chết. Cái chết là một đề tài rất nặng, không phải dễ mà đưa lên điện ảnh để mọi người thấu hiểu được thông điệp mình muốn đưa ra? Vì sao Marcus mạnh dạn chọn đề tài này để thể hiện nó qua ngôn ngữ điện ảnh? Marcus Mạnh Cường Vũ: Đó là một sự tình cờ, mà cũng có thể là sự sắp đặt của Chúa Trời, bởi vì tôi không có kế hoạch để trở thành nhà làm phim mà đến thời điểm nào đó trong cuộc đời thì tình huống xảy đến và tôi trở thành nhà làm phim. Có nghĩa là câu chuyện và đề tài có trước, rồi mới có mặt tôi trong vai trò người thực hiện nó thành bộ phim. Có thể nói là đề tài cái chết đã chọn tôi. Từ nhỏ tôi đã tiếp cận với cái chết rất là gần, trong gia đình. Câu chuyện về ung thư cũng là câu chuyện trong gia đình tôi. Chứng kiến và đối diện, nhưng chưa bao giờ thật sự đi sâu vào nó, chưa bao giờ thật sự hiểu về ung thư hay về cái chết được báo trước có thể ảnh hưởng đến đời sống của con người như thế nào. Chúng ta sinh ra, lớn lên và đến một lúc nào đó sẽ chết đi, nhưng chúng ta chưa bao giờ ý thức được rằng thời gian của chúng ta là hữu hạn và nhiều khi bỏ phí thời gian vào những việc vô bổ. “Khi được tiếp cận cuốn sách “Điểm đến của cuộc đời” của tác giả Đặng Hoàng Giang kể 3 câu chuyện có thật của những người bị bệnh ung thư cận tử và cách mà họ đối diện với cái chết, cách mà họ chuẩn bị cho sự ra đi khiến cho tôi thấy rằng mình phải bắt đầu một cuộc hành trình, với câu chuyện cá nhân là tôi phải đối diện với nỗi đau của gia đình: bố tôi mất vì ung thư khi tôi mới 14 tuổi và tôi đã chứng kiến sự đau đớn của ông trong những ngày cuối đời.  Cái chết đúng là một đề tài rất nặng, tuy nhiên tôi muốn khán giả bắt đầu một cuộc hành trình đối diện với cái chết của mình hay của người thân mình một cách nhẹ nhàng hơn và tìm ra ý nghĩa của những thời gian hiếm hoi còn sót lại, để mình có thể làm gì cho nhau và làm điều gì tốt đẹp cho cuộc đời. Tôi nghĩ đó luôn luôn là một điều mà con người nên nhắc nhở và “Memento Mori: Đất” chính là lời nhắc nhở đó: Hãy nhớ rằng bạn sẽ chết (đó là từ theo tiếng La tinh), nhưng khi chúng ta hiểu rằng mình sẽ chết thì đó cũng là lời nhắc nhở rằng chúng ta đang sống”. RFI: Đúng là xem phim này thì khán giả bình thường cảm thấy rất là nặng nề, vì phim buộc chúng ta suy nghĩ về rất nhiều điều và những cảnh quay thì rất là chậm và những khoảng không gian tĩnh lặng khá nhiều, phim không có nhiều đối thoại. Liệu ngôn ngữ điện ảnh đó có thể giúp khán giả hiểu rõ được thông điệp mà Marcus muốn chuyển tải? Marcus Mạnh Cường Vũ: Tôi nghĩ là có, nếu khán giả chịu dành khoảng thời gian một tiếng rưỡi cho bộ phim, chú tâm vào xem bộ phim. Bộ phim với nhịp như vậy không phải là chủ đích mà tôi đặt ra ngay từ đầu, mà đó là cái nhịp của chính đời sống của nhân vật trong phim. Vân, nhân vật chính trong phim, biết rằng mình chỉ còn một vài tuần, một vài tháng để sống. Tuy thời gian có vẻ ngắn ngủi, nhưng khi phải trải qua từng ngày và biết rằng mình đang sống, và sống có ý nghĩa và phải chuẩn bị cho sự ra đi của mình thì từng thời khắc đó trở nên rất là dài. Và đấy chính là nhịp của bộ phim cần phải có để thể hiện tâm trạng của nhân vật chính. Ở đây là một người bệnh ung thư cận tử, trải qua những ngày tháng cuối đời như thế nào. Nếu khán giả chịu khó bắt nhịp vào nhịp của nhân vật, nhịp của bộ phim thì khán giả sẽ thấy nó không còn quá chậm nữa và đấy chính là cái nhịp phù hợp của đời sống. Đôi khi chúng ta quên mất rằng một ngày có 24 giờ và chia nhỏ ra từng giây, từng giây ấy là từng nhịp thở của mỗi chúng ta. Nếu chúng  ta sống vội quá, chúng ta bị cuốn hút vào rất nhiều thứ trong cuộc sống, chúng ta quên mất từng giây đó trôi qua như thế nào, chúng ta quên mất nhịp thở của chính mình, thì rất có thể là chúng ta đã bỏ phí đời sống của chính mình.    RFI: Sau “Memento Mori: Đất” là đến “Memento Mori: Nước”, rồi sau đó là  “Memento Mori: Lửa”. Như vậy là Marcus sẽ tiến hành thực hiện các phim đó như thế nào? Vẫn theo hướng như bộ phim đầu? Marcus Mạnh Cường Vũ: Mỗi bộ phim sẽ đòi hỏi một cách thể hiện phù hợp, tùy theo cốt truyện, vào hành trình của nhân vật. Chẳng hạn như trong phim “Memento Mori: Nước” mà tôi đang chuẩn bị tiến hành, sau Liên hoan Vesoul, tôi sẽ đi Nhật Bản trong một tuần để khảo sát tình hình, bối cảnh bên đó, vì câu chuyện sẽ có một phần diễn ra ở Nhật Bản. Nhịp của “Memento Mori: Nước” sẽ tập trung vào hành trình của một người mẹ trải qua nỗi đau mất một đứa con nhỏ. Hành trình đấy sẽ có lúc lên xuống như hành trình của nước và nó sẽ đòi hỏi cách thể hiện phù hợp. Còn  “Memento Mori: Lửa” là câu chuyện về Liên, một cô gái trẻ phát hiện ung thư vú năm 18 tuổi. Cô chọn một cách đối diện rất là khác với những người bệnh ung thư khác. Với sự ngạo nghễ của tuổi trẻ, cô từ chối chữa trị và sống một đời sống theo ý của cô, một đời sống trẻ, vô cùng hừng hực lửa. Như vậy, nhịp phim sẽ không chậm như là “Memento Mori: Đất”, mà cần một nhịp đúng với tuổi trẻ đó. Còn tựu trung lại thì vẫn có một thông điệp, đó là hãy nhớ rằng chúng ta đang sống, cái chết sẽ đến và làm sao mỗi ngày chúng ta sống có ý nghĩa nhất. RFI: Trở lại công việc của nhà làm phim độc lập. Ở Việt Nam hiện nay, dòng phim thương mại rất mạnh. Riêng đối với những người làm phim như Marcus thì có thể dễ chen chân vào một thị trường phim như vậy, vì thị hiếu của thính giả không tới mức mà chúng ta mong muốn? Marcus Mạnh Cường Vũ: Đây là câu hỏi rất là lớn của các nhà làm phim, của thị trường điện ảnh, cũng như các nhà quản lý ở Việt Nam. Hiện nay, ở Việt Nam, khi một bộ phim được hoàn thành, bất kể là phim độc lập hay phim thương mại, khi ra rạp đều phải cạnh tranh với nhau, mà không có bất kỳ sự bảo hộ nào. Khác với Pháp chẳng hạn, ở Việt Nam không có các rạp chiếu độc lập chiếu những bộ phim tương đối khó tiếp cận, tương đối thách thức khán giả hơn một chút, mà người ta thường gọi phim độc lập hay phim nghệ thuật. Khi nhà phát hành nhận phát hành phim thì họ phải tính một bài toán về thương mại như với các bộ phim khác, giống như chúng ta đi chợ và có quyền chọn lựa món hàng. Tuy nhiên, phải hiểu là là vai trò của điện ảnh không phải là thuần túy thương mại. Điện ảnh trước hết là một nghệ thuật. Ở đây, vai trò của nhà quản lý, những người có vai trò chính trong ngành điện ảnh là phải hiểu rằng cần có một sự tồn tại song song của dòng phim nghệ thuật, phim độc lập, bên cạnh phim mang tính thương mại cao. Nếu không có một trong hai dòng phim đó thì “bữa ăn” của chúng ta sẽ không được phong phú và cuối cùng thì sẽ ảnh hưởng đến nhu cầu của khán giả, đến khả năng cảm nhận, đến việc xây dựng gu thưởng thức nghệ thuật của khán giả. Xét về lâu đài thì điều này sẽ làm mất đi một tài sản vô hình về trí tuệ của con người.  Tôi chỉ mong rằng trong tương lai gần, sẽ có những chính sách, cũng như những người trong ngành điện ảnh, bao gồm cả người làm phim, nhà phát hành, các rạp chiếu, cũng như các nhà sản xuất dám mạnh dạn đi những con đường khác lạ hơn, không theo lối mòn, để có được cơ hội cho nhiều tiếng nói khác nhau trong điện ảnh, chứ không chỉ tập trung vào mục đích thương mại.
5/5/202315 minutes, 13 seconds
Episode Artwork

Việt Nam : Khởi đầu của chủ nghĩa tư bản và phong trào công nhân thời Pháp thuộc

Giai cấp công nhân Việt Nam hình thành trong những đồn điền cao su do thực dân Pháp khai thác ở Nam Kỳ từ cuối thế kỷ XIX. Cũng chính đội ngũ tiểu thực dân này đã tạo nên khu vực sản xuất tư bản, chứ không phải là những đại tập đoàn tài chính Pháp. Để phục vụ cho những doanh nghiệp công-nông nghiệp đầy lợi nhuận và “khát” nhân lực, khoảng 50.000 đến 60.000 người Bắc Kỳ và Trung Kỳ được đưa vào làm công nhân trong nửa đầu thế kỷ XX. Họ phải sống, làm việc trong những điều kiện hết sức khắc nghiệt. Nam Kỳ trở thành cái nôi của chủ nghĩa tư bản, cũng như phong trào đấu tranh công nhân. Bối cảnh và quá trình này được nhà nghiên cứu Hồ Hải Quang, Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế và Xã hội - CERESUR - Đại học La Réunion (Pháp) phân tích trong tác phẩm La Cochinchine 1859-1930 : Emergence et développement du capitalisme (tạm dịch : Nam Kỳ 1858-1930 : Sự ra đời và phát triển của chủ nghĩa tư bản) do NXB Spinelle phát hành năm 2022. RFI Tiếng Việt phỏng vấn ông Hồ Hải Quang. RFI : Cuốn tiểu luận của ông, tạm dịch là Nam Kỳ : Sự xuất hiện và phát triển chủ nghĩa tư bản, cho thấy chủ nghĩa tư bản ở Việt Nam không phải do các đại tập đoàn tài chính tạo nên mà là do những nhà thực dân. Chủ nghĩa tư bản xuất hiện trong bối cảnh như nào ? Hồ Hải Quang : Trước tiên cần phân tích về những sự kiện lịch sử. Trong 40 năm đầu tiên thời thuộc địa, đúng là có vốn được chuyển từ Pháp sang Nam Kỳ, nhưng khối lượng rất nhỏ và số vốn này được đầu tư vào ba lĩnh vực. Thứ nhất là để thành lập Ngân hàng Đông Dương và ngân hàng này hoạt động tốt. Thứ hai là dành cho thương mại, nhưng lại không ổn vì toàn bộ nội thương ở Nam Kỳ vào thời điểm đó nằm trong tay thương lái Trung Hoa. Thương nhân Pháp muốn lập nghiệp ở Nam Kỳ chỉ có thể giao thương với Pháp, có nghĩa là nhập hàng hóa từ Pháp và xuất khẩu hàng Việt Nam sang Pháp. Nhưng như chúng ta biết người Việt lúc đó tiêu thụ rất ít hàng từ Pháp và chẳng có gì xuất sang Pháp cả. Vì thế lĩnh vực thương mại do người Pháp quản lý là vô cùng yếu kém. Liên quan đến lĩnh vực cuối cùng là công nghiệp, thì thất bại hoàn toàn. Tôi đã nghiên cứu hầu hết các doanh nghiệp hoạt động ở Việt Nam trong vòng 40 năm đầu thuộc địa, tôi nhận thấy là họ đã hoàn toàn thất bại. Thực ra, chủ nghĩa tư bản chỉ thực sự xuất hiện với việc sản xuất cao su. Hoạt động này bắt đầu vào năm 1898 và có thể phân thành hai giai đoạn. Giai đoạn đầu, từ năm 1898 đến 1914, là thời kỳ đồn điền cao su do các thực dân cũng là các chủ đồn điền thành lập. Khi hệ thống này được triển khai và bắt đầu phát triển, hoạt động đúng cách thì bước sang giai đoạn thứ hai. Đó là kể từ năm 1920, các công ty tư bản đã đến đầu tư vốn vào Nam Kỳ để phát triển các đồn điền cao su. Lý do giải thích cho hiện tượng này là lúc đó ngành công nghiệp sản xuất ô tô phát triển mạnh và cần lốp xe. Ngành công nghiệp này đã giúp thị trường phát triển mạnh mẽ vô cùng. Tóm lại, có thể nói rằng khu vực sản xuất tư bản chủ nghĩa được hình thành bởi ý tưởng trồng và sản xuất cao su. Những lĩnh vực này trước tiên là do những chủ đồn điền nhỏ lập ra và sau đó được phát triển, chứ không phải do các tập đoàn lớn. RFI : Chủ nghĩa tư bản đã làm thay đổi Nam Kỳ như thế nào ? Hồ Hải Quang : Chủ nghĩa tư bản làm thay đổi Nam Kỳ chủ yếu trên ba lĩnh vực chính. Thứ nhất là sự phát triển của thương mại. Chúng ta biết là lĩnh vực này là rất yếu trước thời thuộc địa Pháp bởi vì sản xuất chủ yếu là lúa gạo, trong khi lúa gạo lại dành cho các nhà nông và gia đình họ tiêu thụ nên có rất ít gạo được bán trên thị trường. Mặt khác, không thể xuất khẩu thóc gạo bởi vì triều đình Việt Nam muốn để dành nhằm tránh cảnh thiếu lương thực, nạn đói… cho nên ngoại thương gần như không tồn tại. Tôi nói như vậy vì tất cả các cuốn sách lịch sử về Nam Kỳ đã cho thấy điều đó. Thực ra không có số liệu thống kê nhưng bằng cách loại trừ, người ta có thể nói rằng loại hình thương mại này cực kỳ yếu. Từ thời thuộc địa Pháp, lĩnh vực thương mại đã phát triển rất nhanh chóng vì ba lý do. Thứ nhất là vì người Pháp đã bắt nộp thuế bằng tiền. Người nông dân buộc phải bán nông sản để có tiền mặt nộp thuế, nên nền kinh tế được tiền tệ hóa. Tiếp theo là diện tích trồng lúa được mở rộng nhờ việc nạo vét kênh rạch giúp tháo lượng nước dư thừa ở đồng bằng sông Cửu Long và giúp nâng sản lượng lúa gạo nhiều hơn. Cuối cùng, chính phủ Pháp đã bãi bỏ lệnh cấm xuất khẩu gạo nên lĩnh vực thương mại này đã có thể phát triển rất mạnh. Thay đổi lớn thứ hai là sự phát triển khu vực sản xuất tư bản, cùng với việc trồng cây cao su gắn liền với kinh tế nông dân mà tôi vừa đề cập ở trên. Lĩnh vực này phát triển khá xa thành thị, ở những khu rừng nguyên sinh khó vào và thưa dân cư. Cho nên cần phải có vốn. Đó là lý do vốn được chuyển từ Pháp đến Nam Kỳ để lập những đồn điền như vậy. Và cũng vì có ít nhân lực nên họ đã phải tổ chức di cư lao động, đưa nhân công từ Bắc Kỳ và Trung Kỳ vào. Đó là những người làm công ăn lương ký hợp đồng lao động từ 3 đến 5 năm. Những hợp đồng này đặc biệt ở chỗ công nhân đã ký vào chúng thì không có khả năng chấm dứt, không thể khiếu nại, do đó họ phải phục tùng các công ty tư bản từ 3 đến 5 năm mà không thể thoát được. Điểm quan trọng thứ ba trong chế độ lao động này là công việc gần như được tổ chức theo kiểu nhà binh. Để chỉ huy công nhân, các công ty tư bản chủ yếu tuyển cựu quân nhân Pháp giải ngũ. Kiểu hợp đồng lao động này khiến người lao động Việt Nam bị bóc lột vô cùng nặng nề nên sức khỏe của họ bị tổn hại. Nhiều người đã chết vì bệnh tật, còn nhiều người khác thì muốn về quê sau khi hết hạn hợp đồng. Vì thế các công ty cao su đã phải lập cơ chế quay vòng. Có nghĩa là những người lao động phần nào bị kiệt sức, không thể tiếp tục làm việc thì bị đưa trả về quê quán và người ta tuyển một đội công nhân khác. Nói một cách ẩn dụ, những công ty cao su này hoạt động như những máy bơm, hút và đổ người lao động. Thay đổi thực sự qua trọng thứ ba mà chủ nghĩa tư bản tạo ra, đó là để tự vệ, các công nhân đã bắt đầu đoàn kết với nhau. Họ thành lập các tổ chức chống chủ nghĩa tư bản. Đó là những công đoàn, những phôi thai của đảng Cộng sản bắt đầu hình thành trong các khu đồn điền. RFI : Ông cũng nêu rằng Nhà nước thuộc địa đóng vai trò quyết định trong việc thành lập các doanh nghiệp tư bản. Vai trò đó là gì ? Hồ Hải Quang : Vậy phải xem Nam Kỳ được điều hành như thế nào ? Đứng đầu Nam Kỳ là một thống đốc do chính phủ Pháp bổ nhiệm. Nhưng về mặt kinh tế, thực quyền lại thuộc về Hội đồng Thuộc địa, được thành lập năm 1880. Hội đồng này trước tiên có thể tạo ra các loại thuế mới, tăng thuế và quản lý chi tiêu mà họ muốn. Thông qua hệ thống thuế đó, Hội đồng đã có thể tích được rất nhiều tiền trong ngân khố Nhà nước, số tiền sau đó được phân phối đến các nhà thầu. Tiền thu được từ người dân Việt Nam đã cho phép tích lũy tư bản đầu tiên bằng tiền nằm trong tay người Pháp. Đây là cách để vốn đến tay những chủ đồn điền Pháp. Ngoài ra, Hội đồng Thuộc địa đã trưng thu khoảng 80% diện tích đất Nam Kỳ bằng cách trục xuất người Việt, nhiều người sống trên các vùng cao nguyên cũng bị trục xuất khỏi nơi cư trú. Hội đồng Thuộc địa đã phân chia số đất lớn đó cho các chủ đồn điền Pháp, ban đầu hầu hết là cho không, sau đó là chuyển nhượng với số tiền rất ít ỏi. Bằng cách đó, Hội đồng Thuộc địa là công cụ giúp tích lũy vốn bằng tiền và đồng thời trao phương tiện sản xuất cho các công ty tư bản. Hệ thống tư bản ra đời như vậy ở Việt Nam. Ngoài ra còn có điểm thứ ba cần nhấn mạnh, đó là chế độ lao động, cách tổ chức lao động, các quyền lao động cũng đã được thống đốc Nam Kỳ áp dụng. Và chế độ lao động đó được sắp xếp rất hiệu quả, mang lại nhiều lợi ích cho các công ty tư bản để có thể không ngừng bóc lột công nhân. RFI : Chủ nghĩa tư bản đã biến khỏi Việt Nam hay không hay đã chuyển sang một hình thức khác ?  Hồ Hải Quang : Hệ thống tư bản mà tôi đề cập ở trên tồn tại ở Nam Kỳ, cũng như ở miền bắc Việt Nam trong các mỏ than. Hệ thống này tồn tại cho đến năm 1945 khi chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố nước Việt Nam độc lập. Sau đó Pháp điều quân đội tới và chiến tranh Đông Dương kéo dài từ năm 1946 đến 1954. Hiệp định Geneve đã chấm dứt chiến tranh Đông Dương năm 1954 và Việt Nam bị chia thành hai miền, miền bắc do chính phủ của Hồ Chí Minh quản lý, còn miền nam là Việt Nam Cộng Hòa là một nước tư bản. Ở miền bắc, các nhà lãnh đạo cố gây dựng một chế độ xã hội chủ nghĩa nên họ từng bước loại bỏ những cơ sở của hệ thống tư bản và họ đã làm được việc đó. Trong chiến tranh Việt Nam, miền bắc cũng như miền nam đều phụ thuộc chủ yếu vào hỗ trợ của các nước bạn, ví dụ Liên Xô giúp miền bắc, Mỹ giúp miền nam. Kết thúc chiến tranh năm 1975, đất nước thống nhất. Lúc đó, miền bắc Việt Nam giành chiến thắng và muốn mở rộng đến miền nam cơ cấu kinh tế đã được xây dựng ở miền bắc. Và sự mở rộng này đã dẫn đến một hệ quả vô cùng sâu sắc. Việt Nam rơi vào khủng hoảng kinh tế vô cùng nghiêm trọng. Việc này đã khiến chính phủ Việt Nam vào năm 1986 phải triển khai chính sách “Đổi mới”, một mô hình kinh tế mới gọi là kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Về cơ bản, hệ thống kinh tế mới này được tổ chức theo hai trục chính. Trước tiên là phát triển lĩnh vực tư nhân, có nghĩa là phần nào đó thúc đẩy tư bản chủ nghĩa. Thủ công tư nhân, thương mại tư nhân được phép phát triển. Trục thứ hai là tái hội nhập Việt Nam vào nền kinh tế thế giới. Vì thế, năm 2007, Việt Nam gia nhập Tổ Chức Thương Mại Thế Giới - OMC. Trong những năm tiếp theo, Việt Nam đã ký rất nhiều hiệp định thương mại song phương với các nước khác. Cuối cùng, Việt Nam đã ưu tiên thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Vốn đầu tư gia tăng đáng kể đã giúp củng cố bộ máy sản xuất, giúp Việt Nam sản xuất hàng hóa. Và với việc Việt Nam gia nhập OMC, những hàng hóa này được xuất ra thị trường thế giới. Việc này đã cho phép Việt Nam cất cánh về kinh tế, tăng thu nhập bình quân đầu người một cách đáng kể. Cần biết rằng từ năm 1990 đến 2018, thu nhập bình quân đầu người tại Việt Nam gần như đã tăng gấp 5 lần. Đó là con số rất lớn. RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn nhà nghiên cứu Hồ Hải Quang, Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế và Xã hội, Đại học La Réunion, Pháp.
5/1/202310 minutes, 19 seconds
Episode Artwork

“Yếu tố Trung Quốc” trong quan hệ Mỹ-Việt

Trong chuyến thăm Việt Nam đầu tiên của ông Antony Blinken với tư cách ngoại trưởng Mỹ từ ngày 14 đến 16/04/2023, Hà Nội và Washington đã bày tỏ hy vọng sớm nâng quan hệ song phương “lên một tầm cao mới”. Hiện giờ quan hệ Việt Nam-Hoa Kỳ chỉ mới ở mức “đối tác toàn diện”. Từ thời chính quyền Donald Trump, Mỹ đã liên tục hối thúc Việt Nam nâng cấp quan hệ lên thành “đối tác chiến lược”, nhưng Hà Nội vẫn chần chừ vì e ngại phản ứng của Trung Quốc.   Có thể nói là trong quan hệ Mỹ-Việt nói riêng và trong chính sách ngoại giao “đa phương” của Việt Nam nói chung, “yếu tố Trung Quốc” vẫn còn hạn chế khuôn khổ hành động của Việt Nam trên trường quốc tế. Trong những năm qua, Việt Nam đã nâng cấp quan hệ ngoại giao với rất nhiều nước. Riêng đối với Hoa Kỳ, Việt Nam chỉ mới có quan hệ “đối tác toàn diện” kể từ năm 2013. Tuy vậy, từ đó đến nay, hai nước đã tăng cường quan hệ cả về chính trị, quốc phòng và kinh tế, vì cả Hà Nội và Washington đều quan ngại về những tham vọng chủ quyền của Trung Quốc ở Biển Đông. Nhằm thúc đẩy việc nâng cấp quan hệ song phương, trong cuộc điện đàm với tổng bí thư đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng ngày 29/03, tổng thống Hoa Kỳ Joe Biden tái khẳng định là Washington “tôn trọng thể chế chính trị” của Việt Nam, một cách gián tiếp trấn an Hà Nội là Mỹ không bao giờ thúc đẩy việc thay đổi chế độ ở Việt Nam. Đây cũng là điều mà ngoại trưởng Blinken nhắc lại trong chuyến thăm Việt Nam vừa qua. Như vậy, sau chuyến đi này của ngoại trưởng Mỹ, liệu Hà Nội có sẽ nâng quan hệ song phương lên thành “đối tác chiến lược”? Trả lời RFI Việt ngữ ngày 21/04/2023, nhà nghiên cứu Vũ Xuân Khang, trường Đại học Boston (Boston College), Hoa Kỳ, dự đoán: " Trong quan hệ ngoại giao của Việt Nam, "đối tác chiến lược toàn diện" là mức cao nhất, bao gồm Nga và Trung Quốc. Tiếp đến là "đối tác chiến lược", bao gồm các quốc gia tầm trung, như Hàn Quốc, Nhật Bản hay Ấn Độ. Còn "đối tác toàn diện" như với Mỹ là nấc cuối cùng trong thang ngoại giao của Việt Nam.  Việc Việt Nam đề cập đến nâng cấp quan hệ với Mỹ có thể được hiểu là hai bên muốn thể hiện vị thế, tầm quan trọng của mỗi bên, cũng như Mỹ xem Việt Nam là một đối tác đang lên ở châu Á-Thái Bình Dương và Việt Nam cũng đang coi Mỹ như là đối tác an ninh ngày càng quan trọng hơn. Nhưng sẽ rất khó để hai bên tăng cường quan hệ lên tầm đối tác chiến lược, vì Việt Nam cũng phải nghe ngóng phản ứng, thái độ của Trung Quốc". Trên trang mạng của nhật báo Hồng Kông South China Morning Post ngày 15/04, chuyên gia về an ninh Đông Nam Á Zachary Abuza nhắc lại Việt Nam cho tới nay vẫn ngại là xích lại quá gần Hoa Kỳ thì sẽ gặp phản ứng mạnh từ Trung Quốc. Ông ghi nhận là hiện giờ Việt Nam đã nhận tất cả những gì mà Việt Nam muốn từ quan hệ với Mỹ và Hoa Kỳ nay đã trở thành một trong những đối tác thương mại quan trọng nhất của Việt Nam. Theo chuyên gia Abuza, cái giá mà Việt Nam phải trả cho việc xích lại quá gần với Mỹ sẽ rất lớn, vì Trung Quốc có nhiều cách để trả đũa và gây áp lực lên Hà Nội. Đối với ông Abuza, việc “nâng cấp” quan hệ Mỹ-Việt có thể sẽ chỉ mang tính “biểu tượng ngoại giao”, mà nếu như thế thì Trung Quốc chắc cũng sẽ không nói gì.  Nhưng nếu thật sự hai nước nâng quan hệ lên thành « đối tác chiến lược toàn diện », Việt Nam có thể hứng chịu những đòn trả đũa nào của Trung Quốc về kinh tế, an ninh, chính trị… ? Vẫn nhà nghiên cứu Vũ Xuân Khang giải thích: "Quan hệ Việt-Mỹ chưa bao giờ chỉ liên quan đến Việt Nam và Mỹ, mà về bản chất, quan hệ đó cuối cùng vẫn chỉ là nhằm làm đối trọng với Trung Quốc. Nhưng nếu Việt Nam bảo đảm được với Trung Quốc rằng việc nâng cấp quan hệ Việt-Mỹ không ảnh hưởng đến lợi ích cốt lõi của Trung Quốc, đó là duy trì một Việt Nam trung lập trong quan hệ quốc tế và không làm ảnh hưởng đến đại cục quan hệ Việt-Trung, thì Trung Quốc sẽ không trừng phạt Việt Nam. Trung Quốc hiểu rằng nếu trừng phạt Việt Nam thái quá thì cũng chỉ làm cho Việt Nam càng có thêm lý do để nâng cấp quan hệ với Mỹ. Nhưng Trung Quốc vẫn có thể trừng phạt Việt Nam nếu Trung Quốc tin rằng Việt Nam bắt tay với Mỹ sau lưng Trung Quốc để kềm chế Trung Quốc. Trung Quốc sẽ cho Việt Nam thấy có rất nhiều hình thức trừng phạt, như là đưa đưa giàn khoan vào vùng đặc quyền kinh tế, hay tiếp tục bắt nạt các tàu đánh cá hay tàu hải cảnh Việt Nam trên Biển Đông, như vào những năm 2014, 2017, 2018 hay là 2019. Trung Quốc luôn luôn cho Việt Nam thấy rằng không một quốc gia nào có thể bảo vệ được Việt Nam, nên Việt Nam cần phải thận trọng ở Biển Đông. Trung Quốc vẫn muốn cho thấy rằng bất chấp Việt Nam là một nước cứng rắn với Trung Quốc ở Biển Đông, thì Việt Nam cũng không thể nào một mình đối trọng với Trung Quốc."  Nói chung, cho tới nay, “yếu tố Trung Quốc” tác động thế nào đối với quan hệ Việt - Mỹ và đối với chính sách ngoại giao của Việt Nam nói chung? Nhà nghiên cứu Vũ Xuân Khang nhắc lại lịch sử chính sách ngoại giao của Việt Nam: "Việt Nam đã có chính sách đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ ngoại giao, đặc biệt là một chính sách ngoại giao độc lập và tự cường kể từ sau khi chiến tranh Việt Nam kết thúc năm 1975. Lúc đó, Việt Nam đã muốn giữ khoảng cách an toàn và cân bằng giữa hai cường quốc Liên Xô và Trung Quốc. Tuy nhiên, khả năng Việt Nam có thể duy trì một chính sách ngoại giao độc lập và tự cường phụ thuộc rất nhiều vào Trung Quốc, đặc biệt là quan hệ Việt-Trung. Nghiên cứu của tôi cho thấy, khi quan hệ Việt-Trung xấu đi thì Việt Nam không thể thi hành chính sách đa phương, bởi vì Trung Quốc cho rằng, bất kể quan hệ ngoại giao của Việt Nam với một cường quốc khác cũng đều là mối lo ngại an ninh đối với Trung Quốc. Trung Quốc sẽ làm rất nhiều cách để trừng phạt Việt Nam, cũng như là giảm thiểu các lựa chọn ngoại giao của Việt Nam, như vào giao đoạn cuối những năm 1970, khi quan hệ Việt-Trung dần xấu đi do Trung Quốc ủng hộ Khờme Đỏ và không chấp nhận các lời kêu gọi viện trợ kinh tế của Việt Nam. Đầu tiên Trung Quốc không cho Việt Nam bình thường hóa bang giao với Mỹ, bằng cách ép Mỹ phải chọn giữa Trung Quốc và Việt Nam. Trung Quốc cho Mỹ thấy rằng việc bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc sẽ có lợi hơn là bình thường hóa quan hệ với Việt Nam, bởi vì Mỹ đang cần Trung Quốc để kềm chế Liên Xô. Sau đó, Trung Quốc tiếp tục tăng cường quan hệ với các nước Đông Nam Á, ngăn chận các nỗ lực của Việt Nam gia nhập khối ASEAN hay bình thường hóa quan hệ với Singapore, Malaysia, Thái Lan. Tiếp đến, khi Việt Nam không còn lựa chọn nào khác, bắt buộc phải ngả về phe Liên Xô bằng hiệp định đồng minh quân sự vào năm 1978, thì Trung Quốc tiếp tục cô lập Việt Nam trên trường quốc tế, cho cả thế giới thấy rằng Việt Nam cũng chỉ là con cờ của Liên Xô và Việt Nam không phải là một nước độc lập. Những điều đó khiến Việt Nam không còn lựa chọn nào khác là phải liên minh quân sự với Liên Xô. Sau khi Liên Xô tan rã vào năm 1991, quan hệ Việt-Trung đã được cải thiện rất nhiều, nên Trung Quốc không còn bất kỳ áp lực nào lên Việt Nam, tạo điều kiện cho Việt Nam mở cửa và cải thiện quan hệ với các nước thù địch như Mỹ. Chính vì thế mà từ những năm 1990 cho đến nay, Việt Nam liên tục bình thường hóa quan hệ và nâng cấp quan hệ với Mỹ thành "đối tác toàn diện". Nhưng chính sách nhất quán của Trung Quốc là sẽ chỉ đồng thuận cho Việt Nam nâng cấp quan hệ với một cường quốc khác khi quan hệ Việt-Trung đang ổn định, tốt đẹp. Nếu quan hệ Việt-Trung xấu đi thì chắc chắn Trung Quốc sẽ không cho Việt Nam có cơ hội duy trì một chính sách ngoại giao độc lập, tự chủ, mà Trung Quốc sẽ ép buộc Việt Nam chọn phe. Tuy nhiên, chính sách đối ngoại của Việt Nam luôn là duy trì ổn định để phát triển kinh tế, tránh những cuộc chiến tranh không cần thiết." Việc Hoa Kỳ vào năm 2016 bãi bỏ lệnh cấm vận vũ khí sát thương đã mở đường cho việc chuyển giao công nghệ quân sự của Mỹ cho Việt Nam. Việt Nam đã được cung cấp các tàu thuyền, máy bay và các thiết bị quân sự khác do Mỹ chế tạo. Trong chuyến đi Việt Nam vừa qua, ngoại trưởng Blinken đã thông báo là Hoa Kỳ sắp chuyển giao cho Việt Nam tàu tuần duyên thứ ba. Trong bối cảnh chiến tranh Ukraina dẫn đến việc phương Tây ban hành các trừng phạt đối với Nga, nguồn cung cấp vũ khí chủ yếu của Việt Nam cho tới, Hà Nội đang buộc phải tìm các nguồn cung cấp khác để tăng cường khả năng phòng thủ trước mối đe dọa của Trung Quốc. Việt Nam có thể trông chờ vào sự hỗ trợ của Mỹ về thiết bị quân sự? Theo nhà nghiên cứu Vũ Xuân Khang, dù có thêm nguồn cung cấp vũ khí từ Mỹ, Việt Nam cũng không đủ tài lực để chạy đua vũ trang với Trung Quốc:   " Vấn đề cốt lõi ở đây không phải là Việt Nam mua vũ khí từ nước nào, mà là thực sự Việt Nam có khả năng phòng thủ trước Trung Quốc với vũ khí đó hay không. Trung Quốc trong những năm gần đây hoàn toàn không tỏ ra lo lắng khi thấy Việt Nam hiện đại hóa quân đội, vì Trung Quốc hiểu rằng Việt Nam không có đủ khả năng chống trả trên biển. Trái lại, Trung Quốc hoàn toàn lo lắng khi Việt Nam tăng cường quan hệ quân sự với các nước đối trọng với Trung Quốc như Mỹ, vì Trung Quốc hiểu rằng chính Mỹ mới là nước có khả năng giúp Việt Nam để kềm chế Trung Quốc".
4/24/202310 minutes, 22 seconds
Episode Artwork

Nga hụt hơi xích gần với Trung Quốc buộc Việt Nam cân nhắc nâng cấp quan hệ với Mỹ ?

Liệu Mỹ có thuyết phục được Việt Nam nâng cấp quan hệ trong năm 2023, nhân dịp kỉ niệm 10 năm quan hệ Đối tác Toàn diện ? Hoa Kỳ và Việt Nam liên tục có những hoạt động thắt chặt quan hệ song phương trong thời gian gần đây. Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng và tổng thống Joe Biden điện đàm ngày 29/03. Ông Blinken có chuyến công du đầu tiên đến Việt Nam trong tư cách ngoại trưởng Mỹ từ 14-16/04. Trước đó một tuần là một phái đoàn các nhà lập pháp Hoa Kỳ. Từ 21-23/03 là một phái đoàn doanh nghiệp Mỹ lớn nhất từ trước đến nay. Tuy nhiên, Việt Nam dường như chưa sẵn sàng đáp ứng mong muốn của Mỹ. Trong thái độ lưỡng lự này, Trung Quốc là một yếu tố, nhưng quan trọng nhất là Nga, theo đánh giá của giáo sư Alexander Vuving, Trung tâm Nghiên cứu An ninh châu Á-Thái Bình Dương, Honolulu, Hawaii, Hoa Kỳ. Trong thư điện tử ngày 10/04/2023 trả lời một số câu hỏi của RFI Tiếng Việt, giáo sư Vuving cho rằng về lâu dài, Việt Nam phải có những bước đi mạnh mẽ hơn về phía Mỹ vì những bước đi về phía Nga, Nhật, Ấn, Hàn, Úc… sẽ không đủ để bù đắp sự “hụt hẫng” do Nga có thể sẽ bị dính phần nào vào Trung Quốc. * RFI : Hoa Kỳ và Việt Nam liên tục có những hoạt động, trao đổi trong thời gian gần đây. Xin ông cho biết là những hoạt động đó diễn ra trong bối cảnh như nào ? Giáo sư Alexander Vuving : Bối cảnh lớn nhất của các hoạt động ngoại giao giữa Mỹ và Việt Nam hiện nay là cuộc xâm lược Ukraina của Nga và những địa chấn chính trị của nó. Cuộc chiến tranh này đã buộc lịch sử thế giới phải sang trang. Trước hết, ở tầm vóc toàn cầu, thời kỳ hậu Chiến tranh Lạnh đã hoàn toàn chấm dứt. Đặc điểm chủ đạo của thời kỳ hậu Chiến tranh Lạnh là hợp tác nước lớn vượt trội cạnh tranh nước lớn. Chính vì thế mà toàn cầu hóa đã có cơ hội phát triển vượt bậc và trở thành một xu thế mạnh mẽ trên phạm vi toàn cầu. Nhưng từ khoảng 2008, thời kỳ hậu Chiến tranh Lạnh đi vào thoái trào, cạnh tranh nước lớn dần trở nên lấn át hợp tác nước lớn. Các sự kiện lớn nói lên điều này là việc Nga xâm lược Gruzia năm 2008, Trung Quốc lập Vùng Nhận dạng Phòng không ở Biển Hoa Đông năm 2013 và cũng khoảng thời gian đó, Trung Quốc bắt đầu xây đảo nhân tạo ở Biển Đông, rồi năm 2014, Nga sáp nhập bán đảo Crưm của Ukraina. Trong thời kỳ 2008-2016, nước Mỹ dưới trào tổng thống Obama phản ứng yếu ớt với các hành động hung hăng của Nga và Trung Quốc nên cạnh tranh nước lớn chỉ mạnh về một chiều. Nhưng sau khi tổng thống Trump lên nắm quyền, chính phủ Mỹ chuyển cách nhìn đối với Trung Quốc, coi Trung Quốc là đối thủ chiến lược. Bản thân Trump khai mở một cuộc “thương chiến” với Trung Quốc bằng cách áp đặt thuế quan nặng nề lên một số lượng lớn hàng nhập khẩu từ Trung Quốc. Và cuộc xâm lược Ukraina của Nga đã đặt dấu chấm hết cho thời kỳ hậu Chiến tranh Lạnh. Nó mở toang cánh cửa đã được hé mở từ một thập kỷ trở lại đây để thế giới đi vào một thời kỳ mới trong đó cạnh tranh nước lớn là chủ đạo, hợp tác nước lớn vẫn tồn tại nhưng chỉ là thứ yếu. Cạnh tranh nước lớn ở đây trước hết là giữa Mỹ một bên và Nga và Trung Quốc ở bên kia. Điều này khiến cho toàn bộ cấu trúc quan hệ đối ngoại của Việt Nam bị lung lay. Sau Chiến tranh Lạnh, Việt Nam phấn đấu làm bạn với tất cả các nước, đặc biệt là giữ quan hệ tốt với các cường quốc, bao gồm cả Trung Quốc, Mỹ và Nga. Khi hợp tác nước lớn mạnh hơn cạnh tranh nước lớn, Việt Nam có thể xây dựng một cấu trúc đối ngoại vững chắc với một mạng lưới các quan hệ tốt đẹp với tất cả các cường quốc. Nhưng cuộc chiến tranh Ukraina đã khiến cho quan hệ giữa Nga và Mỹ cũng như phương Tây trở nên thù địch. Nếu Việt Nam tăng cường quan hệ với Mỹ và phương Tây thì sẽ làm phật lòng Nga. Ngược lại, Việt Nam tăng cường quan hệ với Nga cũng sẽ làm phật lòng Mỹ và phương Tây. Đọc thêm : Chiến tranh Ukraina: Thái độ thận trọng quá mức của Việt Nam Đồng thời, quan hệ Mỹ-Trung tiếp tục xấu đi. Có thể có một vài sự hàn gắn nhất thời nhưng xu thế chung trong thời gian tới là cạnh tranh Mỹ-Trung ngày càng gay gắt. Mà tâm điểm địa lý của cuộc tranh hùng Mỹ-Trung là khu vực Tây Thái Bình Dương, bao gồm các nước ven biển Hoa Đông và Biển Đông. Khác với cuộc Chiến tranh Lạnh trước đây, Việt Nam chỉ nằm ở ngoại vi của cuộc tranh hùng giữa Liên Xô và Mỹ, nay Việt Nam nằm ngay ở “đường đứt gãy” trung tâm của cuộc cạnh tranh chiến lược giữa Trung Quốc và Mỹ. Do đó, những hoạt động ngoại giao gần đây giữa Mỹ và Việt Nam là nằm trong cố gắng tập hợp lực lượng của Mỹ trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược với Trung Quốc và Nga, cũng như những cố gắng của Việt Nam nhằm giữ thế cân bằng cho “con thuyền” của mình giữa cơn phong ba địa-chính trị của khu vực và thế giới. Trong cơn phong ba địa-chính trị đó có cả tham vọng của Trung Quốc trên Biển Đông và ở Đông Dương, là những chuyện sát sườn Việt Nam phải đối phó. Giữ con thuyền khỏi tròng trành, đối với Việt Nam, còn bao gồm cả việc đảm bảo nguồn cung tài chính từ bên ngoài (ví dụ thông qua đầu tư nước ngoài) và thị trường xuất khẩu cho hàng Việt Nam (ngoại thương Việt Nam có giá trị gần gấp đôi tổng sản phẩm quốc nội). Thêm nữa, chính quyền Hà Nội còn có mối lo giữ chế độ cho đảng Cộng sản Việt Nam. Đấy là những quan tâm hàng đầu của hai nước Việt-Mỹ trong quan hệ song phương. RFI : Có thể coi đó là dấu hiệu cho thấy có sự chuyển biến theo hướng tích cực trong quan hệ giữa hai nước, nhất là trong lĩnh vực hợp tác thương mại, đầu tư ? G.S. Alexander Vuving: Cả Mỹ và Việt Nam đều muốn tăng cường quan hệ, trong đó hợp tác kinh tế là một cột trụ quan trọng. Hợp tác quốc phòng cũng là một trụ cột quan trọng, nhưng do sự nhạy cảm của nó đối với các quan hệ nước lớn khác nên nhiều khi hai nước phải đi đường vòng hoặc có lúc tiến lúc lùi thay vì đi thẳng và liên tục tiến. Năm nay, hai nước Việt-Mỹ kỷ niệm 10 năm thiết lập quan hệ “đối tác toàn diện”. Từ đầu năm đã có nhiều đoàn trao đổi, trong đó nổi bật có chuyến thăm Việt Nam của đại diện thương mại Mỹ Katherine Tai, một đoàn đông đảo các doanh nghiệp Mỹ muốn tăng cường làm ăn với Việt Nam và tuần trước là đoàn nghị sĩ Quốc Hội Mỹ. Thông điệp lớn nhất của phía Mỹ là chính phủ Mỹ, bao gồm cả hành pháp và lập pháp, cũng như giới kinh doanh đều muốn nâng quan hệ hai nước lên tầm “đối tác chiến lược”. Đọc thêm : SpaceX, Netflix, Boeing tham gia phái đoàn doanh nghiệp Mỹ đến Việt Nam Trong bối cảnh Mỹ muốn giảm thiểu sự phụ thuộc vào thị trường Trung Quốc thì quan hệ thương mại và đầu tư với Việt Nam càng trở nên quan trọng. Việt Nam cũng rất mong muốn tăng cường quan hệ kinh tế với Mỹ. Nếu nhìn vào cán cân thương mại của Việt Nam, ta có thể thấy Việt Nam nhập khẩu nhiều nhất từ Trung Quốc, Hàn Quốc và các nước ASEAN, nhưng lại xuất khẩu nhiều nhất sang Mỹ, Trung Quốc và các nước Liên Hiệp Châu Âu. Mỹ là thị trường xuất khẩu lớn nhất cho hàng Việt Nam, chiếm khoảng 30% thị phần, và là bạn hàng lớn thứ hai của Việt Nam sau Trung Quốc. Ở chiều ngược lại, Việt Nam cũng đang trở thành đối tác thương mại lớn thứ 7 của Mỹ, thay thế vị trí mà Anh đã giữ suốt hai thập kỷ vừa qua. RFI : Tuy nhiên, về ngoại giao, có ý kiến cho rằng Việt Nam chưa sẵn sàng nâng cấp quan hệ ngoại giao với Hoa Kỳ ? Hà Nội lo về những điểm gì ? G.S. Alexander Vuving : Chủ trương lâu dài của Việt Nam là thiết lập quan hệ đối tác chiến lược với tất cả các nước lớn, cụ thể là các nước ủy viên thường trực Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc. Trong vòng hơn 20 năm qua, Việt Nam đã lập quan hệ này với Nga (2001), Trung Quốc (2008), Anh (2010), Pháp (2013). Chỉ còn Mỹ là chưa. Hai nước đã lỡ một số cơ hội lớn trong quá khứ.  Năm 2015, khi tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng thăm Mỹ lần đầu tiên, Mỹ cũng đã muốn nâng cấp quan hệ lên đối tác chiến lược, nhưng Việt Nam ngại rằng như thế sớm quá, vì mới lập quan hệ “đối tác toàn diện” được hai năm, và đề nghị chỉ nâng nửa vời lên “đối tác toàn diện sâu rộng”. Mỹ không đồng ý. Quan hệ tiếp tục được gọi là “đối tác toàn diện”. Chuyến đi này diễn ra khoảng một năm sau sự kiện “giàn khoan” (Trung Quốc đơn phương hạ đặt giàn khoan HYSY-981 trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam), gây ra sự chuyển hướng chiến lược quan trọng trong chính sách đối ngoại và quốc phòng của Việt Nam. Đến khoảng năm 2018, sau khi Trung Quốc hoàn tất xây đảo nhân tạo ở quần đảo Trường Sa và tăng cường quấy rối cản trở hoạt động khai thác dầu khí của Việt Nam trong vùng đặc quyền kinh tế, Hà Nội bắt đầu thấy cần thiết phải nâng cấp quan hệ với Washington lên đối tác chiến lược. Dự định là trong chuyến thăm Mỹ vào nửa cuối năm 2019 của tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng theo lời mời của tổng thống Trump, hai nước sẽ nâng cấp quan hệ. Nhưng chuyến đi đã không bao giờ được thực hiện vì sức khỏe ông Trọng không cho phép.  Chính quyền tổng thống Biden lên thay tiếp tục mong muốn đưa quan hệ lên tầm “đối tác chiến lược”. Đặc biệt việc Mỹ viện trợ vac-xin Covid cho Việt Nam với số lượng rất lớn và không có bất cứ điều kiện nào kèm theo, trong khi Trung Quốc viện trợ ít hơn nhiều và gần như luôn đi kèm điều kiện, đã khiến nhiều người trong chính giới Việt Nam thấy “ai là bạn và ai chỉ là đối tác thôi”. Tuy nhiên, cho đến cuối năm 2021, không có cơ hội nào cho lãnh đạo tối cao hai nước gặp nhau nên chưa thực hiện được việc nâng cấp.  Đọc thêm : Covid-19 : Mỹ sẽ viện trợ thêm vac-xin cho Việt Nam Sau khi Nga xâm lược Ukraina khiến quan hệ Nga - Mỹ trở nên thù địch, Việt Nam quyết định đóng băng vấn đề nâng cấp quan hệ với Mỹ. Hà Nội giải thích là để thể hiện “độc lập, cân bằng, tự chủ”. Sâu xa hơn thì là để chứng tỏ cho Nga thấy là Việt Nam không đi với Mỹ để chống Nga.  Trước đó, cuối năm 2021, trong chuyến thăm Nga của chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc, hai bên đã ra Tuyên bố chung về Tầm nhìn Quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện giữa Nga và Việt Nam đến năm 2030. Tuyên bố này có mấy điểm đáng lưu ý. Một là lần đầu tiên Nga hứa “sẽ phối hợp bảo đảm an ninh, an toàn và tự do hàng hải và hàng không và các hoạt động thương mại không bị cản trở” với Việt Nam. Hai là hai bên khẳng định “không liên minh hoặc thỏa thuận với bên thứ ba nhằm có các hành động phương hại đến độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, cũng như lợi ích cơ bản của nhau”.  Như vậy, mấu chốt để Việt Nam nâng cấp quan hệ với Mỹ là Nga hiểu rằng việc đó không có nghĩa là Việt Nam đi với Mỹ để chống Nga. Chính vì thế mà khi đón các đoàn Mỹ sang thăm, lãnh đạo Việt Nam vẫn nói ủng hộ nâng tầm quan hệ nhưng phải chờ “khi điều kiện phù hợp”.  Phản ứng của Trung Quốc cũng là một vấn đề Việt Nam phải lo ngại, nhưng tôi cho rằng yếu tố này không đủ lớn để làm Việt Nam chùn bước. Thứ nhất là Trung Quốc tiếp tục gia tăng chống phá Việt Nam ở hướng biển. Trung Quốc cũng thâm nhập sâu vào Campuchia và Lào. Các căn cứ quân sự trá hình mà Trung Quốc đang xây dựng ở Campuchia cũng khiến Việt Nam thêm lo ngại. Việt Nam cần Mỹ để đối trọng với Trung Quốc.  Đọc thêm : Việt Nam thận trọng trước thông tin về căn cứ Trung Quốc ở Cam Bốt Đối tác chiến lược không phải là liên minh nên không xâm phạm 3 trong “4 Không” của Việt Nam (Không tham gia liên minh quân sự, Không đi với nước này để chống nước kia, Không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự trên đất Việt Nam, Không dùng vũ lực trong quan hệ quốc tế). Vấn đề chỉ còn cư xử thế nào để Nga và Trung Quốc khó phàn nàn là Việt Nam âm mưu đi với Mỹ để chống lại họ.  Đọc thêm : Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng, lãnh đạo nước ngoài đầu tiên đến Trung Quốc sau Đại hội Đảng Việt Nam không muốn tạo cớ cho Trung Quốc làm mạnh nên đã có chuyến đi phá lệ của tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng tới Trung Quốc tháng 11/2022. Theo thông lệ thì tổng bí thư sẽ đi thăm Lào đầu tiên sau khi nhậm chức. Nhưng lần này ông Trọng đi Trung Quốc là nước ngoài đầu tiên sau khi ông được tái đắc cử ở Đại hội Đảng lần thứ 13 đầu năm 2021. Thỏa thuận trong chuyến đi cho thấy Hà Nội nhượng bộ một số chuyện nhỏ “không mất gì” nhưng vẫn nhất quyết không tham gia “cộng đồng chung vận mệnh” với Trung Quốc và cũng chỉ nói lời đãi bôi với các Sáng kiến An ninh Toàn cầu và Sáng kiến Phát triển Toàn cầu, là những khuôn khổ hợp tác chiến lược mới của Trung Quốc cho thời kỳ cạnh tranh nước lớn.  RFI : Chiến tranh Ukraina đã buộc Nga phải xích lại gần với Trung Quốc. Đây có phải là điểm bất lợi cho Việt Nam hay không, trong khi Việt Nam có tranh chấp chủ quyền với Trung Quốc ở Biển Đông, còn Nga từng là nhà cung cấp vũ khí, là đối tác quốc phòng quan trọng nhất của Việt Nam ? G.S. Alexander Vuving : Nga xích lại gần Trung Quốc là điểm bất lợi lớn đối với Việt Nam. Nga không chỉ là nhà cung cấp vũ khí chủ yếu cho Việt Nam, mà các công ty dầu khí Nga còn đóng vai trò quan trọng trên tuyến đầu bảo vệ chủ quyền Việt Nam ở Biển Đông. Đồng thời trong chiến lược “cân bằng quan hệ” với các nước lớn của Hà Nội, Moskva cũng là một yếu tố đáng kể. Nga cảm tình với chế độ của đảng Cộng sản Việt Nam, không có tranh chấp chủ quyền lãnh thổ với Việt nam, lại là một cường quốc hạt nhân và thành viên thường trực Hội Đồng Bảo An Liên Hợp Quốc. Quan hệ với Nga giúp Hà Nội cân bằng quan hệ với Trung Quốc và Mỹ. Nay Nga suy yếu về kinh tế, quân sự và ngoại giao, phải dựa vào Trung Quốc nhiều hơn, thì tức là cán cân lực lượng giữa các cường quốc đã có sự thay đổi đáng kể. Nếu ví cấu trúc đối ngoại của Việt Nam như chiếc kiềng nhiều chân, trong đó các chân lớn là quan hệ với Trung Quốc, Mỹ, Nga, các chân nhỏ hơn là quan hệ với Nhật Bản, Ấn Độ, ASEAN, Pháp, Anh, Đức, Úc, Hàn Quốc… thì rõ ràng khi “chân” Nga yếu đi, lại phải dựa vào Trung Quốc, thì chiếc kiềng của Việt Nam mất cân bằng. Cách Việt Nam làm hiện này là tìm cách kéo Nga về phía mình, trong khi đẩy mạnh quan hệ với các nước “cận cường quốc” như Nhật Bản và Ấn Độ và các nước “bậc trung” như Hàn Quốc, Úc, đồng thời tiếp tục “giữ cầu” để khi có thời cơ thì nâng quan hệ với Mỹ. Trong một năm qua, Việt Nam đã tiếp tục thắt chặt quan hệ với Nhật Bản theo châm ngôn “chân thành, tình cảm, tin cậy”, tăng cường hợp tác quốc phòng với Ấn Độ. Việt Nam cũng đã nâng cấp quan hệ với Hàn Quốc lên “đối tác chiến lược toàn diện” tháng 12/2022. Dự định cuối năm nay sẽ nâng quan hệ với Úc lên “đối tác chiến lược toàn diện”. Đọc thêm : Những kỳ vọng về quan hệ "Đối tác chiến lược toàn diện" giữa Việt Nam và Úc Xu hướng dài hạn là Nga sẽ khó lòng khôi phục vị thế và sức mạnh trước cuộc xâm lược Ukraina và nhiều khả năng Nga sẽ sa lầy tại Ukraina, tiếp tục đối đầu với Mỹ, tiếp tục xích lại gần Trung Quốc. Do đó, Việt Nam phải có những bước đi mạnh mẽ hơn về phía Mỹ vì những bước đi về phía Nga, Nhật, Ấn, Hàn, Úc… sẽ không đủ để bù đắp sự “hụt hẫng” của “chân” Nga mà nay có thể sẽ bị dính với “chân” Trung Quốc phần nào. RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn giáo sư Alexander Vuving, Trung tâm Nghiên cứu An ninh châu Á-Thái Bình Dương, Honolulu, Hawaii, Hoa Kỳ.
4/17/202312 minutes, 14 seconds
Episode Artwork

Quốc phòng, năng lượng, văn hóa, đào tạo : Những dự án hợp tác thúc đẩy quan hệ Pháp - Việt

Ngày 12/04/2023, Việt Nam và Pháp kỉ niệm tròn 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao. Năm 2023 cũng đánh dấu tròn 10 năm quan hệ đối tác chiến lược Pháp-Việt. Nhân dịp này, ngài Đại sứ Pháp tại Việt Nam Nicolas Warnery đã trả lời phỏng vấn RFI Tiếng Việt qua điện thoại ngày 07/04/2023. RFI : Thưa ngài Đại sứ, trong buổi họp báo ngày 14/03, ông đã giới thiệu rất nhiều hoạt động kỉ niệm 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Pháp - Việt và 10 năm quan hệ đối tác chiến lược trong năm 2023. Những sự kiện rất đa dạng này, từ văn hóa ngoại giao, quốc phòng đến kinh tế, có phản ánh được tầm quan trọng của mối quan hệ giữa hai nước ? Cột mốc này sẽ đánh dấu cho sức bật mới cho quan hệ song phương ? Đại sứ Nicolas Warnery : Mối quan hệ Pháp-Việt có điều gì đó rất đặc biệt bởi vì đó là thành quả của một quá trình lịch sử chung giữa hai nước chúng ta, với những thời điểm đau thương, tăm tối, sau đó là những lúc tươi sáng, hạnh phúc. Đó là mối quan hệ chính trị, mà chúng ta đều thấy ở cấp cao giữa các nhà lãnh đạo, mối quan hệ đa dạng với những hợp tác ở cấp địa phương, giữa các trường đại học, bệnh viện, doanh nghiệp. Đó là chưa kể những mối quan hệ cá nhân nhờ vào những người sống ở Pháp hoặc ở Việt Nam do nguồn gốc xuất thân của họ, do quá trình học tập, do sự nghiệp hoặc từ những chuyến đi, đóng vai trò cầu nối giữa hai nước. Từ 50 năm nay, chúng ta đã có những thành công tốt đẹp về thương mại-đầu tư, về phát triển bền vững và bảo vệ môi trường, chống biến đổi khí hậu, về giáo dục đại học, nghiên cứu, y tế, quản trị, hành chính và trong nhiều lĩnh vực có thể ít được biết đến hơn như an ninh và quốc phòng. Điều mà tôi thấy hữu hiệu và mạnh mẽ, đó là những mối quan hệ hợp tác cụ thể, đáp ứng những ưu tiên mà hai nước chúng ta cùng chia sẻ. Chúng ta không tuyên bố suông mà tiến hành cụ thể. Và những năm gần đây, chúng ta đã cố nâng tầm mối quan hệ đối tác này qua việc thiết lập quan hệ đối tác chiến lược, được ký cách đây 10 năm. Do đó, năm nay, chúng tôi cố gắng thực hiện một chương trình hành động đa dạng, phong phú để kỉ niệm sự kiện này, đồng thời cho thấy mọi mặt của mối quan hệ rất đặc biệt với khẩu hiệu bên dưới logo mà chắc quý vị đã thấy, đó là « Các nền văn hóa được chia sẻ ». Gọi là « Các nền văn hóa » để chứng minh rằng chúng ta chia sẻ thực sự hai nền văn hóa với nhau. Tất cả các sự kiện được nêu trên trang web và mạng xã hội Facebook của Đại sứ quán Pháp. Để có thể hình dung ra phần nào, tôi xin nêu một vài sự kiện, ví dụ triển lãm tại Văn Miếu về di sản và lịch sử, triển lãm trên đường phố và tại nhiều gallery ảnh về Hà Nội bắt đầu khoảng 15 ngày tới, lễ hội ẩm thực ngoài phố « Dạo chơi nước Pháp » ở Hà Nội, tuần lễ ẩm thực ở thành phố Hồ Chí Minh, buổi diễn nhạc kịch về chủ đề Hoàng tử bé ở nhà hát Hà Nội vào tháng 05, tuần lễ thiết kế thời trang ở Sài Gòn, giải thưởng Goncourt của sinh viên Việt Nam vào mùa thu tới và cuối cùng là màn pháo hoa, trình diễn ánh sáng ở kinh thành Huế dự kiến vào tháng 12. Có thể thấy một năm rất sinh động. Chúng tôi không những muốn nhớ về quá khứ mà còn hướng đến hiện tại và tương lai với nhiều ước vọng lớn. Chúng tôi muốn phát triển trao đổi thương mại và đầu tư giữa hai nước dựa trên thỏa thuận tự do thương mại giữa Liên Hiệp Châu Âu và Việt Nam. Chúng tôi cũng muốn tập trung sức lực vào mảng chống biến đổi khí hậu, đồng hành với Việt Nam trong quá trình chuyển đổi năng lượng. Và chúng tôi cũng muốn tăng cường hợp tác quốc phòng. Quý vị có thể thấy đây là một năm kỉ niệm, nhưng cũng là bàn đạp để hướng đến tương lai gần. RFI : Nhân nói về văn hóa, Việt Nam đã đàm phán thành công với nhà bán đấu giá Pháp Millon và hồi hương ấn vàng của vua Minh Mạng nhờ một nhà sưu tập Việt Nam. Rất nhiều người nổi tiếng đề nghị chính phủ Việt Nam lập một ủy ban thống kê cổ vật Việt Nam được bảo quản ở nước ngoài, trong đó có Pháp. Pháp sẽ hỗ trợ và hợp tác với Việt Nam trong dự án này không ? Đại sứ Nicolas Warnery : Chúng tôi đã rất chú ý theo dõi quãng thời gian đàm phán hồi hương ấn vàng của vua Minh Mạng mà cựu hoàng Bảo Đại sở hữu. May là quãng thời gian này rất ngắn. Chúng tôi được thông báo về việc này rất sớm. Lúc đó, chúng tôi đã báo ngay cho Paris về thực chất của vấn đề, tiếp theo là kết nối chính quyền Việt Nam với nhà bán đấu giá để bên muốn có được ấn vàng có thể thỏa thuận mua và tránh bán công khai. Phải nhắc lại là đây là một cổ vật quý giá, đầy ý nghĩa lịch sử xúc động. Tôi rất vui vì mọi chuyễn đã diễn ra tốt đẹp và ấn vàng đã có thể được đưa về Việt Nam. Ở điểm thứ hai liên quan đến ủy ban thống kê bảo vật, đúng là chúng tôi đã nghe nói nhưng hiện giờ chúng tôi chưa được đề nghị hỗ trợ. RFI : Trong lĩnh vực du lịch, năm 2021, chính phủ Pháp công bố kế hoạch « Destination France » để đưa Pháp thành điểm du lịch hàng đầu thế giới và du lịch bền vững. Đại sứ quán Pháp và các đối tác giới thiệu nước Pháp đến với người Việt như thế nào ? Có phải do thành công mà thời hạn xử lý hồ sơ xin thị thực bị kéo dài trong thời gian gần đây ? Cơ quan lãnh sự nhận được rất nhiều đơn xin visa du lịch ? Đại sứ Nicolas Warnery : Đúng là có rất nhiều đơn xin thị thực. Tôi xác nhân điều đó. Giờ Pháp mở cửa trở lại và cuộc khủng hoảng đại dịch đã lùi xa, « Điểm đến nước Pháp » lại thu hút đông đảo người Việt Nam. Chúng tôi thấy số lượng đơn xin thị thực du lịch bùng nổ từ mùa hè năm ngoái và rất vui về điều này. Nhưng đó không phải là lý do khiến việc cấp thị thực bị trễ mà do thời hạn xử lý hồ sơ kéo dài hơn. Thêm vào đó, chúng tôi mới triển khai một cổng dịch vụ mới, một hệ thống mới hiệu quả hơn. Như quý vị vẫn biết, thỉnh thoảng có chút vấn đề trong giai đoạn chạy thử. Vì thế, lời khuyên của chúng tôi là quý vị dự tính xin visa càng sớm càng tốt. Khi quý vị biết là sẽ đi du lịch thì nên sớm xin thị thực, có thể xin ngay cả trước khi có vé máy bay, trước cả khi biết ngày khởi hành chính xác. Phải tính xa càng sớm càng tốt. Đó thực sự là thông điệp chính của chúng tôi. Về phần mình, dĩ nhiên chúng tôi tiếp tục quảng bá các sự kiện, hình ảnh về nước Pháp. Chúng tôi cũng tiếp tục thông tin về những sự kiện được tổ chức ở Việt Nam nhân dịp kỉ niệm 50 năm này, cũng như những sự kiện có thể diễn ra ở Pháp. Chúng tôi muốn cho thấy hình ảnh một nước Pháp biết rõ những điểm mạnh của mình và nổi tiếng về ẩm thực và di sản. Ngoài ra, chúng tôi cũng tìm cách làm nổi bật những thế mạnh khác, đôi khi ít được biết đến hơn, như tính hiện đại, đổi mới, khoa học và công nghệ cao, cũng là những chủ đề tham quan, như khu khoa học Cité des Sciences có rất nhiều địa điểm ở Pháp, dù là ở vùng Paris hay ở tỉnh, hướng đến tương lai, khoa học, phát triển kiến thức. Đó cũng là những thế mạnh du lịch của Pháp, tương tự với du lịch bền vững, du lịch sinh thái, du lịch nông nghiệp… Chúng tôi muốn đề cao giá trị của tất cả những hình thức này. Cho nên, khách có thể đến Pháp với những chương trình du lịch rất khác nhau. RFI : Điểm thứ ba liên quan đến quốc phòng, tuần dương hạm Prairial vừa mới kết thúc chuyến thăm cảng Hải Phòng để khẳng định hợp tác quốc phòng song phương và cam kết của Pháp trong việc tôn trọng luật pháp quốc tế và tự do lưu thông ở những khu vực chung. Vào đầu tháng 12/2022, nhiều công ty Pháp đã tham dự Triển lãm Quốc phòng Quốc tế lần đầu tiên do Việt Nam tổ chức. Qua đó liệu có thể nghĩ đến một mối quan hệ hợp tác chặt chẽ hơn, rộng hơn trong khi Việt Nam đang tìm cách đa dạng mạng lưới đối tác quốc phòng kể từ khi xảy ra chiến tranh Ukraina ? Đại sứ Nicolas Warnery : Tuần dương hạm Prairial dừng ở Hải Phòng bốn ngày và đã rời cảng hôm qua (06/04) hướng ra Biển Đông (đại sứ Pháp sử dụng từ « Mer de l’Est » - Biển Đông) nơi tầu đang hoạt động. Đây là một chuyến cập cảng xã giao truyền thống và hợp tác nhưng cũng là một chuyến thăm đặc biệt vì là chuyến thăm đầu tiên từ sau đại dịch Covid. Còn những lần cập cảng trước đều diễn ra trong bối cảnh rất đặc biệt, đúng lúc phong tỏa, thủy thủ đoàn được đưa thẳng đến khách sạn để nghỉ ngơi và không có bất kì tiếp xúc trực tiếp nào với các đồng nhiệm, đối tác và người dân Việt Nam. Vì thế, chuyến thăm lần này thực sự diễn ra tốt đẹp với nhiều hoạt động tương tác, được gọi là « PASSEX » giữa tầu và Hải quân Việt Nam. Hải quân Việt Nam lên thăm tầu Prairial, còn thủy thủ Pháp lên thăm một tầu thủy đạc Việt Nam. Ngoài ra, còn có nhiều hoạt động giao lưu hữu nghị và thể thao khác, như đội ngũ y tế trên tầu đã gặp lãnh đạo trường Đại học Y Dược Hải Phòng. Sự kiện cho thấy tinh thần vô cùng tích cực, nhất là lại diễn ra vào dịp đặc biệt kỉ niệm 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao mà chúng ta đề cập ở trên. Ngoài tính chất đặc biệt của chuyến cập cảng lần này, mỗi chuyến thăm của tầu Pháp là một dấu ấn của Pháp về sự hợp tác chặt chẽ với Việt Nam trong việc bảo vệ luật biển quốc tế, quyền tự do lưu thông trên không và trên biển ở Biển Đông và bảo vệ những khu vực chung thuộc vùng biển quốc tế. Pháp và Việt Nam đang cùng nhau bảo vệ chủ nghĩa đa phương, hòa bình, tự do lưu thông, tôn trọng luật pháp quốc tế. Và đối với chúng tôi, những chuyến ghé thăm cảng như này thể hiện cho mong muốn cùng nhau hành động vì hòa bình, ổn định, an ninh trong khu vực. Chị nhắc đến hợp tác quốc phòng ở trên. Tôi xin nhấn mạnh là vào tháng 11/2021, khi thủ tướng Việt Nam Phạm Minh Chính thăm Paris, lãnh đạo chính quyền hai nước đã nhất trí phát triển nhiều dự án cơ cấu trong lĩnh vực quốc phòng, trong đó có những dự án cung cấp trang thiết bị, bởi vì cùng phối hợp vì hòa bình thường đi đôi với hợp tác công nghiệp và về mặt trang thiết bị. RFI : Có nghĩa là sẽ có thêm nhiều doanh nghiệp công nghiệp quốc phòng Pháp hiện diện ở Việt Nam ? Đại sứ Nicolas Warnery : Đúng vậy. Điều mà tôi giải thích ở đây đó là chính sách của Pháp. Việc này đi kèm với sự hiện diện liên tục của công ty cung cấp thiết bị quân sự. Họ đã có mặt ở Việt Nam trước đại dịch Covid, giữ liên lạc trong giai đoạn đại dịch. Họ tham gia Triển lãm Quốc Phòng mà chị nói ở trên và họ hoàn toàn sẵn sàng làm việc với bộ Quốc Phòng Việt Nam, với những đối tác Việt Nam có thẩm quyền trong những lĩnh vực này. RFI : Nhóm G7 và Liên Hiệp Châu Âu, trong đó có Pháp, đã ký với các nhà lãnh đạo Việt Nam một thỏa thuận đối tác đầy tham vọng về chuyển đổi năng lượng ngày 14/12/2022. Pháp có những dự án hỗ trợ Việt Nam như nào ? Đổi lại, Pháp trông đợi gì từ phía các đối tác Việt Nam ? Đại sứ Nicolas Warnery : Chị có lý khi nhắc đến Thỏa thuận Đối tác Chuyển đổi Năng lượng Công bằng (JETP) ký ở Bruxelles ngày 14/12/2022, bởi vì đó là một thỏa thuận vô cùng quan trọng, được ký chỉ hơn một năm sau khi Việt Nam đưa ra những cam kết tại Hội nghị về Biến đổi Khí hậu của Liên Hiệp Quốc - COP 26 ở Glasgow mà chúng tôi hết sức ủng hộ, cổ vũ, và sau chuyến thăm Paris của thủ tướng Phạm Minh Chính. Pháp và Việt Nam cam kết nỗ lực hoàn toàn trong cuộc chiến chung này để bảo vệ hành tinh, chống biến đổi khí hậu và dĩ nhiên là có chuyện chuyển đổi năng lượng vì hai mảng này liên hệ mật thiết với nhau. Hiện giờ, điện là lĩnh vực phát thải nhiều khí carbon nhất ở Việt Nam. Đây là điểm phải cần nhiều nỗ lực. Trong thỏa thuận JETP này, có khoảng 15,5 tỉ đô la ngân sách công và tư được dự trù và sẽ được huy động để chủ yếu tăng cường mạng lưới điện Việt Nam, triển khai các năng lượng tái tạo trên cả nước. Đây là cách chúng ta loại trừ khí thải trong quá trình sản xuất điện ở Việt Nam và hoạt động tăng trưởng của Việt Nam về mặt năng lượng Thực ra, Pháp đã tham gia rất tích cực vào lĩnh vực năng lượng ở Việt Nam. Cơ quan Phát triển Pháp - AfD (Agence française de développement) đã được giao nhiệm vụ « 100% Khí hậu » - theo cách chúng tôi vẫn gọi. Có nghĩa là tất cả các dự án này đều cam kết giải quyết vấn đề biến đổi khí hậu. Tôi xin đưa ra một vài ví dụ, nhà máy thủy điện Huội Quảng (Sơn La) với khoản đầu tư 100 triệu euro từ năm 2010, nhà máy điện mặt trời Sê San (Gia Lai) 24 triệu euro từ năm 2019, mở rộng nhà máy thủy điện Yali (Kon Tum) 75 triệu euro năm 2021, thủy điện Hòa Bình 70 triệu euro năm 2021. Đó là nỗ lực liên tục và đã được cam kết. Điều thay đổi với thỏa thuận JETP là chúng tôi sẽ gia tăng nỗ lực. Thông qua một thỏa thuận đối tác ba bên, gồm AfD (Cơ quan Phát triển Pháp) - EDF (Công ty Điện lực Pháp) - EVN (Công ty Điện lực Việt Nam), chúng tôi sẽ tăng cường quan hệ đối tác để giúp Việt Nam lập kế hoạch chuyển đổi năng lượng. Phải chuẩn bị cho cả quá trình này vì việc đó đòi hỏi rất nhiều công sức trước khi thực hiện các dự án và để tài trợ cho các khoản đầu tư cần thiết cho quá trình chuyển đổi năng lượng. Dự định là vậy : Làm tất cả để Việt Nam có thể giữ được mọi cam kết. Về phần mình, chính phủ Việt Nam cần đưa ra những dự án cụ thể, những tài trợ cụ thể và chương trình tài chính cụ thể. Chính phủ cũng cần tạo ra một môi trường pháp lý hấp dẫn để các doanh nghiệp, vì có cả lĩnh vực tư nhân như tôi nói ở trên, có tầm nhìn tốt hơn về các dự án phát triển năng lượng tái tạo và có thể đến đầu tư một cách an toàn, ví dụ xây dựng những trang trại điện mặt trời hoặc điện gió. RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn ngài đại sứ Nicolas Warnery.
4/10/202312 minutes, 49 seconds
Episode Artwork

Việt Nam buộc phải sửa đổi chính sách visa để thu hút du khách

Bộ Du lịch Việt Nam đã đề ra mục tiêu đến 2025, ngành du lịch Việt Nam sẽ phục hồi hoàn toàn, đón 18 triệu lượt khách quốc tế và đến 2030 sẽ nâng con số này lên 35 triệu. Nhưng hiện giờ, tuy Việt Nam đã mở cửa trở lại cách đây khoảng hơn một năm sau một thời gian dài đóng cửa vì Covid-19, số du khách ngoại quốc vẫn chưa nhiều, chủ yếu là do hạn chế về cấp visa. Cho nên Việt Nam sẽ buộc phải sửa đổi chính sách visa để thu hút du khách.  Hội chợ Du lịch Quốc tế Paris trong tháng 3 vừa qua (16-19/03/2023) lẽ ra là một cơ hội quan trọng để quảng bá cho du lịch Việt Nam, nhưng chỉ có một công ty duy nhất của ngành du lịch Việt Nam có mặt tại hội chợ này, đó là hãng La Palanche Voyages, chuyên tổ chức các tour du lịch cho khách nói tiếng Pháp đến Việt Nam cũng như đến các nước láng giềng Lào, Cam Bốt, Miến Điện. Trả lời RFI tại Hội chợ, giám đốc của La Palanche Voyages Nguyễn Xuân Hải giải thích vì sao số du khách quốc tế nói chung, và du khách Pháp nói riêng, đến Việt Nam vẫn chưa nhiều: “Lý do đầu tiên mà tôi nghĩ là lý do chủ đạo đó là giá vé máy bay bây giờ rất cao, so với cả trước dịch, giá vé máy bay tăng gấp rưỡi. Lần đầu tiên tôi phải trả đến 1.200 euro để bay qua đây, trong khi trước đây tôi chỉ phải trả khoảng từ 700 đến 800 thôi. Bản thân chúng tôi là những người làm du lịch mà còn phải trả như vậy, những người khác không tìm được cách thì chắc là phải trả giá cao hơn. Ngay vào tháng đầu tiên mà chúng tôi bắt đầu có khách, tức là tháng 4 năm ngoái, đã có những khách phải trả đến hơn 2.000 euro để mua vé máy bay.   Lý do thứ hai, các anh ở đây chắc cũng nghe nói là chính phủ chuẩn bị tăng số ngày được miễn visa và tăng số quốc gia được miễn visa, nhưng việc đó các nước xung quanh như Lào, Cam Bốt, Thái Lan đã làm từ lâu rồi! Ngay từ khi các nước này mở cửa lại, du khách thay vì phải xin visa hay làm các thủ tục này nọ thì người ta cứ việc lên máy bay và tới điểm đến. Còn ví dụ như đối với người Pháp, Việt Nam chỉ miễn visa có 15 ngày, thì người ta tự hỏi là thay vì đến Việt Nam, tại sao lại không đến Thái Lan chẳng hạn?” Theo quy định hiện hành, visa du lịch có thời hạn không quá 3 tháng và thời gian tạm trú ở Việt Nam không được quá 30 ngày. Hết thời hạn này, khách du lịch muốn tiếp tục ở lại thì phải gia hạn thêm thời hạn tạm trú. Ngoài ra, Việt Nam đang cấp thị thực điện tử ( e-visa ) cho công dân 80 nước, nhưng visa điện tử chỉ được cấp cho 30 ngày và nhập cảnh một lần, cho nên khách đến Việt Nam không thể sang thăm một nước khác trong vùng rồi quay trở lại Việt Nam. Hiện giờ, Việt Nam đã miễn visa cho công dân từ 13 quốc gia, trong đó có 11 nước châu Âu, nhưng thời hạn miễn visa chỉ là 15 ngày, trong khi có rất nhiều khách muốn du lịch ở Việt Nam đến 3, 4 tuần, hoặc hơn nữa. Giám đốc công ty La Palanche Nguyễn Xuân Hải cũng ghi nhận những bất cập trong các thủ tục cấp visa du lịch ở Việt Nam hiện nay:  “Trang web visa điện tử của Việt Nam hiện giờ không tiện lợi cho khách, mà lại chỉ bằng tiếng Anh, như thế là đã thiệt thòi cho khách Pháp rồi. Tôi có nhiều khách, mà nói thẳng ra đó là những người nhiều tiền, nhưng là người lớn tuổi, có thể là tiếng Anh của họ kém, cho nên gặp trang web tiếng Anh là thua luôn. Đó là điểm thứ nhất. Thứ hai là visa điện tử chỉ cho nhập cảnh một lần mà không được gia hạn. Ngay từ tháng 5 năm ngoái, tôi có khách ở Việt Nam trên 30 ngày, người ta có hỏi ý kiến tôi, thì tôi đến phòng quản lý xuất nhập cảnh để xin gia hạn cho người ta, nhưng không được vì lúc ấy không có quy định như vậy. Thế là tôi phải đề nghị khách một phương án: đi hết miền bắc Việt Nam, rồi khi đi đến miền trung thì chạy sang Lào rồi chạy về trong ngày, để có thêm được 15 ngày miễn visa. Tự nhiên khách phải trả thêm tiền để chạy từ Việt Nam sang Lào, trả tiền visa rồi quay lại Việt Nam!” Để thúc đẩy đà phục hồi của du lịch, bộ Du Lịch Việt Nam, các cơ quan đại diện ngoại giao nước ngoài tại Việt Nam, các hiệp hội… đã nhiều lần kiến nghị nâng thời hạn miễn visa lên 30 ngày. Sau một thời gian chần chừ, cuối cùng, chính phủ Việt Nam vừa chính thức có tờ trình gởi Quốc Hội đề xuất một số chính sách mới về quản lý xuất nhập cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam. Theo Báo Điện tử Chính phủ hôm qua, 02/04/2023, chính phủ muốn đưa các chính sách này vào nghị quyết chung của Quốc hội tại kỳ họp thứ 5 (tháng 5/2023), “để làm cơ sở triển khai thực hiện”. Có lẽ ý định của chính phủ Việt Nam là sẽ thực hiện ngay chính sách cởi mở về visa để tranh thủ được mùa cao điểm du lịch năm 2023.   Cụ thể, chính phủ đề nghị cấp visa điện tử cho công dân tất cả các nước, vùng lãnh thổ, nâng thời hạn visa điện tử từ không quá 30 ngày lên không quá 3 tháng, có giá trị một lần hoặc nhiều lần, đồng thời nâng thời hạn tạm trú cho người nhập cảnh được miễn thị thực từ 15 ngày lên 45 ngày. Chính phủ Việt Nam đưa ra những đề xuất như trên mặc dù họ nhìn nhận việc thực hiện có thể đặt ra một số khó khăn trong công tác quản lý người nước ngoài, nhưng họ cho biết sẽ chỉ đạo bộ Công An “tăng cường công tác quản lý cư trú của người nước ngoài để bảo đảm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội”. Những thay đổi này là vô cùng cấp thiết bởi vì so với các nước láng giềng như Thái Lan, ngành du lịch Việt Nam có nguy cơ “xuất phát trước, nhưng về đích sau”. Vào năm 2019, Việt Nam đã đón được 18 triệu lượt khách, một con số được xem là kỷ lục, nhưng cũng trong cùng năm đó thì Thái Lan đã đón đến 40 triệu lượt khách. Năm 2023, Việt Nam đặt mục tiêu 8 triệu thì Thái Lan sẽ đón 25 triệu. Năm 2030 Việt Nam dự kiến đón 35 triệu lượt khách, nhưng Thái Lan thì chỉ cần đến năm 2027 dự kiến sẽ thu hút đến 80 triệu khách. Lợi ích của việc kéo dài thời hạn miễn thị thực nhập cảnh đã được thấy rõ tại đảo Phú Quốc. Đảo này thu hút ngày càng nhiều du khách quốc tế không phải chỉ vì cảnh đẹp, mà còn vì Phú Quốc có một chính sách visa rất thoáng: Kể từ ngày 01/07/2020, nếu Phú Quốc là điểm đến đầu tiên thì du khách quốc tế sẽ được miễn visa Việt Nam trong 30 ngày, dù là người nước ngoài hay người Việt Nam mang hộ chiếu nước ngoài. Nói một cách đơn giản, tất cả du khách từ nước ngoài không cần xin visa Việt Nam nếu họ ở lại Phú Quốc không quá 30 ngày. Miễn thị thực Phú Quốc cũng được áp dụng cho những du khách nhập cảnh Phú Quốc qua các sân bay quốc tế Việt Nam khác như sân bay Nội Bài, sân bay Tân Sơn Nhất, v.v. và không rời khỏi khu vực quá cảnh.  Nhờ chính sách visa thoải mái như vậy mà đảo Phú Quốc chỉ trong hai tháng đầu năm 2023 đã đón được đến 139.000 du khách nước ngoài trên tổng số 935.000 du khách, theo số liệu của Sở Du lịch Tiền Giang Trước mắt, các công ty du lịch đang ráo riết tuyển dụng nhân sự và tu bổ các khách sạn, nhà hàng để đón du khách Trung Quốc, bởi vì kể từ ngày 15/03, Trung Quốc đưa Việt Nam vào “danh sách thí điểm mở cửa du lịch theo đoàn”.  Khách từ Trung Quốc vẫn là một nguồn khách quốc tế chủ yếu, với 5,5 triệu người đến Việt Nam trong năm 2019.  Trải qua 3 năm chịu tác động nặng nề của đại dịch Covid-19 và vắng mặt hoàn toàn khách Trung Quốc, nhiều cơ sở đã phải đóng cửa hoặc giảm bớt chất lượng dịch vụ để hạ thấp chi phí. Năm nay, theo dự báo của ngân hàng HSBC, Việt Nam có thể đón tiếp từ 3 đến 4,5 triệu khách Trung Quốc.  Nhưng vấn đề là sau mấy năm bị đại dịch Covid-19, ngành du lịch Việt Nam đang gặp một vấn đề lớn, đó là thiếu nhân công, do nhiều người đã phải bỏ sang làm các nghề khác, theo như ghi nhận của giám đốc công ty La Palanche Nguyễn Xuân Hải: “ Theo quan sát từ công ty của tôi, số lượng khách đến Việt Nam chỉ được khoảng một nửa so với cùng kỳ trước dịch, mà lại chia thành những đoàn nhỏ. Trước đây các hãng ở Pháp bán được đoàn lớn vì giá vé máy bay tốt, nhưng bây giờ là các đoàn nhỏ: gia đình, bạn bè, các cặp... Cho nên cần số xe hướng dẫn nhiều hơn rất nhiều vì chia nhỏ ra, dẫn đến tình trạng thiếu rất nhiều nhân sự du lịch ở Việt Nam. Nhất là sau dịch thì có rất nhiều người đã chuyển sang làm nghề khác, tương đối ổn định rồi, bây giờ họ đợi khi nào du lịch thật sự ổn định thì mới quay lại”.
4/3/20239 minutes, 5 seconds
Episode Artwork

Mỹ - Philippines thắt chặt hợp tác quân sự ở Biển Đông : Tín hiệu tốt hay xấu cho Việt Nam ?

Tình hình Biển Đông có nhiều biến động trong thời gian gần đây, với trọng tâm là Philippines. Manila thắt chặt hợp tác quân sự với Washington, chuẩn bị cuộc tập trận Balikatan lớn nhất, diễn ra từ ngày 11 đến 28/04/2023, chỉ cách phía nam Đài Loan 300 km. Mỹ và Philippines cũng nhất trí nối lại các chuyến tuần tra chung ở Biển Đông. Từ tháng 02/2023, quân đội Mỹ được phép tiếp cận tổng cộng 9 căn cứ của Philippines. Trước việc hai đồng minh thắt chặt quan hệ quân sự và ngoại giao, Trung Quốc liên tục có những động thái đấu dịu. Thứ trưởng Ngoại Giao Trung Quốc Tôn Vệ Đông (Sun Weidong) công du Manila ngày 23-24/03 để phản đối việc Mỹ mở rộng hiện diện quân sự ở trong vùng, theo một quan chức ngoại giao Philippines tham gia cuộc họp khi trả lời AP. Về mặt chính thức, hai nước nhất trí rằng « các vấn đề hàng hải phải được giải quyết qua đường ngoại giao và đối thoại và không bao giờ bằng cách ép buộc và đe dọa ». Những biến chuyển trên tác động như thế nào đến Việt Nam ? Nhà nghiên cứu Laurent Gédéon, giảng viên Trường Sư phạm Lyon (École normale supérieure de Lyon), Pháp, trả lời một số câu hỏi của RFI Tiếng Việt. * RFI : Mỹ và Philippines tổ chức tập trận chung Balikatan có quy mô chưa từng có, từ ngày 11 đến 28/04/2023. Sự kiện này chắc chắn sẽ khiến Bắc Kinh giận dữ. Liệu Trung Quốc viện cớ đó để tỏ ra hung hăng hơn trong phát biểu và hành động ở Biển Đông không ? Laurent Gédéon : Đợt tập trận Balikatan năm 2023 chắc chắn sẽ không làm giảm căng thẳng giữa Bắc Kinh và Washington, cũng như giữa Bắc Kinh và Manila. Cụm từ « Balikatan » cũng có nghĩa là « vai kề vai » nhắc đến sự gần gũi giữa Mỹ và Philippines. Tôi nghĩ là cũng cần phải nhắc lại rằng đợt tập trận này diễn ra trong bối cảnh Hoa Kỳ thường xuyên trắc nghiệm khả năng đáp trả của Trung Quốc, đặc biệt là ở Biển Đông. Sự cố gần đây nhất là Trung Quốc, trong thông cáo ngày 23/03, khẳng định đã « đuổi » tàu khu trục Mỹ USS Milius ra khỏi khu vực quần đảo Hoàng Sa. Trước đó còn có nhiều sự kiện như thông báo hôm 21/02 của tổng thống Đài Loan Thái Anh Văn về tăng cường quan hệ quân sự giữa Đài Bắc và Washington, hoặc đợt tập trận chung Mỹ-Hàn lớn nhất từ 5 năm qua, diễn ra từ ngày 13 đến 23/03. Đọc thêm : Trung Quốc loan báo đã « đuổi » một tàu chiến của Mỹ khỏi Hoàng Sa Balikatan 2023 là cuộc tập trận có quy mô lớn nhất, huy động khoảng 18.000 quân nhân, trong đó có 12.000 người Mỹ. Theo tôi, cần chú ý theo dõi xem Balikatan 2023 diễn ra như thế nào, những đơn vị nào được huy động. Ngoài ra, cũng cần biết rằng Balikatan 2023 nhắm đến hai mục đích lớn : kiểm tra khả năng tương tác của lực lượng Hoa Kỳ và Philippines, đưa ra những kịch bản khủng hoảng trực diện, với các giả thuyết về phòng thủ và tấn công. Theo tôi, dường như những yếu tố này có ý nghĩa mấu chốt để hiểu được tuyên bố của chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình trước Quốc Hội ở Bắc Kinh hôm 06/03 khi ông nhấn mạnh Trung Quốc bị các nước phương Tây, đặc biệt là Hoa Kỳ, bao vây. Phát biểu đó cho thấy rõ Trung Quốc lo lắng về sự hiện diện của Mỹ trong khu vực. Trước tình hình đó, Bắc Kinh có thể có nhiều cách đáp trả, như kịch liệt phản đối thông qua các thông cáo chính thức, hoặc có thể gây sức ép ngoại giao cũng như ban hành nhiều biện pháp nhắm vào Philippines chẳng hạn. Bắc Kinh cũng có thể tăng cường tuần tra trên không ở các vùng sát với khu vực tập trận. Cũng có thể là Hải Quân Trung Quốc lại quấy rối ngư dân Philippines, cấm họ vào các ngư trường đánh bắt như từng làm cách đây vài tháng. Cuối cùng, có thể là Hải Quân Trung Quốc tăng cường hiện diện ở Biển Đông để gây sức ép với Philippines. Đọc thêm : Biển Đông : Tầu Philippines bị tầu Trung Quốc đuổi bám ngay trong vùng đặc quyền kinh tế RFI : Cuộc tập trận Balikatan có thể có ích cho Việt Nam không ? Laurent Gédéon : Chắc chắn là có. Việt Nam được lợi khi chú ý theo dõi cuộc tập trận này vì bốn lý do. Thứ nhất là phân tích cách Hoa Kỳ sát cánh với một đồng minh. Điều này sẽ mang lại những yếu tố có ích cho Hà Nội về mức độ tin cậy vào Mỹ trong bối cảnh gần đây Washington đưa ra nhiều tín hiệu rất tiêu cực, nhất là rút quân khỏi Afghanistan mà không tham vấn đối tác, bào mòn niềm tin của các đồng minh của Mỹ. Thứ hai là Việt Nam có thể sẽ phân tích được khía cạnh thuần túy quân sự của cuộc tập trận Balikatan, những vấn đề về mô phỏng chiến lược, thiết bị quân sự được sử dụng. Điều đó sẽ mang lại những yếu tố quý giá về quân sự, chiến lược cho sĩ quan Việt Nam. Thứ ba là Việt Nam phân tích được cách đáp trả của Trung Quốc. Yếu tố này có ý nghĩa căn bản bởi vì mức độ cứng rắn trong phản ứng của Trung Quốc sẽ cho thấy quyết tâm của Bắc Kinh, các lằn ranh đỏ có thể do Trung Quốc vạch ra, cũng như ý chí bảo vệ chúng. Lý do cuối cùng là phân tích năng lực, những điểm yếu trong tác chiến của quân đội Việt Nam trong giả thuyết xảy ra một cuộc xung đột cường độ cao. Tôi cho rằng bốn lý do quan trọng này cho thấy Việt Nam tìm cách có được nhiều yếu tố và thông tin nhất liên quan đến cuộc tập trận Balikatan. RFI : Hoa Kỳ được tiếp cận nhiều căn cứ của Philippines hơn. Điều này có nghĩa là Mỹ tăng cường hiện diện quân sự ở trong vùng, gia tăng tuần tra chung với Philippines ở Biển Đông. Đây có phải là dấu hiệu tốt cho Việt Nam không trong khi Hà Nội cũng tuyên bố chủ quyền đối với nhiều thực thể hiện do Philippines kiểm soát ở quần đảo Trường Sa ? Laurent Gédéon : Đúng là Hoa Kỳ giữ vững lập trường về việc bảo vệ tự do lưu thông ở những vùng biển chung nơi luật pháp quốc tế cho phép, trong đó có Biển Đông. Ngược lại, Mỹ cũng luôn từ chối nêu quan điểm về tính chính đáng trong những đòi hỏi chủ quyền của các nước liên quan đối với các thực thể ở Biển Đông, dù thuộc quần đảo Hoàng Sa hay Trường Sa. Đúng là Mỹ và Philippines xích lại gần nhau có thể khiến Việt Nam quan ngại vì Hà Nội và Manila bất đồng cơ bản về chiến lược. Philippines là đồng minh chính thức của Mỹ thông qua nhiều thỏa thuận được ký từ thập niên 1950 trong khi Việt Nam không có bất kỳ thỏa thuận quân sự nào với Mỹ dù hai nước đã xích lại gần nhau từ hai thập niên gần đây. Ngoài ra, có thể thấy là Hà Nội có xu hướng kìm hãm quá trình này dù Washington liên tục đề nghị. Đọc thêm : Việt Nam chưa sẵn sàng nâng cấp quan hệ với Mỹ Từ đó có thể đưa ra một giả thuyết là trong trường hợp xảy ra xung đột trực tiếp giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ cùng với các đồng minh của Mỹ ở trong vùng, trong đó có Philippines, giả sử cuộc xung đột dẫn đến thất bại của Trung Quốc hoặc ít ra là làm giảm ảnh hưởng của Trung Quốc và nếu Việt Nam không tham gia vào cuộc xung đột đó, thì có khả năng Philippines sẽ được Washington ủng hộ trong trường hợp đàm phán về quy chế của các thực thể. Tương tự, việc Trung Quốc bị giảm ảnh hưởng cũng khiến Việt Nam mất bớt tầm quan trọng chiến lược đối với Hoa Kỳ. Hà Nội hiện duy trì chính sách « Bốn Không » : không tham gia liên minh quân sự ; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc. Tôi cho rằng lập trường đang bảo vệ lợi ích của Việt Nam có thể trở thành phản tác dụng trong trường hợp xảy ra xung đột trực diện Mỹ-Trung và giả sử là cuộc xung đột đó làm giảm ảnh hưởng của Bắc Kinh. RFI : Dưới thời tổng thống Marcos Jr., Philippines tìm cách tăng cường quan hệ quân sự và ngoại giao với nhiều cường quốc trong vùng (Úc, Nhật Bản) để bảo vệ chủ quyền ở Biển Đông. Việt Nam cũng mở rộng mạng lưới đối tác quốc phòng. Có thể thấy các nước Đông Nam Á có tranh chấp ở Biển Đông vẫn thiếu tinh thần chung chống Trung Quốc ? Laurent Gédéon : Mối quan hệ giữa Việt Nam và Philippines có gì đó mơ hồ theo nghĩa hai nước tranh chấp lãnh thổ ở quần đảo Trường Sa nhưng lại có một kiểu thỏa thuận ngầm chống Trung Quốc vì Hà Nội và Manila đều coi Bắc Kinh là đối thủ nguy hiểm nhất trong khu vực. Có thể nêu ví dụ chuyến công du Philippines hôm 07/11/2022 của thượng tướng Nguyễn Tân Cương, thứ trưởng bộ Quốc Phòng Việt Nam. Trong chuyến thăm này, hai bên nhất trí tăng cường hợp tác song phương trong nhiều lĩnh vực như trao đổi phái đoàn cấp cao, hợp tác hàng hải, đào tạo, chia sẻ thông tin và kinh nghiệm chuyên môn, cũng như việc Việt Nam và Philippines ủng hộ nhau tại các diễn đàn đa phương, đặc biệt là ở ASEAN. Dù có những chuyến thăm như vậy, Việt Nam và Philippines không có thỏa thuận rõ ràng về tranh chấp ở quần đảo Trường Sa. Hai nước vẫn duy trì sự mập mờ và đều cho là phải giải quyết vấn đề với Trung Quốc trước đã, sau đó mới có thể giải quyết được bất đồng giữa hai nước. Nói tóm lại, Hà Nội và Manila không tìm cách hoặc không triển khai được một liên minh rõ ràng. Nhiều nước Đông Nam Á khác thì không có tranh chấp chủ quyền với Trung Quốc, trong đó có một số nước thân Bắc Kinh, như Cam Bốt. Hiện giờ, Trung Quốc đang tận dụng những lục đục này, ví dụ tranh chấp giữa Philippines và Việt Nam ở Biển Đông, để thúc đẩy lợi ích của họ. Đọc thêm : Việt Nam, Malaysia, Philippines: Gác tranh chấp, chống Trung Quốc ở Biển Đông? Vấn đề đặt ra ở trong vùng hiện nay là Hoa Kỳ có nguy cơ đưa ra một chương trình ngoại giao và chiến lược mới mà trên thực tế sẽ buộc các quốc gia trong khu vực phải thể hiện lập trường. Nếu chiến lược đó dẫn đến hệ quả là gây ra một cuộc khủng hoảng Mỹ-Trung, ví dụ là một cuộc đối đầu trên bộ với giả thuyết là Trung Quốc bị suy yếu, thì có khả năng là những nước thân với Washington nhất sẽ được lợi lớn. Trong bối cảnh đó, lấy ví dụ chiến lược của Việt Nam là xích lại với các nước xa hơn như Ấn Độ, có thể sẽ không phải là một lợi ích địa chiến lược vì Viêt Nam và Philippines phải ý thức được rằng sự cạnh tranh Mỹ-Trung hiện là trọng tâm địa-chính trị chính ở Đông Nam Á và Đông Bắc Á, chí ít là cho thập niên tới. Bối cảnh này phải được các nước liên quan, các nước cạnh tranh với Trung Quốc, cân nhắc đúng đắn, kể cả trong giả thuyết xấu nhất là xảy ra một cuộc xung đột với Trung Quốc. Bởi vì căn cứ vào những căng thẳng không suy giảm từ 5 năm nay, căng thẳng về Đài Loan, tiếp theo là khủng hoảng ở Ukraina, Nga-Trung xích lại gần nhau, ý đồ của Nga và Trung Quốc muốn làm lung lay thế ưu việt của Mỹ, cũng như những cơ chế liên minh do Mỹ triển khai, như AUKUS, hay các cuộc tập trận với Philippines, Hàn Quốc, Nhật Bản, thì khả năng xảy ra một cuộc xung đột cường độ cao trong khu vực biển Hoa Đông và Biển Đông hay Đài Loan là một giả thuyết xuyên suốt. Giả thuyết đó cũng đáp ứng những mục tiêu mà Mỹ đề ra để ngăn chặn Trung Quốc trước khi sức mạnh hàng hải của nước này trở nên quá lớn. Dĩ nhiên cũng có giả thuyết ngược lại là ảnh hưởng của Mỹ bị giảm. Nhưng như vậy, Việt Nam sẽ không ở thế tốt vì Trung Quốc càng củng cố yêu sách tối đa ở Biển Đông và loại trừ khả năng đàm phán chia sẻ các vùng ảnh hưởng. Do đó, đây là một bối cảnh nhạy cảm, cần một tầm nhìn hiện thực địa-chính trị từ các nước trong vùng, nhất là từ Việt Nam và Philippines. Hai nước cần có chiến lược tăng cường xích lại gần nhau để cố gắng thu được tối đa lợi ích hoặc giảm thiểu tổn thất trong trường hợp xảy ra xung đột. RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn nhà nghiên cứu Laurent Gédéon, giảng viên Trường Sư phạm Lyon (École normale supérieure de Lyon), Pháp.
3/27/202310 minutes, 52 seconds
Episode Artwork

"Thảm sát làng Phong Nhị" : Chính phủ Hàn Quốc vẫn phủ nhận trách nhiệm

Vụ “Thảm sát làng Phong Nhị” ở Việt Nam đã trở thành tâm điểm chú ý tại Hàn Quốc thời gian gần đây. Ngày 07/02/2023, Tòa án quận Trung tâm Seoul đã ra phán quyết sơ thẩm yêu cầu chính phủ Hàn Quốc xin lỗi và bồi thường hơn 30 triệu won cho bà Nguyễn Thị Thanh, nguyên đơn có người thân chết trong vụ thảm sát. Đây là lần đầu tiên một tòa án Hàn Quốc thừa nhận trách nhiệm bồi thường của Nhà nước đối với các nạn nhân vụ thảm sát năm 1968 tại Quảng Nam. Tuy nhiên, đối với bộ Quốc Phòng Hàn Quốc, phán quyết của tòa làm ô danh quân đội nước này vì binh lính Hàn Quốc không gây ra các vụ thảm sát trong thời gian chiến tranh Việt Nam. Bộ trưởng Lee Jong Sup giải thích trước Quốc Hội hôm 17/02 rằng tình hình ở Việt Nam lúc đó “rất phức tạp” và “có nhiều trường hợp người mặc quân phục Hàn Quốc nhưng không phải là lính Hàn Quốc”. Ngày 09/03, bộ Quốc Phòng Hàn Quốc cho biết đã kháng cáo phán quyết của tòa án.   Ngay lập tức, Việt Nam đã đề nghị Seoul “tôn trọng sự thật lịch sử” về vụ thảm sát ở Quảng Nam. Trong buổi họp báo chiều 09/03, phó phát ngôn viên bộ Ngoại Giao Việt Nam Phạm Thu Hằng cho biết :  “Chúng tôi rất lấy làm tiếc trước việc chính phủ Hàn Quốc kháng cáo phán quyết của tòa án. Và việc này không phản ánh đúng sự thật khách quan đối với vấn đề này. Việt Nam chủ trương gác lại quá khứ, hướng tới tương lai nhưng không có nghĩa là phủ nhận sự thật lịch sử (…). Và trên tinh thần đối tác chiến lược toàn diện, Việt Nam đề nghị phía Hàn Quốc nhận thức đúng đắn và tôn trọng sự thật lịch sử, khuyến khích các hành động thiết thực, hiệu quả nhằm khắc phục hậu quả chiến tranh, góp phần vào củng cố, tăng cường tình hữu nghị và quan hệ hợp tác tốt đẹp giữa hai nước, cũng như nhân dân hai nước”.   Thông tín viên Trần Công tại Seoul cho biết thêm về vụ kiện, cũng như phản ứng của công luận tại Hàn Quốc. Những bức ảnh được giải mật phản ánh 50 năm chịu nỗi đau thảm sát  Bà Nguyễn Thị Thanh là một trong số ít những người sống sót và đã mất gia đình trong vụ thảm sát 74 người do lữ đoàn thủy quân lục chiến số 2 Hàn Quốc gây ra ở làng Phong Nhất - Phong Nhị năm 1968. Bà từng được Bảo Tàng Hòa Bình mời đến Hàn Quốc năm 2018 để làm nhân chứng cho vụ thảm sát ở làng Phong Nhị. Bà cho biết “vô cùng vui mừng” về phán quyết của tòa vì đó “sẽ là niềm an ủi hương linh những người thiệt mạng”, cũng như nỗi đau suốt hơn 50 năm mất người thân và ba năm đấu tranh pháp lý của bà.   Tháng 04/2020, bà Thanh đã đệ đơn kiện chính phủ Hàn Quốc về tội ác của quân đội nước này trong chiến tranh Việt Nam, yêu cầu chính phủ Hàn Quốc xin lỗi và bồi thường 30 triệu won (580 triệu đồng). Theo lời bà Thanh, vụ thảm sát xảy ra ngày 14 tháng 1 âm lịch năm 1968, binh lính Đại Hàn tấn công vào làng, bà Thanh (lúc đó 8 tuổi) được dì ruột kéo xuống hầm để trốn cùng ba anh chị em nhưng bị lính Đại Hàn phát hiện. Trong bản án, được hãng tin Yohap trích dẫn, bà Thanh cho biết : “Vào thời điểm đó, các binh sĩ buộc gia đình nguyên đơn ra khỏi nhà, đe dọa bằng đạn thật và súng, trước khi bắn họ. Kết quả là gia đình nguyên đơn đã chết tại hiện trường và nguyên đơn cùng những người khác bị thương nặng”. Bà may mắn được người chú đưa ra Đà Nẵng cứu chữa.  Vụ thảm sát được nhà báo Koh Kyeong Tae đưa ra ánh sáng khi tổ chức triển lãm ảnh về các nạn nhân làng Phong Nhất-Phong Nhị tại Art Link Gallery ở Seoul, khai trương ngày 09/09/2016. Sự kiện này xảy ra ngày 12/02/1968, sau trận càn của đại đội 1, tiểu đoàn 1, lữ đoàn 2 đơn vị Rồng xanh Hàn Quốc.  Sau trận càn, hạ sĩ J. Vaughn, thuộc đơn vị thủy bộ số 3 của thủy quân lục chiến Hoa Kỳ, đã vào tiếp quản khu vực và phát hiện nhiều thường dân bị sát hại, trong đó có nhiều phụ nữ và trẻ em. Hạ sĩ Vaughn đã chụp ảnh và báo cáo lên cấp trên. Tuy nhiên, sự việc chỉ được công bố sau 32 năm, theo luật giải mật của chính phủ Hoa Kỳ. Nhiều năm sau đó, nhà báo Koh Kyeong Tae đã đến Việt Nam nhiều lần để phỏng vấn cũng như tìm hiểu thêm thông tin về vụ thảm sát và cho ra đời cuốn sách “12-2-1968”.  "Xin lỗi là thể hiện tính nhân văn" Trong phán quyết sơ thẩm ngày 17/02/2023, tòa cho rằng “bà Thanh phải chịu nhiều vết thương nghiêm trọng do quân đội Hàn Quốc gây ra”, đồng thời khẳng định sự việc là “hành động phạm pháp rõ ràng”. Về thắng lợi của nguyên đơn ở cấp sơ thẩm, bà Kiều Chinh, trợ lý luật sư của Văn phòng luật Law Firm Law Win, nhận định :   “Một đất nước xin lỗi những người bị hại, việc đó không gây ảnh hưởng đến uy tín của nước đó, mà thực ra còn nâng uy tín lên. Việc tòa án ra phán quyết bồi thường cho nạn nhân Việt Nam, về mặt lý dĩ nhiên là phải bồi thường. Còn về mặt tình, tôi thấy rằng thông qua sự việc này, người dân hay chính phủ Việt Nam, về mặt ngoại giao, cũng có cái nhìn tôn trọng hơn đối với Hàn Quốc. Việc xin lỗi cũng là hành động thể hiện Hàn Quốc rất coi trọng mối quan hệ với Việt Nam và người dân Việt Nam”.  Tuy nhiên, con đường vẫn còn dài vì bộ Quốc Phòng Hàn Quốc đã kháng án. Bà Kiều Chinh giải thích : “Hiện tại bây giờ mới là ở tòa sơ thẩm, còn phải lên tòa phúc thẩm. Khi họ kháng án, có nghĩa là bản án vẫn chưa có hiệu lực chính thức. Cho nên để đến khi bản án thực sự có hiệu lực thì còn rất là xa, vì bên quân đội Hàn Quốc sẽ liên tục đưa ra những phản ứng”. Chị Linh, cộng tác viên đài KBS World Radio, hi vọng phiên tòa sẽ được truyền thông Hàn Quốc chú ý nhiều hơn. Phán quyết ở cấp sơ thẩm thừa nhận trách nhiệm của Hàn Quốc đối với tội ác chiến tranh tại Việt Nam còn có ý nghĩa lớn sau này, theo giải thích của chị Linh :   “Đây là một phán quyết bước đầu để mở ra cơ hội cho cả hai bên Việt Nam và Hàn Quốc tìm ra hướng đi trong vấn đề mà chúng ta đã cố gắng giải quyết từ rất lâu. Những nạn nhân trong vụ thảm sát ở miền Trung Việt Nam do các binh đoàn của Hàn Quốc gây ra trong chiến tranh Việt Nam cũng đã dành nhiều thời gian để đi tìm lại công lý cho bản thân và gia đình của họ. Việc này cũng giống như việc Hàn Quốc luôn yêu cầu Nhật Bản phải xin lỗi và công nhận sự thật đã xảy ra trong quá khứ và yêu cầu bồi thường cho các nạn nhân. Và chúng ta sẽ có thể vượt qua quá khứ đau thương để tiến đến một tương lai tốt đẹp hơn thay vì cứ lờ sự việc đó”.   Tranh cãi tại Hàn Quốc  Vai trò của quân đội Hàn Quốc trong chiến tranh Việt Nam vẫn là chủ đề gây tranh cãi. Một số người Hàn Quốc khẳng định sự có mặt của quân đội nước này là hợp pháp vì Hoa Kỳ và Hàn Quốc lúc đó là đồng minh của Việt Nam Cộng Hòa. Trên lý thuyết, nhiệm vụ của họ là duy trì trật tự công cộng, hỗ trợ người dân, và quét sạch Việt Cộng ra khỏi lãnh thổ miền Nam Việt Nam (Việt Nam Cộng Hòa).   Năm 2017, tổng thống Hàn Quốc Moon Jae In đã ca ngợi “tinh thần yêu nước”, “sự cống hiến và hy sinh” của quân nhân Hàn Quốc tham chiến ở Việt Nam để “nền kinh tế Hàn Quốc tồn tại được”. Phát biểu này đã buộc đại diện bộ Ngoại Giao Việt Nam phản đối với đại diện sứ quán Hàn Quốc tại Việt Nam, theo trang VTC ngày 12/06/2017.   Công luận Hàn Quốc có ý kiến trái chiều về bối cảnh, cũng như vai trò của binh lính Hàn Quốc ở làng Phong Nhất. Một người nêu ý kiến : “Vào thời điểm đó, khó có thể phân biệt được đâu là bạn đâu là thù. Ngôi làng lúc đó là một bãi chiến trường. Và rất có thể lính Việt cộng sẽ tấn công bất kỳ lúc nào kể cả vào ban đêm”.   Một người khác có chung nhận định : “Nếu chúng ta sai thì chúng ta phải xin lỗi và bồi thường. Tuy nhiên, vào thời điểm đó, Việt cộng có thể đã trà trộn và cải trang thành thường dân, và quân đội Đại Hàn khó có thể phân biệt từng người một trong chiến tranh. Nhật Bản cũng đã làm hàng loạt tội ác như vậy với người dân Trung Quốc”.  Một số khác đồng tình về phát quyết sơ thẩm, thậm chí yêu cầu bồi thường cao hơn: “Chính phủ phải đền cho họ 100 triệu won, chứ không phải 30 triệu won” ; “30 triệu won là quá ít cho cả một gia đình bị tàn sát”.  Phiên tòa về “Thảm sát làng Phong Nhị” diễn ra trong bối cảnh Hàn Quốc cũng tổ chức nhiều phiên xử về “Phụ nữ giải sầu” dưới thời quân đội Nhật chiếm đóng trong Thế Chiến II. Theo giới nghiên cứu sử học, đa số nạn nhân là phụ nữ Hàn Quốc, Trung Quốc và Đông Nam Á. Nhiều nhân chứng và nạn nhân Hàn Quốc đã theo đuổi vụ kiện chính quyền Tokyo trong nhiều năm nhưng chưa có kết quả. Chính phủ Nhật Bản phủ nhận các cáo buộc liên quan ngay tại Liên Hiệp Quốc. Nhiều đơn kiện do chính tòa án Seoul tuyên thắng trong tòa sơ thẩm, nhưng lại bị phán vô hiệu ở phiên phúc thẩm nhờ quy định “miễn trừ chủ quyền” của Tokyo.  Bà Kiều Chinh, Văn phòng luật Law Firm Law Win, cho biết thêm : “Vào thời chiến tranh, lính Nhật Bản cũng đã làm những hành động độc ác với người dân Hàn Quốc. Nhưng hiện tại, chính phủ Nhật Bản vẫn làm một động tác rất sai về mặt chính trị, về tình lý, đó là từ chối bồi thường hay xin lỗi người dân Hàn Quốc”.  Phong trào "Xin lỗi Việt Nam" Trong những năm qua, rất nhiều tổ chức cũng như cá nhân Hàn Quốc đã đến thăm các nạn nhân cũng như các ngôi làng bị lính đại Hàn càn quét trong chiến tranh Việt Nam. Tiến sĩ Ku Su Joeng, người khởi xướng phong trào “Xin lỗi Việt Nam” vào năm 1999, cũng đã đăng nhiều bài báo phơi bày mặt trái của quân đội Hàn Quốc khi tham chiến tại Việt Nam.   Vào ngày 14/02/2023, ông Kim Chang Sup, trưởng đoàn quỹ hòa bình Hàn - Việt, cùng với các thành viên đến từ Hàn Quốc đã đọc thư xin lỗi nhân dân Việt Nam và cúi đầu xin lỗi dân làng. Tại đây, một nhà tưởng niệm đã được xây dựng nhờ sự hỗ trợ kinh phí của nhiều bên bao gồm của cả Hội Cựu Chiến binh Hàn Quốc. Chiến tranh đã qua đi nhưng vết thương nó để lại vẫn hiện hữu trong cuộc sống của nhiều người và nhiều dân tộc. Việc nhìn lại và đánh giá lịch sử nên được làm một cách khách quan bởi những con người có lương tri và không vì mục đích hay vụ lợi.
3/20/20239 minutes, 26 seconds
Episode Artwork

Nhân sự lãnh đạo Việt Nam sẽ còn xáo trộn cho đến Đại hội Đảng kỳ tới

Ngày 02/03/2023, Quốc Hội Việt Nam đã chính thức bầu ông Võ Văn Thưởng làm tân chủ tịch nước, thay thế ông Nguyễn Xuân Phúc, đã bị buộc phải từ chức vào tháng 1. Nhưng từ đây cho đến Đại hội Đảng kỳ tới vào năm 2026, bộ máy lãnh đạo của Việt Nam sẽ còn gặp xáo trộn do tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng sẽ tiếp tục chuẩn bị cho người kế nhiệm ông ở chức vụ cao nhất này. Tuy vậy, những thay đổi về nhân sự lãnh đạo sẽ không ảnh hưởng nhiều đến đường lối kinh tế và ngoại giao của Hà Nội. Đó là nhận định chung của nhà nghiên cứu Lê Hồng Hiệp, Viện Nghiên cứu Đông Nam Á, Singapore khi trả lời RFI Việt ngữ ngày 03/03. RFI: Xin chào anh Lê Hồng Hiệp, sau việc thay đổi chức danh chủ tịch nước, theo anh, sẽ còn những xáo trộn nào khác trong bộ máy lãnh đạo hay không, bởi vì có những tin đồn là có thể Việt Nam sẽ thay luôn cả thủ tướng Phạm Minh Chính? Không biết những lời đồn đoán đó có đúng không? Lê Hồng Hiệp: Tôi cũng có nghe các lời đồn như vậy và trong bối cảnh chưa có gì rõ ràng, tôi không thể khẳng định được điều gì sẽ xảy ra tiếp theo. Nhưng theo tôi hiểu thì có thể tiếp tục diễn ra những thay đổi nhân sự cấp cao trước thềm Đại hội Đảng năm 2026 hoặc có thể sớm hơn. Lý do là ở Đại hội Đảng lần thứ 13 vào năm 2021, các dàn xếp lãnh đạo cấp cao của Việt Nam đã diễn ra không theo như dự tính ban đầu của tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng. Thay vì tìm được người thay thế ông Trọng ở vị trí tổng bí thư, thì ông Trọng đã phải ở lại thêm một nhiệm kỳ thứ ba, bất chấp quy định của điều lệ Đảng là một người không thể nắm giữ vị trí ấy quá 2 nhiệm kỳ liên tiếp. Một điều bất thường nữa là vị trí thủ tướng. Thay vì theo truyền thống là một phó thủ tướng lên thay, thì ông Phạm Minh Chính, Trưởng ban Tổ chức Trung ương Đảng, đã lên nắm chức thủ tướng. Trong khi đó, ông Nguyễn Xuân Phúc đáng lẽ về hưu thì lại được trao quy chế “ trường hợp đặc biệt” và được ở lại đến nắm giữ chức chủ tịch nước. Còn ông Vương Đình Huệ, trước đấy được xem là ứng viên cho chức thủ tướng, thì lại chuyển sang làm chủ tịch Quốc Hội.  Theo tôi, ở Đại hội 13, các dàn xếp đó đã diễn ra không đúng ý muốn và nó đặt ra vấn đề là, nếu như trong thời gian sau Đại hội 13 mà không có một dàn xếp, đặc biệt là tìm được người thay ông Nguyễn Phú Trọng, thì nó sẽ dẫn đến một cuộc khủng hoảng lãnh đạo có thể rất là nghiêm trọng, có thể ảnh hưởng tới sự ổn định chính trị ở Việt Nam, thậm chí ảnh hưởng đến an ninh chế độ.  Cho nên vấn đề đặt ra là phải tìm ra một kế hoạch chuyển giao quyền lực “thuận buồm xuôi gió”. Trong bối cảnh đó, vừa qua có một số chuyển động nhân sự ở cấp cao và tôi nghĩ rằng những chuyển động này diễn ra không phải là hoàn toàn vô tình hay dựa hoàn toàn trên logic về chống tham nhũng, mà có thể liên quan đến những dàn xếp để làm sao có được một kế hoạch chuyển giao quyền lực êm thắm, đặc biệt là ở vị trí tổng bí thư. Chủ tịch nước là một trong những vị trí “tứ trụ” và có thể ảnh hưởng tới cuộc chạy đua giành chức tổng bí thư. Thủ tướng cũng có thể là một vị trí tạo ra bệ phóng cho cuộc chạy đua giành chức tổng bí thư. Chính vì vậy, hiện tại đang có những chuyển động theo hướng loại bỏ bớt những ứng viên tiềm tàng có thể gây xáo trộn cho kế hoạch chuyển giao quyền lực. Theo tôi hiểu thì có thể ông Nguyễn Phú Trọng đang muốn chủ tịch Quốc Hội Vương Đình Huệ là người tiếp quản chiếc ghế tổng bí thư và ở đây có một sự dàn xếp để làm sao không có những thách thức đối với sự dàn xếp này. Sau khi ông Phúc rời chính trường, thì còn lại một ứng viên tiềm tàng là ông Phạm Minh Chính RFI:  Nhưng theo anh, để gạt bỏ ông Phạm Minh Chính khỏi chiếc ghế thủ tướng thì phe của ông Trọng phải dựa trên những lý do gì ? Lê Hồng Hiệp: Ông Chính, theo tôi hiểu, cũng là một người có năng lực và có sức làm việc đáng nể, ít nhiều được thể hiện trong thời gian qua, đặc biệt là trong cuộc chiến chống đại dịch Covid-19. Tuy nhiên, bản thân ông được cho là có những vấn đề nhất định, nổi cộm nhất là ông được cho là có quan hệ thân thích với bà Nguyễn Thị Thanh Nhàn, chủ tịch của tập đoàn AIC, bị truy tố và bị tuyên án vắng mặt 30 năm tù. Những rắc rối này có thể ảnh hưởng đến triển vọng chính trị của ông Phạm Minh Chính và không loại trừ khả năng là ông có thể bị buộc phải từ chức trong thời gian tới. Trong trường hợp đấy, chúng ta sẽ thấy là các dàn xếp để tạo điều kiện cho việc chuyển giao quyền lực cho chức tổng bí thư sẽ đi đến hồi kết và mang trở lại sự ổn định cho hệ thống chính quyền ở Việt Nam. Tôi nghĩ đó là mục đích cuối cùng của những chuyển động nhân sự vừa rồi. RFI: Từ đây cho đến khi ban lãnh đạo Việt Nam đi đến ổn định, người ta thấy là những người lên thay nắm các chức vụ cao cấp sau này thì có vẻ có xu hướng bảo thủ, giáo điều, không giống như phe chủ trương kinh tế tự do như những những lãnh đạo kia. Liệu sự thay đổi này có ảnh hưởng gì đến chính sách kinh tế của Việt Nam? Lê Hồng Hiệp: Các chuyển động nhân sự vừa rồi chủ yếu liên quan đến các đấu tranh quyền lực trong nội bộ thượng tầng kiến trúc của đảng Cộng Sản Việt Nam, không liên quan đến yếu tố ý thức hệ. Ví dụ như nhiều người cho rằng vị trí thủ tướng hay chủ tịch nước, như bản thân ông Nguyễn Xuân Phúc trước đây là thủ tướng thì ông có xu hướng cởi mở hơn, thân thiện với các doanh nghiệp hơn. Hay có người cho rằng ông Nguyễn Phú Trọng hay ông Võ Văn Thưởng là những người giáo điều, bảo thủ hơn.  Tôi nghĩ không phải là như vậy, bởi vì ta thấy là các vị trí này có chức năng khác nhau. Muốn đạt được mục tiêu phát triển kinh tế xã hội cho Việt Nam, thì bất cứ ai làm thủ tướng cũng sẽ có xu hướng cởi mở hơn, tự do hơn về mặt kinh tế, muốn thúc đẩy đầu tư, có tư tưởng đổi mới, thân thiện với doanh nghiệp hơn. Trong khi đó, bên phía Đảng, đặc biệt là tổng bí thư, thì nhiệm vụ chính không phải là phát triển kinh tế xã hội, mà là bảo vệ vai trò của đảng Cộng Sản Việt Nam và đặc biệt là làm sao duy trì chế độ. Chính vì vậy mà bất cứ ai ngồi vào ghế tổng bí thư cũng sẽ có xu hướng ít nhiều bị coi là bảo thủ, giáo điều. Cho dù ai lên làm lãnh đạo thì đảng Cộng Sản Việt Nam vẫn phải đề cao nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội và muốn đạt được mục tiêu này thì họ phải tiếp tục thu hút đầu tư và mở rộng các biện pháp kinh tế, đặc biệt là về xuất khẩu. Việc phát triển kinh tế xã hội, giúp cải thiện đời sống của người dân đóng một vai trò quan trọng trong việc xây dựng tính chính danh của đảng Cộng Sản Việt Nam. Nếu như đảng Cộng Sản Việt Nam có thể tiếp tục phát triển kinh tế xã hội, giúp cải thiện đời sống của người dân, họ sẽ gặp ít thách thức hơn trong việc giữ vững quyền lực của mình. Còn ngược lại, nếu kinh tế xã hội đi xuống, cuộc sống người dân ngày càng khó khăn thì có thể dẫn đến sự bất mãn, chống đối, thách thức vai trò lãnh đạo của Đảng. Mục tiêu cuối cùng của bất cứ ai lên làm lãnh đạo cấp cao nào trong thời gian tới vẫn là bảo vệ vai trò của Đảng, bảo vệ chế độ của đảng Cộng Sản Việt Nam.  RFI: Riêng về mặt đối ngoại, những xáo trộn về nhân sự lãnh đạo có tác động gì hay không? Cho tới nay, Việt Nam vẫn giữ một chính sách trung dung, “đi dây” giữa hai cường quốc Hoa Kỳ và Trung Quốc. Như vậy là chính sách có được tiếp tục hay không hay sẽ ít nhiều bị ảnh hưởng? Lê Hồng Hiệp:  Sau Đại Hội 20 của đảng Cộng Sản Trung Quốc, khi ông Nguyễn Phú Trọng sang thăm, trở thành nhà lãnh đạo nước ngoài đầu tiên đến Trung Quốc sau Đại Hội, một số người cho rằng đấy là dấu hiệu cho thấy ông Trọng, hay Việt Nam đang xích gần lại Trung Quốc. Tương tự như vậy, khi  một số lãnh đạo Việt Nam được đào tạo ở phương Tây như phó thủ tướng Phạm Bình Minh hay phó thủ tướng Vũ Đức Đam, vừa bị cho thôi chức, thì nhiều người diễn dịch nó là một động thái cho thấy Việt Nam đang dịch chuyển về phía Trung Quốc và rời xa phương Tây. Theo tôi, hoàn toàn không phải như vậy. Ở đây chỉ liên quan đến các động lực ở thượng tầng kiến trúc chính trị ở Việt Nam, không liên quan đến chính sách đối ngoại. Cho dù ai là lãnh đạo Việt Nam trong thời gian tới, thì cũng không có lựa chọn nào khác là phải  tiếp tục chính sách ngoại giao cân bằng giữa các nước lớn, đặc biệt là giữa Trung Quốc với Hoa Kỳ, vì cả hai nước này đều đóng vai trò rất quan trọng trong việc phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam. Như tôi đã phân tích ở trên, đó là nhiệm vụ rất là cốt yếu của đảng Cộng Sản Việt Nam để duy trì tính chính danh cũng như khả năng cầm quyền. Cả hai cường quốc đều quan trọng như vậy, cho nên Việt Nam không thể hy sinh quan hệ với nước này để phát triển quan hệ với nước kia, vì làm như vậy chính là tự sát. Thứ hai, trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược Mỹ-Trung ngày càng căng thẳng như vậy, nếu Việt Nam nghiêng về bên này và lơ là bên kia thì sẽ bị cuốn vào cuộc cạnh tranh nước lớn. Trong bối cảnh ấy, Việt Nam sẽ gặp nhiều bất lợi, sẽ mất đi sự tự chủ chiến lược, có thể ảnh hưởng đến hòa bình, ổn định của quốc gia  mình, cũng như của khu vực, kéo theo hệ lụy là tư thế chiến lược của Việt Nam sẽ bị suy yếu và cuối cùng sẽ ảnh hưởng đến triển vọng phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam. Chính vì vậy, trong thời gian tới, Việt Nam sẽ phải tiếp tục duy trì chính sách ngoại giao cân bằng, “đi dây” giữa các cường quốc, để giúp duy trì được sự tự chủ chiến lược, qua đó tận dụng tối đa sự hỗ trợ của các cường quốc khác cũng như thị trường Trung Quốc và Mỹ để giúp phát triển kinh tế, và qua đó duy trì được vai trò lãnh đạo của đảng Cộng Sản Việt Nam trong thời gian tới. 
3/13/20239 minutes, 37 seconds
Episode Artwork

Việt Nam : Đảng củng cố quyền lực để tăng cường chống tham nhũng

Ông Võ Văn Thưởng, 52 tuổi, trở thành chủ tịch nước trẻ nhất của Việt Nam sau khi được Quốc Hội thông qua gần như với số phiếu tuyệt đối hôm 02/03/2023. Thuộc thế hệ trẻ và nổi tiếng trung thành với đảng Cộng Sản, ông Võ Văn Thưởng được cho là sẽ giúp tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng tăng cường ảnh hưởng, mạnh tay chống tham nhũng, như lời ông cam kết « kiên quyết đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực » khi tuyên thệ nhậm chức. Ở cương vị chủ tịch nước, ông Võ Văn Thưởng sẽ phải tập trung vào các vấn đề ở cấp độ Nhà nước và ngoại giao, trong khi ông lại tương đối « non nớt » trong lĩnh vực đối ngoại, theo đánh giá của giáo sư danh dự Carl Thayer, thuộc Học viện Quốc Phòng Úc. Gần như toàn bộ sự nghiệp của ông Võ Văn Thưởng là làm công tác Đảng và tham gia chiến dịch đấu tranh chống tham nhũng khi đảm nhiệm chức Thường trực Ban Bí thư Trung ương Đảng. Tại sao ông Võ Văn Thưởng lại được Ban Chấp Hành Trung ương đảng Cộng Sản Việt Nam giới thiệu làm chủ tịch nước ? Việc bổ nhiệm ông Thưởng tác động như thế nào đến chính trường Việt Nam ? Giám đốc nghiên cứu Benoît de Tréglodé, Viện Nghiên cứu Chiến lược (IRSEM), Trường Quân sự Pháp, trả lời một số câu hỏi của RFI Tiếng Việt. * RFI : Ông đánh giá thế nào về bối cảnh việc bổ nhiệm ông Võ Văn Thưởng làm chủ tịch nước Việt nam. Tại sao lại là ông Thưởng mà không phải là người khác ? Benoît de Tréglodé : Bối cảnh chung là quyết tâm tiếp tục theo đuổi chiến dịch chống tham nhũng đã khiến chủ tịch nước Việt Nam Nguyễn Xuân Phúc bị mất chức hồi tháng 01/2023, cũng như hai phó thủ tướng. Trong bối cảnh này, Bộ Chính Trị đã tìm người kế nhiệm. Ông Võ Văn Thưởng có lợi thế lớn là có lý lịch và sự nghiệp tương đồng với ông tổng bí thư đảng Cộng Sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng. Đây là điểm quan trọng. Ngoài ra, cần phải biết là sự nghiệp chính trị của ông Võ Văn Thưởng thăng tiến từ những vị trí trong Đoàn Thanh niên Cộng Sản, ngay những năm ông 20 tuổi, ở thành phố Hồ Chí Minh, sau đó đưa ông đến thượng tầng của bộ máy Nhà nước. RFI :Về mặt chính thức, ông Võ Văn Thưởng giữ vị trí số 2 trong bộ máy Nhà nước. Vị trí chủ tịch nước có cần kinh nghiệm ngoại giao vững chắc không ? Việc bổ nhiệm ông Thưởng có tác động như thế nào đến chính trường Việt Nam ? Benoît de Tréglodé : Trước tiên, ông Võ Văn Thưởng hoạt động chính trị từ khá sớm. Con đường này đã đưa ông đến chức vụ bí thư tỉnh Quảng Ngãi trước khi nắm giữ những vị trí ở cấp quốc gia. Chức chủ tịch nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam không phải là vị trí trung tâm nhất trong bộ ba quyền lực, không phải là vị trí quan trọng nhất. Từ lâu, chức chủ tịch nước được coi như là một vị trí danh dự. Nếu nhìn từ điểm này thì không hẳn cần phải có kinh nghiệm ngoại giao. Nếu nhìn vào quá trình sự nghiệp của ông Võ Văn Thưởng thì thấy ông không có kinh nghiệm về quốc tế. Vì thế, có thể đối với những người đang suy nghĩ về tương lai vào lúc mà Đại Hội đảng Cộng Sản Việt Nam lần thứ 14 vào năm 2026 đang đến, thì họ có thể coi 2-3 năm tới là bài trắc nghiệm cho ông Thưởng để xem ông có thực sự hội tụ đủ tố chất cần thiết để đảm nhận một vị trí khác hay không. Nhưng chưa có gì là chắc chắn nếu chúng ta nhìn vào những người đã giữ chức chủ tịch nước Việt Nam. Vị trí này không hẳn là bàn đạp để sau này nắm giữ những chức vụ quan trọng hơn. RFI : Ông Võ Văn Thưởng là người miền nam, phải chăng ở đây có chủ đích cân bằng vùng miền ở vị trí « tứ trụ » ? Hay do chỉ có một ứng viên duy nhất được lựa chọn ? Benoît de Tréglodé : Đúng thế, thậm chí còn có ý kiến cho là từ tháng 04/2021, không có đại diện của miền nam trong « tứ trụ », tức bốn chức vụ quan trọng nhất trong bộ máy Nhà nước Việt Nam : tổng bí thư đảng, thủ tướng, chủ tịch Quốc Hội, chủ tịch nước. Có thể có thêm khía cạnh này, dù tôi nghĩ rằng hiện nay ảnh hưởng của phe vẫn được gọi là « phe miền nam » bị phai nhạt một chút, bớt mạnh hơn so với trước đây. Tuy nhiên, sự nghiệp của ông Võ Văn Thưởng khá thú vị vì ông là người miền nam, nhưng lại sinh ra ở miền bắc, tại tỉnh Hải Dương, trong một gia đình gốc Vĩnh Long tập kết ra bắc thời chiến. Ông Thưởng sinh năm 1970, sau đó ông học tập và bắt đầu sự nghiệp chính trị ở miền nam, nhưng dù sao ông vẫn sinh ra ở miền bắc. Chính việc có nguyên quán miền nam, sinh ở miền bắc này đã tạo cho ông Thưởng lợi thế lớn trong bộ máy Nhà nước hiện nay và ông đại diện cho miền nam Việt Nam. RFI : Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng sẽ nghỉ hưu. Dường như ông Võ Văn Thưởng được coi là người kế nhiệm ông Trọng. Liệu điều đó có giúp « phe miền nam » có thể có lợi thế trong tương lai ? Benoît de Tréglodé : Trước hết, tôi nghĩ là hiện giờ, không thể biết được ai sẽ thay thế tổng bí thư đảng Cộng Sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng. Liệu ông Trọng có làm đến hết nhiệm kỳ vào năm 2026 không ? Liệu ông Trọng có từ chức trước thời hạn vì lý do sức khỏe không ? Không ai thực sự biết được chính xác. Rất nhiều chính trị gia quan tâm đến vị trí lãnh đạo chế độ Việt Nam. Người ta từng nói đến chủ tịch Quốc Hội Vương Đình Huệ, một trong những người từng được coi là ứng cử viên. Người ta cũng biết là từ Đại Hội Đảng lần thứ 13, bộ trưởng Công An Tô Lâm cũng quan tâm đến vị trí này. Tôi nghĩ là còn quá sớm để có thể đưa ra kiểu giả thuyết như vậy. Vì thế việc coi tân chủ tịch nước Võ Văn Thưởng, vừa mới được bầu hôm 02/03, là một ứng cử viên kế nhiệm chức tổng bí thư đảng thì tôi nghĩ là cũng chưa đủ chắc chắn. Ông Thưởng có một sự nghiệp thú vị vì đó là sự nghiệp của cán bộ Đảng vẫn luôn bảo vệ tư tưởng, học thuyết Mac-Lênin ở Việt Nam, hệ tư tưởng của Nhà nước. Ông Thưởng có chung điểm này với tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng, người sử dụng những năm lãnh đạo cuối cùng để bảo vệ tư tưởng, tương lai và thành công của chế độ chính trị Việt Nam. RFI : Có nghĩa là chiến dịch chống tham nhũng sẽ được tiếp tục tiến hành mạnh tay ? Benoît de Tréglodé : Chiến dịch chống tham nhũng gần như là yếu tố thường trực trong đời sống chính trị Việt Nam. Đúng là trong nhiệm kỳ thứ 3, tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã biến chống tham nhũng thành « thương hiệu » của ông. Chính ông là người tung hết chiến dịch chống tham nhũng này đến chiến dịch bài trừ tham nhũng khác từ 10 năm qua. Nhưng trước thời ông Trọng, chính trường Việt Nam vẫn được điểm xuyết bằng những chiến dịch chống tham nhũng. Vì thế, chống tham nhũng không phải là điều gì mới và xu hướng này vẫn chưa sẵn sàng dừng lại. Có hai yếu tố giải thích cho việc này. Trước tiên, như mọi người đều biết, tham nhũng ở Việt Nam diễn ra ở mọi tầng lớp trong xã hội, có tham nhũng vặt, tham nhũng ở quy mô vừa và đại tham nhũng. Vì thế, một đảng đang tìm kiếm tính chính đáng, đang tìm cách củng cố tính chính đáng trong một đất nước trẻ, năng động, một đất nước mở cửa với thế giới, nhất là với những chế độ chính trị khác nhau ở châu Á, thì rất cần cho người dân thấy rằng Đảng có khả năng bắt những con cá lớn, rằng Đảng phải thể hiện sự trong sạch nhất định và đấu tranh chống tham nhũng trong thành phần đảng viên. Vì thế, điều quan trọng là Đảng cần phải củng cố vị trí ở Việt Nam. Tuy nhiên, đối với giới tinh hoa, như người ta vẫn nói, quan trọng là cũng phải tranh thủ thời cơ này để có thể gạt bỏ những đối thủ cạnh tranh vướng víu nhằm củng cố tham vọng của mình. RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn giám đốc nghiên cứu Benoît de Tréglodé, Viện Nghiên cứu Chiến lược (IRSEM), Trường Quân sự Pháp. Không có thay đổi lớn trên chính trường Việt Nam Sự kiện chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc xin thôi mọi chức vụ ngay trước kỳ nghỉ Tết Nguyên đán đã khiến truyền thông quốc tế tốn không ít giấy mực. Việc đảng Cộng Sản Việt Nam gấp rút bổ nhiệm ông Võ Văn Thưởng thay thế, sau đó được Quốc Hội nhanh chóng thông qua, cũng được bình luận rất nhiều trong những ngày vừa qua. Điểm chung đầu tiên, được truyền thông và giới chuyên gia nhận định là việc bổ nhiệm ông Võ Văn Thưởng, thành viên trẻ nhất của Bộ Chính Trị của đảng Cộng Sản Việt Nam, làm chủ tịch nước Việt Nam không gây bất ngờ và xáo trộn lớn cho đất nước. Đối với trang BBC, đây là « lựa chọn an toàn » và là « lựa chọn rất thận trọng », loại bỏ những quan ngại về khả năng Nhà nước cảnh sát. Tiếp theo, về đối ngoại, Việt Nam luôn cố giữ cân bằng giữa hai cường quốc Mỹ và Trung Quốc hiện cạnh tranh và đối đầu nhau trên nhiều mặt trận (Biển Đông, chiến tranh Ukraina, thương mại…). Việc bổ nhiệm một cán bộ Đảng chuyên nghiệp làm chủ tịch nước có thể khiến Bắc Kinh hài lòng, nhưng cũng không hẳn làm phật lòng phương Tây vì chủ tịch nước Việt Nam vẫn được coi là một chức vụ « danh dự » và quyền hạn trao cho chủ tịch nước vẫn còn hạn chế, theo trang Nikkei Asia. Giáo sư Carl Thayer, thuộc Học viện Quốc Phòng Úc, cho rằng « với tư cách là chủ tịch nước, ông Thưởng có lẽ sẽ không đề xướng các thay đổi trong chính sách đối ngoại của Việt Nam » vì « cần có sự đồng thuận rất cao trong số các lãnh đạo chủ chốt. Hơn nữa, chính sách đối ngoại là kết quả của quyết định tập thể và đồng thuận trong Bộ Chính Trị ».
3/6/20239 minutes, 13 seconds
Episode Artwork

Singapore : Một lựa chọn hợp tác giúp Việt Nam hoàn thiện chính phủ điện tử

Thẻ căn cước công dân điện tử là một trong những thành công mới nhất trong công cuộc chuyển đổi số ở Việt Nam và được sử dụng thay thế sổ hộ khẩu giấy, chính thức bị xóa bỏ từ ngày 01/01/2023. Quá trình này đang được tăng tốc để hướng đến mục tiêu vào năm 2025, Chính phủ điện tử Việt Nam vào top 50 thế giới (hiện đứng thứ 86) và đến năm 2030, được xếp vào nhóm 30 nước dẫn đầu, theo xếp hạng của Liên Hiệp Quốc. Ngoài sự hỗ trợ năng động của Pháp trong lĩnh vực này, Hà Nội muốn mở rộng hợp tác, học hỏi kinh nghiệm của Singapore, hiện đứng đầu các nước Đông Nam về chính phủ điện tử. Việt Nam giữ vị trí thứ 6 trên 11 nước trong khu vực, sau cả Malaysia, Thái Lan, Brunei và Indonesia. Dùng thẻ căn cước điện tử để bỏ quản lý hộ khẩu theo mô hình Trung Quốc Năm 2020 được xem là bước khởi đầu với Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030. Đến tháng 06/2021, lần đầu tiên Việt Nam ban hành Chiến lược phát triển Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số giai đoạn 2021-2025, định hướng đến năm 2030. Thực ra, con đường chuyển đổi số ở Việt Nam đã được định hình từ nhiều năm trước, theo nhà nghiên cứu Hà Hoàng Hợp, cộng tác viên liên kết của Viện Nghiên cứu Đông Nam Á - ISEAS-Yosof Ishak Institute tại Singapore, khi trả lời RFI Tiếng Việt ngày 21/02 : « Có thể nói, chính phủ điện tử ở Việt Nam bắt đầu từ khoảng năm 2011. Trước đó có kế hoạch được gọi là áp dụng công nghệ thông tin vào các hoạt động của hệ thống hành chính của chính phủ, tức là công vụ, nhưng thất bại. Sau đó, từ năm 2011-2012, bắt đầu có một kế hoạch khá đầy đủ để xây dựng chính phủ điện tử trong khuôn khổ quân trọng về cải cách hành chính. Như chúng ta biết, Việt Nam có chương trình cải cách hành chính 10 năm (2001-2010). Đó là một chương trình rất tốt, tạo ra những bước tiến cơ bản cho Việt Nam về hành chính, trong đó có cải cách thể chế, cải cách tư pháp, cải cách hệ thống công vụ và tài chính công, cũng như là hệ thống các doanh nghiệp. Trong vòng 10 năm, với sự giúp đỡ, tài trợ của các nước phát triển trong khuôn khổ hỗ trợ của Liên Hiệp Quốc, Việt Nam đã đạt được những bước tiến khá tốt. Từ 2012, việc xây dựng « chính phủ điện tử » bắt đầu diễn ra với thủ tục ban đầu là xây dựng các hệ thống internet ổn định và an toàn trong cả nước. Thứ hai là xây dựng những trung tâm dữ liệu. Thứ ba là bắt đầu số hóa các thủ tục hành chính và thủ tục công vụ để đưa vào thư viện và phục vụ, đặc biệt là từ thành phố Hồ Chí Minh, sau đó đến Hà Nội. Nhưng bước đầu tiên để làm những việc đó, là ngay từ năm 2014, Việt Nam đã có một dự án thí điểm là xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu dân cư ở Hải Phòng và đã cho kết quả tốt. Từ sau năm 2017 đến nay đã xây dựng được cơ sở dữ liệu dân khá toàn diện. Trên cơ sở đó, chính phủ Việt Nam đã bỏ được hình thức quản lý công dân và quản lý các hộ gia đình bằng hộ khẩu mà chuyển tất cả sang hệ thống căn cước công dân. Đây là hình thức quản lý hiện đại và không còn mang mầu sắc của Trung Quốc nữa. Đó là một việc làm rất lớn. Còn tất cả những dịch vụ gọi là « hệ thống công vụ », có thể nói rằng đang phát triển một cách không đồng đều, nhiều chỗ còn rất chậm. Và ở những nơi đã phát triển được một phần nào đấy thì mức độ an toàn của hệ thống và mức độ ổn định của hệ thống đều ở ngưỡng thấp. Ví dụ ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, mức độ xây dựng chính phủ điện tử này còn đang chậm và các hệ thống đang hoạt động không ổn định ». Singapore : Mô hình mà Việt Nam muốn hợp tác trong khu vực Trong quá trình chuyển đổi số, Việt Nam thường nhắc đến những kinh nghiệm và để nhiều nước phương Tây hỗ trợ mà không đề cập đến Trung Quốc. Ví dụ, bộ Công An nêu trường hợp của « nhiều quốc gia đã tiên phong và đạt được nhiều thành tựu trong thực hiện chính phủ điện tử như Đan Mạch, Hàn Quốc, Singapore, Nga, Đức, Anh, Pháp, Estonia… ». Tại khu vực Đông Nam Á, Singapore là mô hình mà Việt Nam muốn hợp tác bởi vì, theo nhận định của bộ Công An Việt Nam, đảo quốc « thuộc nhóm nước đứng đầu thế giới về chỉ số phát triển Chính phủ điện tử, tiêu biểu là việc xây dựng cơ sở dữ liệu chung, tích hợp tất cả các dịch vụ hành chính công của các bộ/ngành ». Trong chuyến công du Singapore từ ngày 08-10/02/2023 nhân kỷ niệm 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao, 10 năm thiết lập quan hệ Đối tác chiến lược song phương, thủ tướng Phạm Minh Chính đã đề cập với đồng nhiệm Lý Hiển Long về hợp tác « chuyển đổi số, bao gồm chính phủ điện tử, quốc gia thông minh-thành phố thông minh và sản xuất thông minh ». Singapore bắt đầu thực hiện quá trình chuyển đổi số từ cách đây gần nửa thế kỷ, với Chương trình tin học hóa quốc gia ngay từ thập niên 1980. « Đó là điều mà Việt Nam có thể học để có được một hệ thống công vụ số ổn định, nhanh và minh bạch », theo nhà nghiên cứu Hà Hoàng Hợp. « Singapore đã phát triển chính phủ điện tử từ lâu, từ khoảng năm 1998. Khi đó, họ dùng một thuật ngữ, gọi là « công nghệ thông tin hóa hệ thống công vụ » của họ. Bắt đầu từ đó, hơn 20 năm, họ đã làm được nhiều việc khác nhau, từ việc đưa các thủ tục công vụ, tức là thủ tục hành chính, từ đơn giản nhất để số hóa. Cho đến gần đây, họ đã đạt được những mức độ rất cao vì 100% dịch vụ công của họ đã được chuyển đổi số thành công và ở mức độ tất cả các mặt, từ dữ liệu, lưu trữ, an toàn lưu trữ dữ liệu đến các bước xử lý công việc, rồi các quy trình, quy tắc xử lý công việc và công vụ đều được họ làm ở mức độ cao nhất. Chỉ có một mức độ là vì nếu xét ở mức độ là hệ thống chính phủ điện tử của Singapore đạt mức độ thống suốt ở mức cao, nhưng mức độ chính phủ điện tử thông minh thì vẫn chưa đạt được ». Báo Chính phủ Việt Nam cho biết sau chuyến thăm của thủ tướng Phạm Minh Chính, Việt Nam và Singapore dự kiến đẩy mạnh chia sẻ kinh nghiệm quản lý, các sáng kiến, nền tảng trong lĩnh vực chuyển đổi số trên 3 trụ cột : chính phủ số, kinh tế số và xã hội số ; hỗ trợ Việt Nam xây dựng nền tảng số, thúc đẩy chuyển đổi số trên các lĩnh vực ưu tiên, như quản lý dân cư, tài chính ngân hàng, đất đai, thương mại điện tử… Nhà nghiên cứu Hà Hoàng Hợp cho biết thêm : « Về hợp tác giữa Việt Nam và Singapore, trước đây đã đặt vấn đề đó, lúc đầu là từ thời ông Nguyễn Xuân Phúc (khi còn làm chủ tịch nước), sau đó vào tháng 10/2022, tổng thống Singapore đến Việt Nam và cũng đề cập đến vấn đề này. Vừa rồi, ông Phạm Minh Chính đi thăm Singapore, cũng đã đặt vấn đề này, cũng chỉ mở rộng ra một chút. Nhưng phải nói thật là chưa có gì cụ thể. Tất cả mới chỉ tập trung vào việc để hai bên hợp với nhau, chủ yếu là Singapore trao đổi với Việt Nam về kinh nghiệm xây dựng chính phủ điện tử và có thể giúp Việt Nam việc bắt đầu từ khâu chuyển đổi số, đào tạo công chức, nâng cao năng lực của hệ thống công vụ của Việt Nam nói chung và hệ thống huấn luyện trong nước cho việc chuyển từ một chính phủ bình thường thành chính phủ điện tử ». Mở rộng hợp tác với các nước phương Tây có quy mô dân số tương ứng Ngoài ra, nhà nghiên cứu Hà Hoàng Hợp đánh giá mô hình quản lý của Singapore có một số điểm hạn chế đối với Việt Nam, đặc biệt liên quan đến số dân. Đảo quốc chỉ có gần 6 triệu dân, trong khi Việt Nam có gần 100 triệu. Cho nên, Việt Nam cần mở rộng hợp tác về chính phủ điện tử với các nước có quy mô dân số tương tự. « Mô hình mà Việt Nam cần học nhiều, ở khu vực này thì chỉ có mỗi Singapore. Còn thực ra, Việt Nam nên học những nước như Pháp, Úc, Anh thì tốt hơn, bởi vì Singapore là một nước nhỏ, chỉ có 5 triệu người sử dụng hệ thống công vụ, nên việc xây dựng một hệ thống chính phủ điện tử ở Singapore, tôi nghĩ là dễ hơn so với xây dựng ở Việt Nam rất nhiều. Cho nên, Việt Nam cần tính đến cách xây dựng một chính phủ điện tử phục vụ cho số đông, khoảng 100 triệu người. Việc này có thể học từ Pháp, Đức, Anh quốc, Mỹ, dường như sẽ có bài học tốt hơn hẳn so với học từ Singapore ». Pháp là nước hỗ trợ tích cực quá trình hiện đại hóa hành chính Việt Nam thông qua chuyển đổi số. Ngay năm 2018, một thỏa thuận hợp tác liên chính phủ đã được ký nhân chuyến thăm Việt Nam của thủ tướng Pháp. Ông Béla Hégédus, tùy viên hợp tác, trưởng phòng Pháp luật, Tư pháp và Quản trị, Đại sứ quán Pháp tại Việt Nam, cho biết từ bốn năm nay, Pháp « đã huy động hơn 2 triệu euro, thông qua nguồn tài chính của Cơ quan Phát triển Pháp - AFD và hiện nay là nguồn hỗ trợ của bộ Châu Âu và Ngoại Giao Pháp, và hàng chục chuyên gia Pháp thuộc tất cả các lĩnh vực liên quan đến chuyển đổi số và hiện đại hóa nền hành chính » để trao đổi, tọa đàm, huấn luyện với phía Việt Nam. Một thành công lớn là Cổng dịch vụ công quốc gia Việt Nam đã được ra mắt vào cuối năm 2019. Theo ông Béla Hégédus, Cổng dịch vụ công đã « làm thay đổi cuộc sống hàng ngày của rất nhiều người dân Việt Nam bằng việc đơn giản hóa các thủ tục hành chính » và thu hút « hơn 830 triệu lượt truy cập ». Hiện đã có 4.416 thủ tục hành chính được triển khai trực tuyến trên Cổng dịch vụ công quốc gia của Việt Nam, có nghĩa là « gần 70% các thủ tục hành chính đã được đưa lên mạng ». Giữa năm 2022, đại sứ quán Pháp và Văn phòng Chính phủ Việt Nam đã khởi động dự án « Hỗ trợ hiện đại hóa nền hành chính Việt Nam bằng chuyển đổi số » do bộ Châu Âu và Ngoại giao Pháp tài trợ, xoay quanh ba trụ cột chính : đơn giản hóa thủ tục hành chính, tối ưu hóa quan hệ giữa các cơ quan hành chính, quản lý các chính sách công dựa trên dữ liệu số mở. Đây là một trong số những dự án giúp Việt Nam đạt được chủ trương « 4 không » : Họp không gặp mặt, xử lý văn bản không giấy tờ, giải quyết thủ tục hành chính không tiếp xúc và thanh toán không dùng tiền mặt.
2/27/20239 minutes, 36 seconds
Episode Artwork

Thỏa thuận Việt Nam - Indonesia: Một hướng giải quyết tranh chấp Biển Đông?

Sau 12 năm đàm phán, ngày 23/12/2022, Indonesia và Việt Nam đã giải quyết được tranh chấp trên biển, cụ thể là đã kết thúc đàm phán về việc phân định vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) chồng lấn giữa hai nước tại khu vực quần đảo Natuna ở Biển Đông. Thỏa thuận giữa Hà Nội và Jakarta sẽ chấm dứt những căng thẳng lâu nay giữa hai nước, nhưng chắc là sẽ khiến Trung Quốc giận dữ, vì Bắc Kinh vẫn tuyên bố chủ quyền đối với một phần khu vực mà Indonesia và Việt Nam tranh chấp.  Tổng thống Indonesia Joko Widodo và Chủ tịch nước Việt Nam Nguyễn Xuân Phúc đã công bố thỏa thuận này trong chuyến thăm cấp nhà nước 3 ngày của ông Phúc tại Indonesia tháng 12 năm ngoái.  Căng thẳng do đánh bắt cá Trong những năm gần đây, Việt Nam và Indonesia thường xuyên gặp căng thẳng tại vùng đặc quyền kinh tế chồng lấn lên nhau. Lực lượng tuần duyên Indonesia đã tịch thu và phá hủy hàng chục tàu thuyền Việt Nam trong vùng biển tranh chấp, đặc biệt là xung quanh quần đảo Natuna. Năm 2017, một tàu Cảnh sát biển Việt Nam bị cáo buộc đã ngăn chặn một nỗ lực của Indonesia nhằm hộ tống các tàu Việt Nam ra khỏi khu vực tranh chấp. Trong vụ này, một sĩ quan Indonesia bị lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam bắt giữ.  Tháng 4/2019, một tàu Indonesia va chạm với 2 tàu Kiểm ngư Việt Nam. Năm 2019, Indonesia đã phá hủy 38 tàu treo cờ Việt Nam bị cáo buộc đánh bắt trái phép. Đến tháng 3 năm 2021, Cảnh sát biển Indonesia lại bắt giữ hai tàu đánh cá Việt Nam. Ngoài nguồn thủy sản dồi dào, khu vực tranh chấp ranh giới giữa hai nước cũng được coi là giàu tài nguyên thiên nhiên. Thỏa thuận nói trên như vậy là sẽ góp phần chấm dứt nhiều năm đụng độ giữa hai nước trong khu vực tranh chấp, đặc biệt là về nạn đánh bắt cá trái phép. Trả lời RFI Việt ngữ ngày 05/01/2023, nhà nghiên cứu Hoàng Việt, thuộc Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh, nhận định: “ Sau khi hiệp định có hiệu lực thì tình trạng này bắt đầu mới giảm bớt được. Trong thời gian qua, một số ngư dân Việt Nam bị phía Indonesia bắt vì bị cho là vi phạm vùng đặc quyền kinh tế của Indonesia, nhưng các ngư dân Việt Nam khẳng định là họ đánh bắt trong vùng biển của Việt Nam, chứ không phải của Indonesia. Nhưng điều này rất khó nói và khó tranh luận. Một trong những yếu tố dẫn đến việc Việt Nam vi phạm thẻ vàng về IUU Fishing ( đánh bắt cá bất hợp pháp, không khai báo và không theo quy định ), đó là có những khu vực mà rất nhiều tàu cá của Việt Nam  bị cáo buộc xâm phạm vùng biển của những quốc gia khác, trong đó có Indonesia.  Sau khi hiệp định chính thức có hiệu lực thì chuyện tranh cãi về việc ngư dân Việt Nam xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế Indonesia sẽ rõ ràng hơn, vì chắc chắn là khi phân định thì sẽ phân định rõ nơi nào thuộc đặc quyền kinh tế của Indonesia, nơi nào là của Việt Nam, nơi nào là vùng đánh cá chung của cả hai bên.” Gợi ý cho những tranh chấp khác? Trước mắt, các nhà phân tích tin rằng thỏa thuận giữa Indonesia với Việt Nam sẽ mở đường cho nhiều nước láng giềng của Trung Quốc giải quyết các yêu sách chủ quyền chồng lấn lên nhau ở Biển Đông. Ví dụ, Việt Nam cũng có tranh chấp tương tự với cả Philippines và Malaysia. Nhà nghiên cứu Hoàng Việt giải thích:  “Nó sẽ là gợi ý tốt cho Việt Nam và các các quốc gia Đông Nam Á có tranh chấp tương tự trên khu vực Biển Đông, bởi vì cơ sở của nó là luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển, có các án lệ quốc tế liên quan đến phân định biển… Thực tiễn quốc tế mới là cơ sở để các quốc gia giải quyết vấn đề này.  Việt Nam cũng có những vùng chồng lấn tương tự với vùng biển của Philippines và Malaysia, tuy nhiên, tình huống cụ thể với mỗi bên có rất nhiều điểm khác biệt. Trong quần đảo Trường Sa, có một số thực thể mà cả Việt Nam, Malaysia đều khẳng định chủ quyền. Những thực thể đó có những vùng biển xung quanh mà cả ba quốc gia đều cho là của mình. Giải quyết vấn đề này sẽ rất khó khăn, nhưng rõ ràng việc Việt Nam và Indonesia kết thúc được hiệp định này cho thấy, thứ nhất là các quốc gia ASEAN trong khu vực Biển Đông có những tranh chấp về chồng lấn như vậy hoàn toàn có thể giải quyết được tranh chấp này trong hòa bình và dưới ánh sáng của luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển. Năm nay cũng là năm kỷ niệm 40 năm Công ước này được ký kết. Tranh chấp Biển Đông là tranh chấp đầy phức tạp. Nếu các quốc gia ASEAN có tranh chấp Biển Đông mà giải quyết được những vấn đề khúc mắc của riêng mình, thì đó cũng là một điều tốt để cho  vấn đề Biển Đông có thể được giải quyết tốt hơn. Nếu tất cả các quốc gia có tranh chấp chồng lấn như vậy mà giải quyết ổn thỏa được các vấn đề đó, thì chỉ còn lại vấn đề quan trọng nhất là đối với Trung Quốc. Điều đó cũng sẽ tạo một sức ép không nhỏ đối với Trung Quốc.”  Trong một bài viết trên trang Forbes ngày 27/12/2022, giáo sư Jill Goldenziel, Đại học Quốc Phòng Hoa Kỳ, cũng lưu ý rằng Việt Nam và Indonesia đã quyết định giải quyết tranh chấp ranh giới của họ dựa trên Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển (UNCLOS), qua đó bác bỏ yêu sách của Trung Quốc về “quyền lịch sử” đối với vùng Biển Đông. Do đó, thỏa thuận này là một bước quan trọng hướng tới một mặt trận thống nhất giữa các nước láng giềng của Trung Quốc trong việc giải quyết hòa bình các tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông.  Việc lựa chọn UNCLOS làm cơ sở giải quyết tranh chấp ranh giới cũng ngầm thể hiện sự ủng hộ đối với phán quyết của Tòa Trọng tài Thường trực năm 2016 về vụ kiện của Philippines, bác bỏ các yêu sách chủ quyền của Trung Quốc ở Biển Đông.  Phản ứng của Trung Quốc ? Giáo sư Goldenziel cũng nhấn mạnh là các chi tiết của thỏa thuận giữa Hà Nội và Jakarta vẫn chưa được công khai, bởi vì nếu làm như vậy, Trung Quốc có thể sẽ đáp trả bằng các biện pháp ngoại giao, hoặc thậm chí quân sự mạnh mẽ. Cho tới nay, bất cứ khi nào một quốc gia láng giềng chính thức bày tỏ sự ủng hộ phán quyết của Tòa Trọng tài Thường trực về Biển Đông, Trung Quốc đều phản đối mạnh mẽ. Thỏa thuận Indonesia-Việt Nam được thông qua vào thời điểm Trung Quốc ngày càng hung hăng, khẳng định các yêu sách chủ quyền của họ ở Biển Đông. Tại khu vực ranh giới giữa Indonesia và Việt Nam,Trung Quốc có thể triển khai lực lượng dân quân biển có vũ trang, đội lốt tàu cá, để xác quyết chủ quyền đối với khu vực. Tuy nhiên, nhà nghiên cứu Hoàng Việt nêu lên hai lý do khác: “Trường hợp thứ nhất, thông thường, nếu một hiệp định đã được hoàn tất, thì theo trình tự, còn một bước nữa là Quốc Hội mỗi bên thông qua, thì nó mới chính thức có hiệu lực. Hiện nay vẫn chưa có lịch trình của cả hai bên, đặc biệt là bên phía Việt Nam, để thông qua văn bản này. Như thế là phải mất thêm một thời gian nữa. Trong thời gian đó hai bên sẽ đều giữ kín thông tin. Khả năng thứ hai là hai bên đã kết thúc đàm phán, tức là đã đồng ý với nhau một số nguyên tắc cơ bản, nhưng còn những vấn đề cụ thể của hiệp định thì vẫn chưa hoàn tất. Thậm chí là có những vấn đề kèm theo hiệp định đó, ví dụ như những phụ lục hay những hiệp định kèm theo thì vẫn chưa xong. Cho nên,  đó chỉ mới là bước đầu, chưa thật sự hoàn tất, chính vì vậy hai bên vẫn chưa đưa ra thông tin cụ thể trong lúc này.” Giáo sư Goldenziel, tác giả bài viết trên trang Forbes ngày 27/12/2022, cho rằng thỏa thuận Indonesia-Việt Nam có thể  là khuôn mẫu cho các nỗ lực phối hợp nhằm chống lại sự bành trướng trên biển của Trung Quốc, và là một bước tiến tới một mặt trận Đông Nam Á thống nhất chống lại các yêu sách chủ quyền phi pháp của Trung Quốc trên Biển Đông. Nhà nghiên cứu Hoàng Việt cũng có cùng nhận định: “ Có ý kiến cho rằng Trung Quốc cũng không hài lòng về chuyện này, bởi vì cái quan trọng nhất là Trung Quốc vẫn muốn đàm phán với ASEAN về vấn đề Biển Đông, đặc biệt là về COC ( Bộ Quy tắc Ứng xử trên Biển Đông ). Nhiều người cho rằng Trung Quốc vẫn muốn ngăn cản và chia rẽ các nước ASEAN. Chính vì vậy mà Trung Quốc sẽ tìm cách can thiệp vào hiệp định này. Cũng có người cho rằng, hiệp định dù có được ký kết thì cũng phải được Quốc Hội phê chuẩn. Đối với Quốc Hội Việt Nam thì chắc là không khó khăn lắm trong việc thông qua, khi mà chính phủ đã quyết định. Nhưng đối với Indonesia lại là chuyện khác. Ngay cả tại Indonesia cũng có những nhóm thân Trung Quốc hoặc không thân Trung Quốc, vì thế Trung Quốc cũng có thể tác động bằng cách này hay cách khác. Chỉ sau khi Quốc Hội Indonesia phê chuẩn thì lúc đó mới là chắc chắn. Khả năng là có thể xảy ra, bởi vì Trung Quốc sẽ tìm cách vận động khiến cho Quốc Hội có những tiếng nói khác biệt, dẫn tới việc phê chuẩn bị chậm trễ, hoặc kéo dài hoặc là chưa biết có được thông qua hay không.” Sự hỗ trợ của Mỹ Trong bài viết nói trên, giáo sư Goldenziel còn cho rằng thỏa thuận về biên giới trên biển giữa Việt Nam và Indonesia có thể góp phần giúp Hoa Kỳ chống lại Trung Quốc trong khu vực. Theo giáo sư Goldenziel, Hoa Kỳ nên làm việc với Indonesia và Việt Nam để tăng cường thỏa thuận, nhằm hỗ trợ chiến lược quốc gia của Hoa Kỳ trong việc chống đánh bắt cá bất hợp pháp, không theo quy định và không báo cáo (IUU Fishing), đồng thời khẳng định luật pháp ở Biển Đông. Tác giả bài viết khẳng định: “Hoa Kỳ sẵn sàng hành động để hỗ trợ Indonesia và Việt Nam giúp cho  thỏa thuận thành công. Việt Nam là quốc gia ưu tiên trong Đạo luật An Toàn Hàng hải của Hoa Kỳ, một phần trong Chiến lược Quốc gia của Hoa Kỳ về Chống Khai thác IUU. Điều này có nghĩa là Việt Nam đã bày tỏ sẵn sàng hành động chặt chẽ với Hoa Kỳ để chống đánh bắt cá bất hợp pháp. Hoa Kỳ nên làm việc với Việt Nam và Indonesia để củng cố thỏa thuận của họ bằng cách cung cấp đào tạo và hỗ trợ cho lực lượng bảo vệ bờ biển của cả hai quốc gia để chống lại việc đánh bắt IUU và khẳng định các quyền hàng hải chống lại Trung Quốc. Hoa Kỳ cũng có thể giúp tiến hành các chiến dịch thông tin đại chúng để nâng cao nhận thức về ranh giới biển mới và các quyền hợp pháp của cả hai quốc gia đối với khu vực. Ngoài ra, Hoa Kỳ có thể hỗ trợ cả hai quốc gia lập hồ sơ và công khai các vi phạm đánh bắt IUU của Trung Quốc trong khu vực biên giới và thực hiện hành động pháp lý bất cứ khi nào thích hợp.”
2/20/20239 minutes, 32 seconds
Episode Artwork

Chống tham nhũng trên thượng tầng : Việt Nam không để tác động đến lực hút đầu tư nước ngoài

Chỉ trong một năm, Việt Nam vượt 10 bậc trong bảng Chỉ số nhận thức tham nhũng (Corruption Perceptions Index) của tổ chức Minh Bạch Quốc Tế : từ vị trí 87/180 quốc gia năm 2021 lên vị trí 77 năm 2022. Một chủ tịch nước “thôi mọi chức vụ” chỉ sau 21 tháng nắm quyền là sự kiện chưa từng có tại Việt Nam cho thấy chính sách của đảng Cộng Sản triệt tận gốc vấn tham nhũng trên thượng tầng. Đảng đang hình thành “văn hóa từ chức”. Nhưng theo một số chuyên gia được trang The Diplomat trích dẫn ngày 09/02/2023, đảng lại tạo ra một hệ thống có hai cấp độ : Một số lãnh đạo được “hạ cánh an toàn”, tránh mọi hệ lụy cho gia đình, như trường hợp của ông Nguyễn Xuân Phúc ; số khác, thường là cấp dưới, không có vây cánh mạnh, phải chịu trách nhiệm, hậu quả nặng. Điều này trái với phát biểu của tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng ngày 30/06/2022 tại Hội nghị toàn quốc tổng kết 10 năm công tác phòng chống tham nhũng, tiêu cực giai đoạn 2012-2022 : “Quyền lực đến đâu trách nhiệm đến đó, quyền lực càng cao trách nhiệm càng lớn”. Trang The Diplomat cho rằng “chiến dịch chống tham nhũng còn kéo dài chừng nào ông Nguyễn Phú Trọng còn giữ chức tổng bí thư nhưng khó triệt để”, bởi vì “cội nguồn của nạn tham nhũng ở Việt Nam là do chỉ có một đảng lãnh đạo”. Những đại án tham nhũng gần đây, cùng với những xáo trộn trên thượng tầng lãnh đạo - hệ quả từ chống tham nhũng - có khiến các nhà đầu tư ngoại quốc phân vân ? Sức hút đầu tư nước ngoài của Việt Nam có bị ảnh hưởng không ? Giám đốc nghiên cứu Benoît de Tréglodé, Viện Nghiên cứu Chiến lược (IRSEM) của Trường Quân sự Pháp, trả lời một số câu hỏi của RFI Tiếng Việt ngày 10/02/2023. RFI : Một chủ tịch nước từ chức là sự kiện chưa từng có ở Việt Nam. Ngày 17/01/2023, ông Nguyễn Xuân Phúc thông báo thôi mọi chức vụ và nghỉ hưu, trong khi vị trí “Tứ trụ” thường được đàm phán quyết liệt ở Việt Nam. Buộc một chủ tịch nước “tự nguyện” rời vị trí, phải chăng đảng Cộng Sản khẳng định quyền lực tuyệt đối của mình ? Benoît de Tréglodé : Đúng, không thể nói là tự nguyện từ chức. Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc đã chính thức thôi mọi chức vụ, đó là điều được công bố ở Việt Nam. Ông phải từ chức vì có nghi ngờ mối quan hệ giữa vợ ông với công ty Việt Á, nơi nhập khẩu kit xét nghiệm Covid của Trung Quốc, sau đó được bán lại với giá rất cao cho các tỉnh trên cả nước. Đây là nguồn gốc của đại án tham nhũng ở Việt Nam. Phát biểu trong buổi bàn giao công tác, ông Nguyễn Xuân Phúc nói là ông từ chức vì chịu trách nhiệm chính trị khi một số cán bộ cấp dưới của ông vi phạm và dính vào tai tiếng tham nhũng. Nhưng thực ra, chuyện lại thú vị hơn, liên quan đến chủ trương được tổng bí thư đảng Cộng Sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng ủng hộ. Chúng ta nhớ là ông Trọng đang giữ nhiệm kỳ thứ 3 sau khi được bầu lại tại Đại hội Đảng lần thứ 13 vào tháng 01/2021 và sẽ 79 tuổi vào tháng Tư tới. Ở đây không có chuyện tính toán, không có ý đồ chính trị cá nhân. Điều thực sự là trọng tâm trong những mối bận tâm của ông Trọng, đó là bảo vệ hệ tư tưởng, sự trong sạch của chế độ, cũng như nỗi ám ảnh duy trì đảng cầm quyền trong xã hội Việt Nam. Đó mới thực sự là thách thức ưu tiên đối với đảng. Vì thế, ông Trọng bảo vệ chân lý này bằng những chiến dịch chống tham nhũng, vẫn thường gặp trong chế độ kiểu này và đôi lúc cũng vì lý do chính trị. Nhưng nên nhớ đó chỉ là vì mục đích trong sạch về tư tưởng, bảo vệ tư tưởng. Điều đó rất quan trọng đối với ông tổng bí thư. RFI : Sau sự kiện chủ tịch Nguyễn Xuân Phúc từ chức, hình ảnh chống tham nhũng mà đảng Cộng Sản Việt Nam gửi đi có thể được hiểu theo hai hướng : khẳng định chính sách chống tham nhũng triệt để nhưng cũng cho thấy nạn tham nhũng trên thượng tầng lãnh đạo ?  Benoît de Tréglodé : Người ta vẫn nói với nhau về tham nhũng trên thượng tầng lãnh đạo trong các quán cà phê ở Việt Nam. Mọi người đều biết là tham nhũng tồn tại nhưng đành phải chấp nhận thực tế. Chúng ta vẫn nhớ câu chuyện của bộ trưởng Công An Tô Lâm ăn thịt bò ở Luân Đôn (Anh) với giá cắt cổ. Tất cả mọi người đều biết. Ở Việt Nam, họ truyền nhau video quay cảnh ông Lâm ăn thịt bò dát vàng. Nhưng chuyện đó đã không làm suy yếu hẳn vị thế của bộ trưởng Công An. Từ giờ, cuộc chiến chống tham nhũng nhắm đến những con “cá lớn” theo cách gọi ở Việt Nam, một mặt là để chứng minh đảng Cộng Sản Việt Nam nêu gương và có những biện pháp, đôi khi khá là dân túy, mặt khác là nhằm trấn an người dân về vai trò của đảng, cũng như tham vọng trong việc bảo vệ tư tưởng và sự trong sạch trong đảng. Nhưng không phải ai cũng hoàn toàn bị lừa. Nạn tham nhũng tràn lan ở Việt Nam, từ cấp thấp nhất đến cấp cao nhất. Mọi thứ đều có thể mua được nên người dân Việt Nam biết hệ thống vận hành như thế. Vì thế, để trụ vững, đôi khi chế độ cần lấy vài trường hợp làm gương. RFI : Trả lời nhật báo Pháp Le Monde ngày 19/01, ông nói rằng đánh vào tầng lớp tinh hoa vẫn được coi là thực dụng và cởi mở với phương Tây cũng có thể được hiểu là “một hành động chính trị thể thiện thực tâm của Việt Nam với Bắc Kinh, rằng Việt Nam không đến mức nhạy cảm với tiếng gọi của Hoa Kỳ đến vậy”. Xin ông giải thích thêm về nhận định này ! Chủ trương đó có tác động đến những dự án hợp tác, đặc biệt là về kinh tế, năng lượng, mà Mỹ dự tính ở Việt Nam ? Benoît de Tréglodé : Phải xem xét vấn đề này trong toàn cảnh. Mối quan hệ bất cân xứng về kinh tế vẫn tồn tại giữa Việt Nam và Trung Quốc, cùng với việc Bắc Kinh ngày càng khai thác quan hệ thương mại song phương với Hà Nội vào các mục đích chiến lược, dần khiến Việt Nam phải gộp thêm vấn đề an ninh quốc gia vào việc quản lý mối quan hệ kinh tế với nước láng giềng. Việt Nam đang ở thế khó. Trung Quốc là đối tác thương mại quan trọng, là nguồn nhập khẩu hàng đầu của Việt Nam từ nhiều năm nay và cũng là một nhà đầu tư lớn. Việt Nam dần bị phụ thuộc một phần nguồn cung vào Trung Quốc. Về thực tiễn mà nói, do thực tế kinh tế, một chính phủ cũng không thể có mối quan hệ quá phức tạp với các đối tác kinh tế lớn này. Với Hoa Kỳ cũng tương tự. Mỹ là đối tác thương mại lớn thứ ba của Việt Nam. Cho nên, phải nhắc lại một lần nữa là Hà Nội và đội ngũ lãnh đạo không thể đưa ra lựa chọn ý thức hệ liên quan đến những gì đang bị đe dọa, ở đây là tăng trưởng kinh tế của đất nước và ổn định xã hội. Có thể thấy là Việt Nam đang cùng lúc thử các đối tác thương mại quan trọng của họ bằng cách từ giờ thêm khía cạnh an ninh quốc gia nhiều hơn trước đây, nhưng thực sự vẫn không thể chọn bên này hay bên kia. Việc Mỹ-Trung gia tăng tranh chấp thương mại hoặc có mối quan hệ căng thẳng không có lợi nhiều cho Việt Nam. RFI : Một trong những đồn đoán, cũng được ông nêu với báo Le Monde, là có khả năng bộ trưởng Công An Tô Lâm sẽ trở thành chủ tịch nước Việt Nam. Nếu đúng như vậy thì sẽ có hai nhà lãnh đạo xuất thân từ ngành công an. Một chính phủ như vậy, song song với vấn nạn tham nhũng trên thượng tầng lãnh đạo, có làm lung lay niềm tin vào Việt Nam của các nhà đầu tư nước ngoài ? Benoît de Tréglodé : Câu hỏi tiềm ẩn sau vấn đề này là còn phải chờ xem ông Nguyễn Phú Trọng phê duyệt kế hoạch về điểm này của ông Tô Lâm như thế nào. Đúng là đang có sự thay đổi. Hiện giờ, tổng bí thư đảng thấy ở bộ trưởng Công An một đồng minh có chung niềm tin là bảo vệ ý thức hệ của hệ thống. Tiếp theo, chuyện ảnh hưởng của bộ Công An gia tăng trong bộ máy Nhà nước Việt Nam là điều đáng chú ý mà chúng ta vẫn theo dõi và thấy có nhiều thay đổi trong những năm gần đây. Thủ tướng hiện nay cũng từng là cán bộ trong bộ Công An. Người thay thế thứ trưởng vừa bị mất chức ở bộ Ngoại Giao hồi đầu tháng 01/2023 dường như cũng là một người thân cận của ủy viên bộ Chính Trị, bộ trưởng Công An. Có thể thấy xu hướng này diễn ra bởi vì nó triển khai mong muốn thực sự của Bắc Kinh và Hà Nội : Làm cách nào đó để có một số lĩnh vực chung, có thể chia sẻ được. Những ưu tiên lớn trong trường hợp này là bảo vệ vai trò của đảng trong xã hội và duy trì trật tự xã hội. RFI : Như ông vừa nói, có thể thấy sức ảnh hưởng của bộ Công An trong chiến dịch bài trừ tham nhũng của đảng Cộng Sản Việt Nam, trong khi lãnh đạo đảng cũng duy trì đường lối hữu hảo với “anh cả” Trung Quốc. Hai yếu tố này tác động như nào đến giới đầu tư nước ngoài, nhất là phương Tây, trong khi Việt Nam không ngừng thu hút đầu tư nước ngoài trong những năm gần đây ? Benoît de Tréglodé : Khi nghiên cứu về chế độ chính trị Việt Nam, các nhà phân tích thường cố tìm sự tồn tại của các yếu tố, như “thân phương Tây” hoặc “thân Trung Quốc”. Tôi thấy phân tích này không đúng trong trường hợp của Việt Nam. Nhưng đúng là trong những năm gần đây, chúng ta thấy có sự gia tăng ảnh hưởng của bộ Công An cũng như người của bộ này, đặc biệt người đứng đầu là tướng Tô Lâm có sức ảnh hưởng lớn. Sức ảnh hưởng này được hiểu theo hai cấp độ. Trước tiên là ở mức tham vọng của một cá nhân. Chúng ta nhớ là trong Đại hội đảng Cộng Sản Việt Nam lần trước, ông Tô Lâm khao khát vị trí của ông Nguyễn Phú Trọng. Ông mơ được làm tổng bí thư. Và tham vọng này vẫn còn đó. Người ta cũng thấy ông Tô Lâm có khả năng làm chủ tịch nước. Thường thì việc đó sẽ được quyết định khi hai thành viên mới của bộ Chính Trị được lựa chọn vào tháng 04 tới, sau đó việc bổ nhiệm phải được thông qua ở Quốc Hội vào tháng 05. Có thể nói, khía cạnh tham vọng cá nhân này rất quan trọng. Điểm thứ hai, có thể thấy rõ hiện nay, những hoạt động dồn dập của các nước phương Tây, đặc biệt là Hoa Kỳ đối với Việt Nam, trong khuôn khổ chính sách Ấn Độ-Thái Bình Dương, có ý nghĩa vô cùng quan trọng để hiểu xem Trung Quốc phản ứng như thế nào với chuyện này. Dĩ nhiên là Bắc Kinh phản đối nhưng không thể làm quá. Và Việt Nam lợi dụng sự chống ảnh hưởng của phương Tây đối với Bắc Kinh để có thể có thêm khả năng hành động trước Trung Quốc. Đó là kiểu trò chơi “mèo vờn chuột”. Trong bối cảnh như vậy, dĩ nhiên Việt Nam phải đưa ra các cam kết cho Trung Quốc để chứng tỏ rằng Hà Nội chưa sẵn sàng đổi bên hoặc xích lại quá gần với những yêu cầu của phương Tây và của Mỹ. Đó mới là chính sách thực thụ. Sẽ không có thay đổi trong Hiến Pháp hay trong việc thực hiện chính sách đối ngoại của Việt Nam. Đó là trò chơi cân bằng giữa hai nước lớn. Và vị trí địa lý không thay đổi được (sát với Trung Quốc) không cho phép Việt Nam làm khác đi. RFI Tiếng Việt chân thành cảm ơn giám đốc nghiên cứu Benoît de Tréglodé, Viện Nghiên cứu Chiến lược (IRSEM), Trường Quân sự Pháp.
2/13/202310 minutes, 37 seconds
Episode Artwork

Thanh trừng chống tham nhũng : Ban lãnh đạo Việt Nam sẽ nghiêng về Trung Quốc nhiều hơn?

Vào tháng trước, chỉ vài ngày trước Tết Nguyên Đán, 17/01/2023, một sự kiện chưa từng có ở Việt Nam đã thu hút sự chú ý của báo chí quốc tế: Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc đã buộc phải từ chức trong khuôn khổ chiến dịch chống tham nhũng do tổng bí thư đảng Cộng Sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng phát động. Đây là lần đầu tiên ở Việt Nam, một chủ tịch nước phải “xin thôi” giữ chức lúc đương nhiệm.  Về mặt chính thức, ông Nguyễn Xuân Phúc buộc phải từ chức như vậy là vì ông phải “chịu trách nhiệm chính trị”, do trong thời gian làm thủ tướng từ năm 2016 đến năm 2021, ông đã “để nhiều cán bộ, trong đó có 2 phó thủ tướng, 3 bộ trưởng có vi phạm, khuyết điểm, gây hậu quả rất nghiêm trọng”. Trước ông Nguyễn Xuân Phúc, hai phó thủ tướng Phạm Bình Minh và Vũ Đức Đam cũng đã buộc phải “xin thôi” giữ chức vào cuối tháng 12 năm ngoái do bị dính líu đến các vụ tham nhũng. Những đảo lộn trong thành phần lãnh đạo tối cao của Việt Nam hiện vẫn là đề tài bàn luận của báo chí quốc tế, đặc biệt họ quan tâm đến tác động đối với đường lối ngoại giao của Việt Nam. Asia Times: Việt Nam theo gương Trung Quốc  Trang Asia Times ngày 02/02/2023 có đăng một bài phân tích của ông M.K. Bhadrakumar, nguyên là một nhà ngoại giao Ấn Độ, với tựa đề “ Việt Nam thấy một tương lai chung với Trung Quốc hơn là với Hoa Kỳ” ( Vietnam sees a shared future more with China than US ).  Theo nhận định chung của ông M.K. Bhadrakumar, cuộc thanh trừng chống tham nhũng của tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng cho thấy Việt Nam đang đi theo hướng nặng về ý thức hệ hơn và bớt thân phương Tây hơn. Tác giả bài viết ghi nhận: “ Nỗ lực chống tham nhũng kéo dài hàng thập kỷ do tổng bí thư đảng Cộng Sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng phát động đã tăng tốc trong những năm gần đây và dường như được thúc đẩy bởi những mối quan tâm rất giống với những mối quan tâm của đảng Cộng Sản Trung Quốc và chủ tịch Tập Cận Bình. Về cơ bản, động lực của chiến dịch này là tính chính đáng của đảng Cộng Sản Việt Nam với tư cách là đảng cầm quyền.” Theo ông, đảng Cộng Sản Việt Nam đang nhìn sang phía “đàn anh” đảng Cộng Sản Trung Quốc vốn đã định hướng cho giai đoạn phát triển kinh tế kế tiếp với mục tiêu trở thành “một cường quốc xã hội chủ nghĩa hiện đại” ( mục tiêu được đề ra tại Đại hội đảng Cộng Sản Trung Quốc năm 2021 ). Ông M.K. Bhadrakumar khẳng định : “Không hề là ngẫu nhiên khi các lãnh đạo đảng bị cách chức chủ yếu là thuộc phe “thân phương Tây” hoặc là những thành phần kỷ trị, và điều này có thể cho thấy là ông Nguyễn Phú Trọng quan tâm đến sự toàn vẹn về tư tưởng và cũng như về đạo đức của đảng."  Còn ông Nguyễn Xuân Phúc trong thời gian làm thủ tướng ( 2016-2021 ) được nhiều người xem là đã thúc đẩy các cải tổ tạo thuận lợi cho giới doanh nghiệp. Tác giả bài viết trích một bình luận trên trang web của đài phát thanh Deutsche Welle vào tháng trước, mô tả ông Phúc là một “lãnh đạo nghiêng về phương Tây”:  “Quan hệ về mặt doanh nghiệp và chính trị giữa Việt Nam với các nước phương Tây đã được cải thiện đáng kể trong những năm gần đây. Nhưng ban lãnh đạo đảng Cộng Sản Việt Nam vẫn hoài nghi về ý định của phương Tây. Nhiều người trong số họ lo sợ rằng các nền dân chủ phương Tây đang nhắm đến việc thay đổi chế độ ở quốc gia độc đảng này và họ lên án các tổ chức nước ngoài vẫn rao giảng cho chính phủ về nhân quyền. Bộ máy công an, mà thế lực đang lên, được cho là cảnh giác nhất với các nền dân chủ phương Tây.”   Theo ghi nhận của ông M.K. Bhadrakumar, một số nhà phân tích phương Tây so sánh sự khẳng định quyền lực của ông Nguyễn Phú Trọng với việc củng cố quyền lực ở Trung Quốc dưới thời Tập Cận Bình. Tác giả bài viết trích dẫn ông Bill Hayton, một nhà quan sát và tác giả nổi tiếng về Việt Nam (Vietnam: The Rising Dragon) tại Chatham House (Viện nghiên cứu Quốc tế Hoàng gia Anh) ở Luân Đôn, đã lưu ý một cách mỉa mai rằng các nhà lãnh đạo Việt Nam coi đảng Cộng Sản Trung Quốc “như một người bạn trong cuộc đấu tranh của họ để duy trì quyền kiểm soát Việt Nam.” Hayton nhấn mạnh: “Tôi nghĩ đó là một lời cảnh báo rằng những người này thực sự không vội vã coi Hoa Kỳ là đồng minh hay bất cứ điều gì tương tự, họ coi Trung Quốc là một đối tác ý thức hệ hơn là Mỹ.” Theo ông M.K. Bhadrakumar, mối lo ngại thực sự của phương Tây là sự cân bằng quyền lực trong đảng Cộng Sản Việt Nam và trong chính phủ hiện nay có thể có lợi cho Trung Quốc và Nga hơn. Tác giả bài viết trên Asia Times ghi nhận là cuộc thanh trừng trong ban lãnh đạo Việt Nam đã diễn ra khi ông Nguyễn Phú Trọng vừa trở về sau chuyến thăm “thành công” ở Trung Quốc cuối tháng 10 đầu tháng 11 năm ngoái. South China Morning Post: Ban lãnh đạo mới thiếu kinh nghiệm ngoại giao Tờ nhật báo Hồng Kông South China Morning Post cũng quan ngại về tác động của cuộc thanh trừng chống tham nhũng ở Việt Nam đến chính sách ngoại giao của Việt Nam trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược Mỹ-Trung.  Trong một bài đăng mạng ngày 24/01/2023, tờ báo viết: “ Khi Việt Nam thanh lọc hàng ngũ lãnh đạo sau chiến dịch trấn áp tham nhũng, nhiều câu hỏi đã được đặt ra về sự thiếu kinh nghiệm của ban lãnh đạo mới về chính sách đối ngoại và điều đó có thể ảnh hưởng như thế nào đến khả năng của Việt Nam đối phó với các thách thức ngoại giao trong bối cảnh cạnh tranh Mỹ-Trung” South China Morning Post trích dẫn ông Hà Hoàng Hợp, nghiên cứu viên cao cấp tại Viện Nghiên cứu Đông Nam Á, Singapore, ghi nhận :“Dưới sự lãnh đạo về đối ngoại của thủ tướng Phạm Minh Chính, quan hệ Việt Nam-Hoa Kỳ và chính sách theo hướng phòng ngừa rủi ro của Việt Nam đối với Trung Quốc sẽ không thay đổi”. Bảo tồn các mối quan hệ hiện tại là một bài toán nan giải đối với Việt Nam, vốn đang xem xét khả năng chuyển từ quan hệ đối tác toàn diện sang quan hệ đối tác “chiến lược” với Hoa Kỳ, nhưng vẫn duy trì quan hệ thân hữu với Trung Quốc, quốc gia láng giềng của Việt Nam và cũng là đối tác thương mại lớn nhất. Tờ nhật báo Hồng Kông trích dẫn ông Nguyễn Khắc Giang, nhà nghiên cứu tại Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế và Chiến lược Việt Nam, cho rằng năng lực của tân chủ tịch nước sẽ không có tác động đáng kể đến định hướng chính sách đối ngoại của Việt Nam, vì chức vụ này “phần lớn mang tính hình thức”. Ông Giang nhắc lại chính sách đối ngoại của Việt Nam được quyết định tập thể và đã được Đại hội Đảng năm 2021 đề ra và khó có thể đổi hướng. Tuy nhiên, sự ra đi của hai ông Nguyễn Xuân Phúc và Phạm Bình Minh, cả hai đều đóng “vai trò quan trọng trong thành công ngoại giao của Hà Nội trong những năm gần đây", có thể làm giảm khả năng của Việt Nam giữ thế cân bằng trước cuộc cạnh tranh giữa các cường quốc, cũng như giải quyết các tranh chấp chủ quyền Biển Đông. Mô tả sự thiếu kinh nghiệm về chính sách đối ngoại của Trần Lưu Quang ( được bổ nhiệm thay thế ông Phạm Bình Minh làm phó thủ tướng ) là điều “đáng lo ngại”, Zachary Abuza, giáo sư về an ninh chiến lược tại Đại học Chiến tranh Quốc gia ở Washington, dự báo bộ trưởng Ngoại Giao Bùi Thanh Sơn có thể là "người ra đi tiếp theo”, do vai trò của ông với tư cách bộ trưởng trong vụ tai tiếng “chuyến bay giải cứu”. Cũng theo giáo sư Abuza, nếu bộ trưởng Công An Tô Lâm trở thành chủ tịch nước, sẽ có “sự thiếu hụt thực sự kinh nghiệm về chính sách đối ngoại trong giới lãnh đạo cấp cao”.  Le Monde : Ảnh hưởng ngày càng mạnh của phe thân Bắc Kinh  Tờ nhật báo Le Monde của Pháp ngày 19/01/2023, cũng đã có bài viết tựa đề “ Ở Việt Nam, vụ cách chức chủ tịch nước cho thấy ảnh hưởng ngày càng mạnh của các lãnh đạo thân Bắc Kinh”. Theo Le Monde, “thông qua cựu thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc và hai phó thủ tướng của ông, chế độ cũng trừng phạt ba nhân vật nổi tiếng là thực dụng, và là những người tham gia nhiều nhất vào việc quản lý đất nước kể từ năm 2016." Trong giai đoạn này, kinh tế Việt Nam đã tăng trưởng mạnh mẽ (8% vào năm 2022), trong bối cảnh mở cửa ngày càng nhiều đối với đầu tư nước ngoài và mở cửa với phương Tây, đầu tiên là với Hoa Kỳ, quốc gia mà kể từ thời tổng thống Obama và nhất là kể từ thời chính quyền Biden đã vận động để củng cố quan hệ với Việt Nam. Le Monde nhắc lại: Phó thủ tướng bị cách chức Phạm Bình Minh từng là bộ trưởng Ngoại Giao từ 2011 đến 2021. Cũng là ủy viên Bộ Chính Trị, ông là một trong số ít lãnh đạo từng du học tại Hoa Kỳ. Tờ báo trích lời Benoît de Tréglodé, chuyên gia về Việt Nam và giám đốc nghiên cứu tại Viện Nghiên cứu Chiến lược của Trường Quân sự (Irsem), giải thích: “Ta chỉ cần nhìn xem những lãnh đạo bị cách chức đã được thay thế bởi ai. Trong số các phó thủ tướng mới có một "nhà tư tưởng kiên định". Trong khi đó, thủ tướng đương nhiệm Phạm Minh Chính, người thay thế Nguyễn Xuân Phúc khi ông trở thành chủ tịch nước vào năm 2021, đã dành toàn bộ sự nghiệp của mình cho bộ máy tình báo và công an, tức là bộ đặc trách duy trì trật tự và đàn áp chính trị." Chuyên gia Benoît de Tréglodé giải thích : “Trong vài năm nay, chúng ta đã chứng kiến ​​​​sự gia tăng thực sự về sức mạnh của bộ máy công an. Theo ông, hiện tượng này phản ánh cả một cuộc đấu đá để giành quyền kế nhiệm tổng bí thư, chức vụ mà đương kim bộ trưởng Công An Tô Lâm rất muốn nắm. Từ đây đến đó, ông được cho là sẽ được giao chức chủ tịch nước. Đấu đá nội bộ cũng phản ánh một mối căng thẳng về định vị chiến lược của Việt Nam." Theo cái nhìn của ông Benoît de Tréglodé, theo truyền thống, công an là "ngành có nhiều hợp tác với Trung Quốc nhất, là ngành mà hai đảng Cộng Sản Trung Quốc và Việt Nam dễ nhất trí với nhau nhất về cách tốt nhất để giữ quyền lực”. Vị chuyên gia Pháp cho rằng những cuộc thanh trừng ở cấp cao nhất này nhắm vào một tầng lớp lãnh đạo được coi là thực dụng và cởi mở với phương Tây, do đó có thể được coi là một "cử chỉ thiện chí về chính trị của Việt Nam đối với Bắc Kinh, rằng Việt Nam không dễ bị Mỹ lôi cuốn". Jakarta Post: Ổn định chính trị của Việt Nam là cần thiết Tờ Jakarta Post của Indonesia ngày 30/01/2023 cũng bày tỏ quan ngại về tác động của thanh trừng chống tham nhũng đối với ASEAN Tờ báo cho rằng : “Với tư cách là chủ tịch luân phiên của ASEAN năm 2023, Indonesia sẽ cần quan tâm nhiều hơn đến những diễn biến chính trị ở Việt Nam. Cho đến nay, ít nhất là đối với những người bên ngoài, không có dấu hiệu đáng lo ngại nào từ Hà Nội trong cuộc tranh giành quyền lực trong giới lãnh đạo chính trị. ASEAN đã rất ngạc nhiên trước việc chủ tịch Việt Nam Nguyễn Xuân Phúc đột ngột từ chức hồi đầu tháng 1 trong bối cảnh nước này đang tăng cường trấn áp tham nhũng.” Jakarta Post nhắc lại, chỉ một tháng trước khi từ chức, ông Phúc đã đến Indonesia để hội đàm với tổng thống Joko Widodo để ký kết thỏa thuận lịch sử về Vùng Đặc quyền Kinh tế (EEZ) vùng biển Natuna giữa hai nước, một thỏa thuận mang tính lịch sử, đạt được sau 12 năm đàm phán. Tờ báo nhấn mạnh “một nước Việt Nam ổn định về chính trị là một yếu tố cần thiết để duy trì hòa bình và ổn định trong khu vực. Chúng ta đều mong rằng giới lãnh đạo của đảng ở Việt Nam sẽ tìm ra giải pháp đôi bên cùng có lợi vì lợi ích của người dân Việt Nam, của ASEAN và của thế giới.”
2/6/20239 minutes, 3 seconds
Episode Artwork

Chiến tranh Việt Nam : Vai trò của Pháp trong Hiệp định Paris 1973

Ngày 27/01/1973, cách đây đúng 50 năm, Hiệp định về Việt Nam được ký ở Paris sau gần 5 năm đàm phán, bắt đầu từ ngày 13/05/1968. Dân tộc Việt Nam đã khiến đế quốc Mỹ phải khuất phục, theo nhật báo Cộng sản của Pháp L’Humanité, trong số kỷ niệm 40 năm ngày ký Hiệp định Paris, nhưng thực tế, phải chờ hai năm sau, chiến tranh mới chính thức chấm dứt, do Washington tiếp tục hậu thuẫn, vũ trang cho chính quyền Việt Nam Cộng hòa. Trong suốt thời gian đàm phán tại Paris, chính phủ Pháp đã đóng vai trò quan trọng, từ công tác hậu cần đến những ý tưởng được đưa vào Hiệp định Paris. Giáo sư lịch sử đương đại Pierre Journoud, Đại học Paul Valéry - Montpellier III phân tích vai trò của Pháp trong buổi phỏng vấn với RFI Tiếng Việt nhân 50 năm ký Hiệp định Paris. RFI : Xin ông cho biết lý do và bối cảnh diễn ra Hội nghị 1973 tại Paris !  Giáo sư Pierre Journoud : Hội nghị năm 1973 diễn ra tại Paris sau gần 5 năm đàm phán công khai bí mật và riêng tư. Nếu Paris được các bên trong cuộc xung đột - Hoa Kỳ và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cùng với đồng minh của mỗi bên - lựa chọn là bởi vì Pháp theo đuổi một chính sách ngoại giao mà sau này được đánh giá là "tạo điều kiện thuận lợi" với sự pha trộn giữa ngoại giao công khai, ngoại giao bí mật để đẩy nhanh việc kết thúc chiến tranh.  Chính sách này đã được tướng De Gaulle triển khai rõ ràng ngay năm 1965-1966, với những lá thư trao đổi với chủ tịch Hồ Chí Minh, với bài diễn văn Phnom Penh năm 1966, cũng như những trao đổi rất sâu sắc về kế hoạch ngoại giao không chỉ với các quốc gia tham chiến mà cả các cường quốc khu vực và trên quốc tế, như Trung Quốc, Liên Xô… những nước ủng hộ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Tất cả những tương tác giữa ngoại giao công chúng và ngoại giao bí mật đã dẫn đến việc các bên tham chiến chọn Paris để ngồi vào bàn đàm phán. Ngoài ra, hình dạng của chiếc bàn đàm phán cũng là chủ đề của nhiều cuộc trao đổi trong hơn một tháng, cũng như việc xem xét tiếp đón ở đâu, như thế nào các phái đoàn đồng minh, trong đó một bên có Việt Nam Cộng hòa, bên kia có Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam.  Có thể thấy điểm quan trọng đầu tiên là Pháp có chính sách tạo thuận lợi, tiếp đến là các phương tiện liên lạc ở Paris đều được tất cả các đối tác khen ngợi. Và phải kể đến các cơ sở ngoại giao, có nghĩa là tất cả các bên trong cuộc xung đột đều có đại diện, không chỉ Hoa Kỳ, một đồng minh lâu đời của Pháp, thông qua đại sứ quán, mà cả Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với một phái đoàn, hoặc Việt Nam Cộng hòa cũng có một phái đoàn, rồi Mặt trận Dân tộc Giải phóng sau này trở thành Chính phủ Cách mạng Lâm thời miền Nam Việt Nam - GRP - được công nhận thông qua một văn phòng đại diện từ năm 1969. Đây là một yếu tố quan trọng đối với Hà Nội.  Lý do có thể được cho là cuối cùng, đó là sự hiện diện quan trọng của cộng đồng người Việt tại Pháp, đặc biệt là ở Paris. Đó là một cộng đồng tương đối ủng hộ chủ tịch Hồ Chí Minh và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nói chung.  Đây là những lý do giải thích cho việc chọn Paris để tổ chức hội nghị năm 1973, cho dù một số tổng thống Mỹ tỏ ra rất miễn cưỡng, nhất là tổng thống Johnson năm 1968, nhưng sau đó đã được xóa bỏ nhờ một số lập luận của các cố vấn dân sự. Còn tổng thống Nixon, khi lên nắm quyền thì hội nghị đã mở ra ở Paris từ năm 1969, đã có cái nhìn tích cực hơn nhiều về tướng De Gaulle và người kế nhiệm là Georges Pompidou, về nước Pháp nói chung và đóng góp của Pháp. Vì vậy, tổng thống Nixon không bao giờ thắc mắc về việc lựa chọn Paris. Phía miền Nam và miền Bắc Việt Nam cũng tương tự.  RFI : Pháp đã đóng vai trò rất quan trọng trong việc tổ chức hội nghị, cũng như thành công của Hội nghị Paris năm 1973. Vai trò cụ thể của Pháp là gì ?  GS. Pierre Journoud : Đúng, vai trò của Pháp được Mỹ và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa công nhận một cách khá kín đáo trong các trao đổi, thư từ mà tôi tìm thấy trong tài liệu lưu trữ, đặc biệt là của Pháp và Mỹ. Trước tiên, Pháp cung cấp cơ sở vật chất, cụ thể là nơi ăn ở, theo lời một giám đốc phụ trách châu Á của bộ Ngoại Giao Pháp, như nơi ở cho các phái đoàn, phòng họp, bắt đầu với phòng hội nghị quốc tế trên đại lộ Kleber.  Nhưng tôi cho rằng, ngoài mặt vật chất, Pháp đã góp phần nuôi dưỡng đối thoại liên tục. Sau khi nghiên cứu rất nhiều tài liệu, tôi thấy là ngành ngoại giao Pháp rất năng động trong việc bao quát, nỗ lực nắm bắt tình hình chính trị, quân sự trên chiến trường, cố gắng tìm kiếm những thỏa hiệp cần thiết cho thành công cuối cùng của cuộc đàm phán. Một số ý tưởng của Pháp xuất hiện trong quá trình soạn thảo văn bản Hiệp định Paris. Ví dụ một ý tưởng đã được tướng De Gaulle đưa ra từ rất sớm trong bài diễn văn đọc tại Phnom Penh năm 1966 là người Mỹ không thể có một chiến thắng quân sự và họ phải đàm phán. Vì vậy, ông đã sớm nêu lên giải pháp đàm phán trên bình diện ngoại giao và việc Mỹ phải rút quân trong một khung thời gian phù hợp, ấn định.  Ngành ngoại giao Pháp còn đưa ra ý tưởng đàm phán cùng lúc các mặt chính trị và quân sự - điều được thực hiện sau này trong quá trình đàm phán, cũng như ý tưởng trả tự do cho tù binh song song với các cuộc đàm phán. Ngoài ra còn có nhiều ý tưởng khác, như về tính trung lập của bán đảo Đông Dương, đặc biệt là Lào và Cam Bốt.  Có thể thấy quy mô cấp vùng của cuộc đàm phán, kết quả đám phán mà theo tôi, nhờ nỗ lực của một số nhà ngoại giao. Ví dụ trước tiên là Etienne Manac'h, giám đốc phụ trách châu Á của bộ Ngoại Giao Pháp, người đã dành nhiều thời gian nói chuyện trong hậu trường với tất cả các bên Việt Nam và Hoa Kỳ, tiếp theo là người kế nhiệm Henri Froment-Meurice. Ngoài ra, phải kể đến một số nhà trung gian, không phải là những nhà ngoại giao chuyên nghiệp, mà là những nhân vật chính trị hoặc xã hội dân sự ở Pháp. Tôi đặc biệt nghĩ đến Jean Sainteny hay Raymond Aubrac, một người bạn thân của chủ tịch Hồ Chí Minh và đóng vai trò bí mật trong các cuộc đàm phán này cho đến lúc ký Hiệp định Paris năm 1973.  Toàn bộ ngành ngoại giao Pháp không ngừng kêu gọi “Việt Nam hóa hòa bình, chứ không phải chiến tranh”, theo cách gọi của ngoại trưởng Pháp Maurice Schumann. Đây thực sự là kim chỉ nam của ông, cho dù tôi nghĩ đôi lúc là đầy ảo tưởng. Nhưng dù sao, khẩu hiệu đó đã được sử dụng để cụ thể hóa đến cùng mục tiêu đó.  RFI : Hiệp định Paris được ký ngày 27/01/1973, nhưng chiến tranh không kết thúc ngay. Tại sao Hiệp định lại không được tuân thủ ?   GS. Pierre Journoud : Đúng thế, các cuộc giao tranh nhanh chóng tái diễn trên chiến trường. Thỏa thuận đình chiến đã bị vi phạm nhiều lần. Rất khó để biết là ai, khi nào, như thế nào... Nhưng các bên đổ trách nhiệm cho nhau đến mức vào tháng 06/1973, bộ Chính trị quyết định tiếp tục đấu tranh vũ trang, bởi vì đã có quá nhiều vụ vi phạm ngừng bắn. Một lý do khác, có lẽ các điều khoản chính trị của Hiệp định lại khá viển vông vì một trong những điều khoản chính là tập hợp một chính quyền lâm thời gồm 3 thành phần, gồm phía Cộng sản, chống Cộng sản và trung lập. Khi biết lịch sử chiến tranh Việt Nam, chúng ta thấy rằng những người theo Cộng sản và những người chống Cộng đã trải qua nhiều năm chiến tranh chống lại nhau nên có thể nghi ngờ rằng ngồi cùng bàn và suy tính cách cùng nhau quản lý là việc vô cùng khó khăn, nếu không muốn nói là hoàn toàn viển vông. Tôi nghĩ điều mà các nhà đàm phán tìm kiếm có phần nào ảo tưởng, ví dụ ngoại trưởng Mỹ Henry Kissinger với ý tưởng là sẽ có một "khoảng cách hợp lý" (decent interval) theo cách ông gọi với tổng thống Nixon. Có nghĩa là có thể duy trì một miền Nam Việt Nam vẫn độc lập, không theo Cộng sản trong vài năm để giữ thể diện cho Hoa Kỳ. Còn phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cũng mong tạm dừng giao tranh để củng cố lực lượng, tiếp tục cuộc chiến, lần này là giữa người Việt với nhau. Vì thế, những điều khoản chính trị của Hiệp định Paris chưa bao giờ được áp dụng, điều này giải thích cho việc giao tranh nhanh chóng tái diễn. Nhưng tôi nghĩ rằng trách nhiệm đầu tiên là từ phía miền Nam Việt Nam, bên vẫn tìm cách đàm phán lại thỏa thuận tháng 10/1972. Khi biết được những điều khoản chính của Hiệp định này từ ngoại trưởng Henry Kissinger, tổng thống Thiệu của Việt Nam Cộng Hòa lúc đó đã bác bỏ ít nhất 70 yếu tố trong Hiệp định và tìm cách đàm phán lại nhưng Hà Nội từ chối. Đây là lý do dẫn đến chiến dịch ném bom Linebacker II, còn được gọi là Giáng sinh chết chóc 1972 và nối lại các cuộc đàm phán vào cuối năm 1972 - đầu 1973 cho đến khi đúc kết vào tháng 01/1973. Nhưng bộ Chính trị của đảng Cộng sản Việt Nam thấy là đã giành được một thành công chiến lược với Hiệp định Paris và biết rằng việc thống nhất sớm muộn cũng nghiêng về phía họ, trong khi chờ đợi thời cơ thuận lợi để tiếp tục chiến tranh. Trong buổi hội thảo được đại sứ quán Việt Nam tổ chức ngày 18/01/2023 tại Paris, người lái xe của bà Nguyễn Thị Bình cho biết là bà đã nói với ông khi rời khỏi cuộc họp quan trọng hồi tháng 01/1973 rằng "từ giờ chuyện sẽ được giải quyết trong gia đình". Bà biết rõ rằng Hiệp định Paris đã mở ra một giai đoạn mới cho cuộc chiến. Và tôi nghĩ là bà cũng biết rằng Hiệp định sẽ không được tôn trọng lâu. Chuyện đó đã xảy ra. Các vụ vi phạm ngừng bắn liên tục gia tăng, chiến tranh tái diễn cho đến năm 1975. RFI : Như ông vừa nói, cho dù có nhiều nỗ lực nhưng phải chờ đến năm 1975 chiến tranh mới chấm dứt ở Việt Nam. Vậy cụ thể, vai trò của Pháp như thế nào trong hai năm đó ?  GS. Pierre Journoud : Đúng, đây là một câu hỏi ít được nghiên cứu cho đến hiện nay. Trên thực tế, Pháp rất năng động cho đến năm 1973 khi Hiệp định Paris được ký kết, thậm chí là sau đó vì còn có một hội nghị quốc tế được tổ chức ở thành phố La Celle-Saint-Cloud, ngoại ô Paris, để góp phần huy động các Nhà nước, các cường quốc về hòa bình ở Việt Nam. Pháp cam kết hỗ trợ đến 100 triệu franc lúc đó cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và cho chính phủ lầm thời ở miền Nam. Có thể thấy Pháp cam kết rất mạnh mẽ và là một trong những nước châu Âu lúc đó đóng góp nhiều nhất cho việc tái thiết Việt Nam, về tài chính, hoạt động công nghiệp, kinh tế... Đó là cam kết trước tiên về mặt kinh tế. Tiếp theo, Pháp luôn theo dõi sát sao tình hình chính trị và quân sự trên thực địa, nhưng có thể nói là một bước thụt lùi so với chính sách của tướng De Gaulle. Trong thâm tâm, tướng De Gaulle đã chấp nhận rằng việc thống nhất Việt Nam diễn ra dưới quyền của đảng Cộng sản bởi vì theo ông, đó là lực lượng quyết tâm nhất, có tổ chức nhất, thông minh nhất. Và lịch sử đã cho thấy ông có lý. Nhưng vấn đề là tháng 06/1969, Georges Pompidou lên nắm quyền th